THIỀN NGUYÊN THỦY TRONG TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PALI, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHONG TRÀO THIỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Hội thảo “Thiền Nguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại" ngày 22-10-2023 tại Học viện Phật giáo Việt Nam cơ sở 2 TP. HCM

Tóm tắtTrải qua hai sáu thế kỷ tồn tại và phát triển, Phật giáo đã được truyền bá rộng khắp các châu lục. Dân tộc Việt Nam tiếp nhận kho tàng Thánh điển Tam tạng Pāḷi vào những năm đầu thế kỷ XX trong bối cảnh đầy đau thương và mất mát của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Mặc dù vậy, Thánh điển Tam tạng Pāḷi vẫn từng bước phát triển. Chỉ sau gần một thế kỷ tiếp cận truyền thừa giáo pháp Thích Ca, Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho Đạo pháp và Dân tộc. Pháp môn thiền Nguyên thủy đã đem an lạc cho những ai hành trì và các thiền viện trong cả nước vẫn luôn rộng mở chào đón thiền sinh tìm về tu tập. Tiến trình lịch sử của Phật giáo Nguyên thủy người Kinh là minh chứng rõ nét cho nhận định này. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về thiền Nguyên Thủy trong Tam Tạng Thánh điển Pāḷi; Các phương pháp và phong trào thiền tại Việt Nam hiện nay.Từ khóa: Thiền Nguyên thủy, Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi, Phương pháp thiền, Phong trào thiền, Việt Nam.Dẫn nhậpPhật giáo Nguyên thủy người Kinh truyền thừa vào Việt Nam đến nay mới được 85 năm (1938-2023). Mặc dù thời gian vào Việt Nam chưa được lâu so với Phật giáo Bắc tông nhưng Phật giáo Nguyên thủy đã khẳng định được vị trí của mình ngay trong bối cảnh thăng trầm, sóng gió của lịch sử xã hội đương thời. Phật giáo Nguyên thủy người Kinh đem đến cho người dân Nam Bộ một hơi thở tâm linh mới mẻ. Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi đã hòa vào đời sống tâm linh của người dân bản địa, trở thành “món ăn” tinh thần không thể thiếu và thiền là một phần của đời sống ấy.
  1. Thiền Nguyên Thủy Trong Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi
Trong Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi, Thiền đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hành giả chứng thành đạo quả các tầng thiền từ thấp đến cao. Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi đã trải qua kỳ kiết tập lần thứ sáu, Phật lịch 2.500, năm 1954, tại Yangon, Myanmar. Đoàn chư Tăng Phật giáo Nam tông Việt Namngười Kinh được mời tham dự gồm: Tỳ khưu Hộ Tông, Tỳ khưu Hộ Nhẫn,Tỳ khưu Bửu Chơn, Pháp sư Hộ Giác, Pháp sư Thông Kham và Tu nữ Diệu Đáng…Trong đại hội kiết tập thứ sáu Thánh Điển Pāḷi ấy, Tỳ khưu Bửu Chơn đọc diễn văn trong lễ khai mạc bằng tiếng Pāḷi và tiếng Anh. Tỳ khưu Bửu Chơn và Pháp sư Hộ Giác có tên trong danh sách tiếp tục kết tập phần 1 trong 5 phần kếttập, đóng góp cho đại hội kiết tập Tam tạng thêm thành công mỹ mãn.Y cứ các bản kết tập Thánh điển bằng ngôn ngữ Pāḷi này nên các thế hệ sau ở các nước dịch thuật ra ngôn ngữ bản địa, ở Việt Nam từ sau 1976 trở đi Hòa thượng Thích Minh Châu chuyển ngữ tạng Kinh Nikāya sang tiếng Việt. Về tạng luật có Tỳ Khưu Chánh Thân cũng đã chuyển ngữ sang tiếng Việt hoàn chỉnh. Pháp môn thiền được đức Phật thuyết giảng, nằm rải rác trong các bài Kinh trong Tam Tạng Kinh điển của sáu lần kiết tập Thánh điển ấy, nhất là Vi Diệu Pháp được phân tích rõ nét tiến trình tâm đang thế nào và ở đâu của hành giả tu thiền. Ngày nay, pháp môn thiền được các hành giả, học giả và các thiền sư hướng dẫn một cách khá chi tiết, cụ thể góp phần khá thuận lợi cho bất cứ ai muốn tìm về thực hiện pháp học, pháp hành và pháp thành.Hiện nay, Hòa thượng Hộ Pháp có biên soạn ấn phẩm Pháp-Hành Thiền-Định (Samathabhāvanā) và Thiền Tuệ (Vipassanābhāvanā) rất đầy đủ, căn cứ vào đây ta có thể nói Thiền Nguyên thủy trong Thánh Pāḷi bao gồm Thiền Định và Thiền Tuệ. Pháp Hành Thiền Định hình thành ở thế gian trước khi đức Phật ra đời và Ngài áp dụng Thiền Định thành công và truyền dạy lại chúng sanh.“Pháp-hành thiền-định (Samathabhāvanā) là pháp hành có 40 đề-mục thiền-định, hành-giả thuộc về hạng người tam-nhân (tihetukapuggala) thực-hành pháphành thiền-định có khả năng dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện tâm, và đặc biệt hành-giả có khả năng luyện 5 phép thần-thông thế gian (lokiya-abhiññā). Hành-giả có khả năng nhập định (jhānasamāpatti) hưởng sự an-lạc trong kiếp hiện-tại,”[1].“Pháp-hành thiền-tuệ (Vipassanābhāvanā) là pháp hành chỉ có trong Phật-giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật-giáo. Pháp-hành thiền-tuệ có từ khi Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian”[2].Như vậy, về Thiền Nguyên thủy chúng ta chỉ đề cập đến những bài, đoạn Kinh dạy về hai pháp thiền trên trong Thánh điển Pāḷi. Nhiều bài Kinh được biết đến nhiều nhất trong rất nhiều bài ấy bởi tính hữu dụng mà các bài Kinh ấy mang lại.Bài Kinh Đại Niệm Xứ được giảng dạy và vận dụng trong việc tu tập thiền của các hành giả từ xưa đến nay. "...đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ....ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra"[3].Bên cạnh đó, Kinh Pháp Cú có nhiều câu thể hiện rất rõ về thiền, khuyên dạy và khẳng định rằng người tu thiền thường kiên trì tinh tấn và đạt quả vị vô thượng Niết Bàn.
  1. Người hằng tu thiền định,
    Thường kiên trì tinh tấn.
    Bậc trí hưởng Niết Bàn,
    Ðạt an tịnh vô thượng
    .[4]
Các câu Kinh khẳng định rằng người sống một ngày mà có trì giới, có thiền định sẽ có tuệ và hơn hẳn người sống cả trăm năm nhưng ác giới, không trì giới, không thiền định. Hơn nữa người chuyên tu thiền định thích viễn ly, an tịnh và được chư Thiên kính trọng bởi sẽ là người trí tuệ vì người không trí tuệ sẽ không thiền mà không thiền sẽ không có trí tuệ. Người có tu thiền sẽ có trí tuệ và nhất định gần Niết Bàn bởi một ngày nào đó sẽ chứng thành đạo quả. Dưới đây là một số câu trích trong Phẩm Ngàn - Pháp Cú (110, 111); Phẩm Phật Ðà - Pháp Cú; Phẩm Tỷ Kheo - Pháp Cú:110. Dầu sống một trăm năm,
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.
111. Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.
[5]
181. Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.
[6]
  1. Không trí tuệ, không thiền,
    Không thiền, không trí tuệ.
    Người có thiền có tuệ,
    Nhất định gần Niết Bàn.[7]
Ngoài Kinh Pháp Cú ra còn có rất nhiều bài được đề cập đến thiền như Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikāya, T1, Chương I – Hai Pháp: “..Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán… …[8]”. “Chỉ và quán, này các Tỷ-kheo, những pháp này được gọi là những pháp cần phải tu tập với thắng trí…[9]”.Bên cạnh đó, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập 1, Chương I – Một Pháp, XX, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh có đề cập đến Kinh Thân Hành Niệm. “Ðây là một pháp, này các Tỷ-kheo, tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn... , đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát”[10]. Ngoài ra, Trung Bộ Kinh(Majjhima Nikaya) bài Kinh  119. Kinh Thân hành niệm (Kàyagatàsati sutta) cũng đề cập rất chi tiết từ khi bắt đầu cho đến cái quả “…làm cho sung mãn, được kết quả lớn, được công đức lớn” khi thực hành pháp hành của bài Kinh này nhưng khi chuẩn bị hành thiền phải: “…đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà yên tĩnh và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt”[11]. (xin xem hướng dẫn hành thiền phần dưới )Đức Phật xem những thiện nam, tín nữ biết bố thí, trì giới hoặc thiền định và có trí tuệ là người biết khéo để dành kho báu của mình vì Ngài luôn khẳng định rằng tu thiền, trí tuệ sanh không những chư Thiên còn ái kính và ngược lại nếu bỏ không Thiền, trí tuệ diệt.Ngoài ra, còn vô số các bài Kinh được đức Phật thuyết giảng về Thiền cho chúng sanh, nói về sơ thiền, tứ thiền, xin phép được nêu một vài trong số ấy:“- Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y chỉ nơi sơ Thiền, các lậu hoặc được diệt tận". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y chỉ vào Thiền thứ hai, các lậu hoặc được diệt tận". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng" Y chỉ vào Thiền thứ ba, các lậu hoặc được diệt tận". ". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng" Y chỉ vào Thiền thứ tư, các lậu hoặc được diệt tận". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y chỉ vào không vô biên xứ... y chỉ vào Thức vô biên xứ... y chỉ vào Vô sở hữu xứ... Ta nói rằng: “Y chỉ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, các lậu hoặc được đoạn tận…”[12].Có thể nói, từ sơ Thiền đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, các lậu hoặc được đoạn tận nếu ta tu thiền đến giai đoạn này.Như vậy, thiền trong Thánh điển Pāḷi mà chúng tôi đề cập một vài đoạn tiêu biểu trong vô số bài bên trên là Thiền Định và Thiền Tuệ mà trong suốt 45 năm hoằng pháp độ sinh Ngài chỉ dạy chúng sanh nhằm một mục đích duy nhất là thoát khổ. Tuy vậy, để đạt được những thành tựu về thiền thì hành giả phải thực hiện nghiêm túc con đường giải thoát tam học Giới, Định, Tuệ.Phải thực hiện 10 pháp Parami như: 1. Bố thí (xem ảnh 1);  2. Trì giới (phần trang dưới chúng tôi có đề cập); 3. Xuất gia (xem ảnh 2); 4. Trí tuệ ; 5. Tinh tấn; 6. Nhẫn; 7. Chân thật; 8.  Quyết định; 9. Bác ái; 10. Tâm xả. Trong bài Kinh Đại Niết Bàn có đoạn: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.”[13].Phải chọn nơi chốn, vị trí hành thiền, đi đứng nằm ngồi như thế nào cho phù hợp trong từng thời gian nhất định. Đó là thân, còn tâm phải thực hiện như thế nào đòi hỏi chúng ta thực hiện sao cho phù hợp, đó là pháp học, học đúng pháp thì pháp hành, pháp thành mới mong thành tựu.Bên cạnh những điều cần thiết trên còn có năm chi phần để giúp cho hành giả tu thiền thành tựu, đó là:
  1. Lòng tin. Hành giả phải có niềm tin tuyệt đối vào Phật Pháp Tăng. Phải có lòng tin kiên định, trong sạch vững chắc thành tựu chứng đạt ở giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Nếu chúng ta không đủ niềm tin vào Tam Bảo vào thiền thì chúng ta sẽ hoài nghi và khó lòng đạt được mục tiêu hướng đến. Chúng ta phải có lòng tin ở chính chúng ta là đủ sức đi hết con đường của vị thầy của trời của người.
  2. Sức khỏe. Hành giả phải có sức khỏe tốt, ít bệnh gây khó và không thể ngồi yên lưng thẳng mà cứ ho sù xụ hay nhứt mỏi ngứa ngáy khó chịu, chính cái bệnh, cái thọ khổ này sẽ là rào cản hành giả đạt được các thành tựu như mong đợi. Nhiều người ăn kiêng nhằm có sức khỏe để hành thiền. Nhiều người hành thiền bảo rằng sẽ có sức khỏe rất tốt, ăn ngon ngủ ngon, không có bệnh đau nào trong thân, hệ tiêu hóa rất tốt, thân nhiệt không quá nóng hay quá lạnh.
  3. Chân thật. có nghĩa là không nói dối, nói láo khi trình pháp với vị thầy hướng dẫn thiền của mình và bày tỏ điều phù hợp sau khi hành thiền.
  4. Tinh cần. là siêng năng tu tập hành thiền và không phút giây nào ngưng trệ dễ nảy sinh pháp bất thiện và trở nên lười nhác cho nên phải thiết lập tâm tinh tấn vững chắc, thể hiện nghị lực vững vàng nhằm đạt được định và sâu nếu không lâu dần chúng ta sẽ thối lui từ bỏ. Hành giả nên thực hành 10 pháp Ba la mật (Parami) một cách tròn đủ nếu muốn thoát khỏi cảnh khổ Ta Bà (trong bài chúng tôi có đề cập), dần dần sẽ có định mạnh hơn.
Tinh tấn tinh cần có 4 chi gồm: ngăn ngừa những pháp ác sanh khởi không cho phát sanh; Diệt trừ không cho pháp ác đó sanh khởi; Thực hành pháp miên mật từ đó những thiện pháp luôn luôn sanh khởi và làm cho ác pháp không có chỗ chen chân khởi lên; Liên tục duy trì liền mạch làm cho ác pháp không thể khởi lên và từ đó không có cơ hội sanh khởi nữa.Tinh tấn tinh cần có mặt hầu hết trong 37 phẩm trợ đạo… Trong Tứ Niệm Xứ có tinh tấn là một trong ba phương tiện tu thiền của hành giả. Tứ Chánh Cần, Chánh Tinh Tấn gồm 4 chi mà chúng tôi đã đề cập là, Ngừa, Trừ, Hành, Trì và có hai loại tinh tấn: bên trong thuộc tâm và bên ngoài thân. Tinh tấn về thân là thân phải liên tục hành thiền trong các thời ấn định nhất định và không được từ bỏ dễ duôi dù mệt mỏi hay buồn ngủ trừ ốm đau. Tinh tấn về tâm là chú tâm vào đề mục đã chọn, không lơ đễnh nhìn ngó chung quanh.Tứ thần túc: Dục, Cần (là tinh tấn), Tâm, Thẩm. Ngũ quyền: Tinh, tấn, niệm, định, tuệ quyền. Ngũ lực: Tinh, tấn, niệm, định, tuệ lực. Thất giác chi: niệm trạch pháp, tinh tấn, hỷ, an, định, xả. Bát chánh đạo, chánh tinh tấn là chi thứ sáu.
  1. Trí. Hành giả phải có trí tuệ quán danh sắc về sanh diệt và sẽ là một người thông minh có đủ khả năng cần đạt. Giai đoạn này hành giả phải tu tập Giới cho thanh tịnh trong sạch, những ham muốn về tham ái về tâm tham được đoạn trừ không còn sanh khởi nữa, lúc ấy giới sẽ dẫn đến định và khi có định hành giả quán danh sắc và thấy được khổ vô thường, vô ngã, khi ấy hành giả có được chi phần của trí hay tuệ. Giống tinh tấn, tuệ hầu hết có trong 37 phẩm trợ đạo như: Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ thần túc, Ngũ quyền, Ngũ lực, Thất giác chi, Thất giác chi và cả trong Vi Diệu Pháp tâm sở trí tuệ trong 52 tâm sở. Người ta thường đề cập đến 3 loại trí trong Phật giáo: nhờ học hỏi gọi là trí văn, do tổng hợp, phân tích vấn đề gọi là trí tư và trí tu nhờ vào hành thiền sau khi có giới có định và có tuệ.
Năm chi phần này cần phải trau dồi liên tục không ngừng nghỉ và dần đạt được thành tựu tự nó nếu không sẽ khó lòng và mất thời gian tu thiền của hành giả vì thế cần phải siêng năng và đạt cho được nếu kiên quyết sẽ thành công…

  1. Các Phương Pháp Và Phong Trào Thiền Tại Việt Nam Hiện Nay
Trải qua trên 2.000 năm sau khi đức Phật nhập diệt, đạo Phật được lưu truyền qua nhiều quốc gia và phân hóa sâu sắc, ở mỗi quốc độ các truyền nhân lại gắn với phong tục tập quán bản địa, từ đó, xuất hiện vô số các phương pháp thiền ra đời do các Tổ thêm thắc từ kinh nghiệm tu thiền chính mình. Việt Nam lâu đời nhất có thiền phái Trúc Lâm Yên Tử từ triều đại nhà Trần (1225-1400), Tổ Sư Thiền, hoặc thiền tông Việt Nam do Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Nhất Hạnh xiển dương, thiền Đại thừa, riêng thiền Nguyên thủy được Tỳ khưu Hộ Tông truyền thừa về Việt Nam y cứ vào Kinh tạng Nykaya và không thay đổi tính nguyên gốc của bản Kinh khi thực hành, tính từ mốc thời gian 1938 sau khi ngôi chùa Bửu Quang ra đời tại Gò Dưa, Thủ Đức, Sài Gòn bấy giờ. Kể từ thời gian này, ngôi Tổ đình được xác lập và là tiền thân của Phật giáo Nam tông Kinh ngày nay chính thức có mặt ở Việt Nam.Như trên có đề cập thiền trong Kinh điển Nguyên thủy Pāḷi có thể chia thành hai hệ thống tương quan lẫn nhau là Thiền Định và Thiền Tuệ dựa vào kinh nghiệm tự thân tu chứng của đức Phật và lấy phương pháp Niệm hơi thở, bài Kinh Tứ Niệm Xứ làm căn bản bởi “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ đau”. Từ Thiền Định và Thiền Tuệ trong tam tạng, các hành giả dựa vào các bản Kinh ấy và hành trì, lấy đó làm Kim Chỉ Nam đưa đường dẫn lối tầm cầu chánh trí. Có người chọn Thiền Định (thiền chỉ) hoặc Thiền Tuệ (thiền quán, Vipassana) do phù hợp với pháp hành của riêng mình, thường các thiền sư Myanmar như Pa Auk, Mahashi… tập trung dạy và tu thiền Vipassana nhiều hơn bởi cách đây hơn 25 thế kỷ do đức Phật giảng dạy pháp thiền Tứ Niệm Xứ và được ghi nhận, kiết tập trong Trường bộ kinh: Kinh Đại Niệm Xứ, trong Trung bộ kinh: Kinh Niệm Xứ và Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm…Tất nhiên, trước khi muốn gia nhập làng thiền, dự khóa thiền, hành giả phải trang bị pháp học nhằm đi tới đích đến thành tựu khi thực hiện pháp hành và pháp thành, nếu không chúng ta cứ loanh quanh cho đời mỏi mệt trong bóng đen đêm tối chập trùng và không nhìn thấy đâu là ánh sáng của bờ giác.Vậy chúng ta phải hiểu Thiền là gì? “Thiền là tập trung tư tưởng trên một đối tượng, nhờ sự tập trung ấy nên có khả năng  thay đổi 5 triền cái là Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Thụy miên, Trạo hối, Hoài nghi bằng 5 thiền chi là Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm (Định)...”[14]. Mục đích của phương pháp thiền là gì? Có phải thanh lọc tâm và diệt trừ phiền não nhằm tiến tới giải thoát? Và giải thoát khỏi cái gì? Khỏi các chấp thủ, khỏi buồn rầu đau khổ, những tà kiến sai lầm và đặc biệt thoát khỏi luân hồi sanh tử? Nếu đúng mục đích và phương pháp ta cần thì đó là cái chúng ta chọn, còn không ngược lại không chọn bởi giáo pháp của đức Phật chỉ là người chỉ đường, bậc Đạo Sư hướng dẫn phương pháp để chúng ta tự lực cánh sinh dựa vào sức mình giải thoát là chính, Ngài không phải là bậc toàn năng cứu rỗi cho bất kỳ chúng sanh nào cả. Ai ăn nấy no ai tu nấy chứng là vậy.Thiền Định (thiền chỉ) hoặc Thiền Tuệ (thiền quán, Vipassana) hai phương pháp thiền này rất khác nhau, phải xem xét nhiều góc cạnh mới có thể phân biệt và thực hành đúng được, nếu không, lẫn lộn thực hành sẽ không có kết quả. Chẳng hạn như ta xem xét: a. Đối tượng; b. Phương tiện; c. Phương pháp; d. Diễn tiến; e. Phận sự; f. Kết quả.
  • Thiền Tuệ (thiền quán, Vipassana): Việc thực hành nhằm vào sự phát triển một trạng tháitâm an định làm phát sanh trí tuệ. Thiền Tuệ được xem như cánh cửa đi vào giải thoát mọi khổ đau và ràng buộc. Thiền tuệ được công nhận của đức Phật sau khi Ngài tu chứng và truyền dạy lại và là một đặc điểm của đạo Phật. Hai loại thiền này được tu tập cùng tạo cho sự giác ngộ thuận lợi hơn cho hành giả. Nhờ tu tập định và được làm chói sáng của tu tập tuệ, hành giả có thể tiến đến đoạn trừ khổ đau mà không bị một chướng ngại nào.
  1. Đối tượng Chân đế: gồm 4 đề mục Thân, Thọ, Tâm, Pháp; b. Phương tiện, Tinh tấn, Chánh niệm tỉnh giác; c. Phương pháp: ghi nhận hơi thở vào ra nơi mũi; d. Diễn tiến: Chánh niệm tỉnh giác trên đề mục phồng xẹp hay hơi thở hoặc đi đứng nằm ngồi và bất kỳ cử động nào trên thân; e. Phận sự: chế ngự năm triền cái (Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Thụy miên, Trạo hối, Hoài nghi); f. Kết quả: “bảy năm … có thể chứng một trong hai quả ngay trong đời hiện tại: một là vô lậu chánh trí nếu không thì quả bất hoàn. Nầy các Tỳ Khưu, không nhất thiết phải tu tập đến bảy năm, ... trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm hoặc bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng thậm chí bảy ngày có thể chứng đắc một trong hai quả vô lậu chánh trí hoặc quả bất hoàn”[15]
  • Thiền Định (thiền chỉ): nhằm vào việc phát triển tuệ giác để thấu triệt mọi hiện tượngvà khẳng định một vị trí trong tiến trình thiền định.
  1. Đối tượng Tục đế, gồm 40 đề mục: (10 đề mụcKasiṇa(biến xứ), 10 bất tịnh tướng, 10 tùy niệm, 4 phạm trú, 4 vô sắc xứ, một tưởng (vật thực bất tịnh), một đề mục phân tích tứ đại); b. Phương tiện, tinh tấn, niệm và tỉnh giác; c. Phương pháp: chọn lựa trước một đối tượng duy nhất trong 40 đề mục; d. Diễn tiến: chú tâm trên đề mục duy nhất đã chọn; e. Phận sự: khắc chế năm triền cái tạm thời trong thời gian nhất định (Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Thụy miên, Trạo hối, Hoài nghi); f. Kết quả: tâm định và chứng đắc sơ thiền.
Chúng ta phải căn cứ vào phương pháp thiền của Như Lai mà Ngài đã dạy và được kiết tập trong tam tạng Kinh điển mới mong đợi thành tựu bởi các pháp chứa đựng nhiều khía cạnh trong đó có mục đích, phương pháp, đề mục và tiến trình từng bước sự phát triển của thiền từ thấp đến cao.Cái chính của hai hệ thống Thiền Định, Thiền Tuệ là bốn bậc thiền chứng biểu thị bằng số như sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Muốn đắc các bậc thiền trên hành giả phải giữ giới trong sạch, diệt trừ các bất thiện pháp như năm triền cái. Trong kinh điển tầm quan trọng của bốn thiền được đề cập thường xuyên trên lộ trình giải thoát của đạo Phật qua việc nó xuất hiện  trong kinh nghiệm của đức Phật và trong những lời dạy của Ngài với các đệ tử. Trong kinh điển, đức Phật khích lệ tu tập thiền định và bốn thiền hữu sắc. Thiền định được đề cập trong tiến trình tự tu tập như tăng thượng tâm họchay chánh định của Bát Thánh Đạo và định căn, định lực. Mặc dù trong kinh điển một đôi chỗ đề cập đến thiền Minh Sát.Điều đầu tiên, chúng ta muốn hành thiền nếu chưa biết gì phải tham dự một khóa thiền do các tự viện tổ chức, có mời các thiền sư nước ngoài hướng dẫn còn đã biết thì cứ thế hành trì như chúng ta đã biết. Trước khi hành thiền chúng ta phải có sự chuẩn bị chu đáo về nhiều mặt, trong đó, phải thanh tịnh giới hạnh (mà chúng tôi cũng hay nhắc lại và nhấn mạnh vì đấy là yếu tố cần) nhằm hỗ trợ cho định nếu muốn chứng đắc thiền phải tự đặt mình vào giới luật vững chắc. Đó là giữ 5 giới không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và các chất say hay nhiều hơn càng tốt qua đó có thể thực hiện được những tiến bộ đáng kể cho hành giả với sự ràng buộc của 5 giới này và cắt hết chướng ngại ảnh hưởng đến bước đường tu hành, từ đó dẫn đến hoan hỷ làm tâm thanh tịnh và cuối cùng sẽ định. Năm giới nguyên tắc này là những buộc ràng như là bổn phận đạo đức tối thiểu với mọi người thực hành theo giáo pháp Như Lai. Với những ai muốn chứng đắc thiền cao hơn, hoặc muốn giải thoát thì phải thọ trì giới luật cao hơn, phải xuất gia với 227 giới. Trong Phật giáo Nguyên thủy, đời sống tại gia luôn có những hạn chế dù người cư sĩ vẫn có thể thành thục cả hai pháp học định và tuệ, thậm chí đắc chứng đạo quả siêu thế, song đời sống người cư sĩ khiếm khuyết, hạn chế hơn so với đời sống người xuất gia về nhiều phương diện, trong đó môi trường sống, trú xứ và đời sống phạm hạnh. “Có hai loại lạc này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Lạc tại gia và lạc xuất gia. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai lạc. Tối thắng trong hai lạc này, này các Tỷ-kheo, tức là lạc xuất gia.[16]”Như vậy, người xuất gia vẫn tối thắng hơn người tại gia bởi những điều kiện cần và đủ đáp ứng tốt hơn, ai nói rằng tu đâu không bằng tu nhà…, trường hợp này sai hoàn toàn. Trong Kinh đề cập đến những hạn chế của đời sống tại gia như sau: "Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình"[17].Năm giới thanh tịnh đã thiết lập, hành giả phải cắt đứt những chướng ngại gây trở ngại đến quá trình thiền quán độc cư tại trú xứ. Khoảng chín chướng ngại hoặc nhiều hơn: trú xứ, gia đình, lợi dưỡng, lớp học, xây dựng, du lịch, quyến thuộc, ưu não, sách vở…
  1. Trú xứ, Những gì gắntiện nghi và đời sống định cư thoải mái như máy lạnh, tủ lạnh…phải từ bỏ vì sẽ bị chướng ngại do dính mắc trú xứ và tìm nơi vắng vẻ, độc cư  tu tập.
  2. Gia đình, thân bằng quyến thuộcnhư cha mẹ anh em hoặc người hộ tăng. Bởi sẽ dính mắc tình cảm với họ, hãy chuyển đến trú xứ khác, cơ hội kia không xảy ra.
  3. Lợi dưỡng, là bốn vật dụng, vật chất thức ăn và nước uống bổ dưỡng. Một vị Tỳ khưuđược cư sĩdâng cúng tứ vật dụng, hành giả phải thuyết pháp và tụng kinh phúc chúc, hành thiền phần nào chướng ngại, hành giả nên đến trú xứ thanh vắng.
  4. Lớp học, Tỳ kheoluôn bận rộn chỉ dẫn đệ tử, phải giao nhóm đệ tử cho một vị thầy khác và ra đi tìm nơi hành thiền độc cư vắng vẻ.
  5. Xây dựng, đang xây dựng công trình gì đó, nên bàn giao công việc cho người khác điều hành.
  6. Du lịch,là đang đi Phật sự nơi nào đó phải hủy bỏ để có nơi cư trú ổn định cho việc hành thiền.
  7. Quyến thuộc, giáo thọ sư hay cha mẹ đau ốm, một làchăm sóc lành bệnh, hoặc giao công việc ấy cho ai đó.
  8. Ưu não,đang đau khổ do phải điều trị bệnh, nếu không lành cứ kiên trì tu tập mặc cho bệnh hoạn cho đến khi nào hết chịu đựng được thì thôi.
  9. Sách vở, Hành giảphải dừng nghiên cứu và tụng đọc kinh điển trong suốt giai đoạn hành thiền miên mật.
Cuối cùng, hành giả phải tìm, chọn một nơi hành thiền tốt nhất có thể, ngày nay các thiền viện, chùa tháp thường xuyên mở ra cơ hội cho quần chúng tín đồ Phật tử hành thiền tại bổn tự với các khóa thiền 10 ngày hay lâu hơn do các thiền sư từ các nước Nam truyền qua Việt Nam hướng dẫn. ...Tất nhiên hành giả phải tuân thủ nội quy của ban tổ chức khóa thiền trừ khi hành giả độc cư nơi nào đó. Hành giả ”...ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt…"[18] (xem ảnh 3). Và hành giả theo dõi hơi thở ra vào nơi chót mũi của mình và kiểm soát nó, không nghĩ ngợi tới điều gì nếu nghĩ càng nhiều là ta chưa hoàn toàn kiểm soát được hơi thở. Người hôn trầm, thuỵ miên thì kiểm soát hơi thở một lúc rồi dã dượi, buồn ngủ vì vậy chúng ta phải ngủ đủ giấc hoặc khắc chế kiểm soát sẽ không còn hôn trầm nữa. Đây là điều cần thiết vì “1. - Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?
  1. Dục tham, sân, hôn trầm, thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ thiền….
  2. - Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?
  3. Dục tầm, sân tầm, hại tầm, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền.”[19].
Người nhiều trạo cử, phóng tâm thì khi hơi thở ra chót mũi thì nó phóng đi mất lại nghĩ tới đủ chuyện quá khứ đâu đó. Nên nhớ hơi thở ra chăm chú khi thở ra, hơi thở vào cũng vậy, chuẩn bị hít vô tâm hay bị phóng tâm, lưu ý như vậy.Chú ý hơi thở từ mũi chạy vô và ngược lại hơi thở ra từ chót mũi sao cho không bị phóng tâm. Tuy vậy, hành giả cũng tùy nghi tìm cách riêng kiểm soát hơi thở vào ra sao cho không bị phóng tâm chỉ cần chú tâm vào một điểm chót mũi là đủ vì dù hơi thở vào ra phải đi qua đấy nên cũng không cần quan sát phồng xẹp, nếu muốn. Chúng ta quan sát hơi thở cũng có nghĩa là Quán thân: quán sát toàn thân. Khi đi kinh hành chúng ta quan sát các bước chân nâng lên hạ xuống trong chánh niệm, bước biết bước, nâng lên hạ chân xuống biết. Quán sát mọi hoạt động của chúng ta khi nhai, ăn, nuốt, ngồi, co tay, duỗi chân…đều phải chánh niệm là quán sát toàn thân trong mọi lúc mọi nơi, tất nhiên trong đó có quan sát hơi thở chúng ta chứ không phải chỉ ngồi thiền mới quan sát bởi thiền còn có cả trạng thái chánh niệm đi, đứng, nằm, ngồi do chúng ta chỉ quen nghe nói ngồi thiền mà thôi (trừ lúc ngủ). (xem ảnh 4)Tâm luôn vọng động chạy nhảy nên hành giả phải hết sức tinh tấn quan sát toàn thân trong chánh niệm tỉnh giác sẽ hay biết được tâm đang vọng tưởng nghĩ ngợi hay đang làm gì. Khi có chánh niệm tỉnh giác ta có thể loại bỏ tham ái, buồn phiền tạm thời trong lúc ấy.Trong lúc hành giả quán thân thì cũng có thể quán thọ bởi các đau nhức, mỏi mệt nơi thân. Hành giả quán thọ trong các cảm thọ, tinh cần tỉnh giác chánh niệm chế ngự tham ái và sân hận, hành giả cần quan sát các cảm thọ tốt và xấu khi nó sanh khởi dù nó là thọ hỷ, thọ xả hay thọ khổ, đau, ngứa hay đổ mồ hôi. Khi thọ khổ sinh khởi nếu không tỉnh giác hay biết có khi chúng ta lại muốn xả bỏ thiền không tiếp tục nữa bởi ta sinh tâm thích ghét khi thọ khổ, thọ hỷ xuất hiện. Nhờ tinh tấn tỉnh giác ta không bám níu vào thọ hỷ, không chán ghét thọ khổ cho nên tham và sân không sinh khởi nhờ vậy loại trừ tham ái và sân hận.Khi hành thiền hành giả thường thấy tâm tham, tâm sân và cả tâm thiện với sự hoan hỷ các thiện pháp trước đó đã làm như cúng dường, bố thí…hành giả cần quan sát với sự tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác nếu không sân hận sẽ phát sinh khi hành giả không thấy đề mục nên nổi sân bực bội. Khi hành thiền hành giả chỉ quan sát cái gì sanh khởi khi hơi thở vào và ra bởi ta không điều khiển được bất cứ cái gì ta muốn khi tâm vọng động, sau đó lại tập hơi thở vào và ra. Lúc đang hành thiền, hành giả có thể thấy nhiều loại tâm như sân giận, bực bội, suy nghĩ cái gì đó, phóng tâm nhớ chuyện quá khứ vui buồn đã qua, buồn ngủ. Hành giả cần chánh niệm tỉnh giác nếu không chúng ta sẽ không vui, khó chịu, chán nản khi gặp khó khăn hoặc hoan hỷ, vui thích khi ngược lại. Hành thiền là chấp nhận quán sát sanh khởi khi hơi thở ra thở vô trong khi ngồi, trong khi đi kinh hành để tham ái và sân hận không phát sinh.Hành giả quán pháp trong các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ái, sân hận trong đời. Khi ngồi quan sát thở ra thở vào ta có thể thấy hình ảnh trong tâm, khi đi kinh hành có thể nghe nhiều âm thanh của côn trùng, của chim hót, của người nói, của tiếng động nào đó, hành giả không nên mở mắt ra nhìn hay tìm kiếm âm thanh đó phát ra từ đâu, nếu không chúng ta sẽ mất chánh niệm và sẽ phải thiền lại từ đầu. Vì thế, chỉ cần ghi nhận âm thanh đó là đủ và hành giả tiếp tục quán sát hơi thở nơi thân, thọ, tâm, pháp và ghi nhận nó, kiểm soát hơi thở vào ra nơi chót mũi. Chúng ta ghi nhận mọi diễn biến trong tâm khi nghe âm thanh, ngửi mùi, nếm vị ăn, xúc chạm khi có sự xúc chạm qua thân như ai đi chạm vào tay, vai hay chân đá trúng, từ đó hành giả không bám níu, thích hình ảnh trong tâm hay bên ngoài mà hành giả từng thấy hay sợ hãi nó khi nó sanh khởi, từ đó tham ái, sân hận sẽ không sanh khởi và cứ thế an tịnh trong tâm.Bên cạnh đó, bài Kinh Trung Bộ 119 Thân Hành Niệm hướng dẫn hành giả điều cũng tương tự bài Kinh Tứ Niệm xứ, đó là quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp: “Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài vị ấy biết: "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra". An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập”[20]Điều cần trước tiên là hành giả phải chánh niệm trước mặt và phải ghi nhớ biết có sự xúc chạm của hơi thở vào ra ở chót mũi liên tục. Giai đoạn này hành giả khó nhận biết ngắn dài của hơi thở nên phải cố gắng theo dõi cột tâm tại nơi xúc chạm của mũi. Tiếp theo giai đoạn hai hành giả phải nhận biết hơi thở vào hay ra nó ngắn hay dài hoặc xen kẽ lúc ngắn lúc dài tùy theo cơ địa và theo sức khỏe của hành giả dài hay ngắn. Hơi thở ngắn là hơi nhanh có khi gấp gáp, hơi thở chậm, kéo dài thời gian chính là hơi thở dài. Giai đoạn này hành giả phải biết hơi thở mình nhanh hay chậm. Giai đoạn tiếp theo là phải ghi nhớ rõ ràng hơi thở vào hơi thở ra cả ba thời điểm cùng lúc đó là đầu, giữa và cuối từ điểm rốn lên đến chót mũi, hành giả chỉ cần biết mỗi lần hơi thở vào hay ra nơi chót mũi, ngoài ra không cần lo nghĩ đến điều gì ngoại trừ an trú nơi chót mũi ấy. Giai đoạn bốn phải ghi nhớ biết hơi thở vi tế nhất khi loại giảm được hơi thở thô đi, lúc này hành giả nhận biết hơi thở vào ra tại thời điểm đầu, giữa và cuối, toàn thân hơi thở, hành giả sẽ thấy hơi thở nhẹ nhàng, vi tế hơn.Khi chúng ta xác định rõ nơi xúc chạm hơi thở vào và ra là chót mũi thì bắt đầu đếm hơi thở từ một đến năm, hết năm rồi quay lại một cứ như thế cho đến khi các vọng tâm của quá khứ bị cắt đứt và tâm chỉ tập trung vào hơi thở vào ra xuyên suốt nhiều giờ đến khi xuất hiện những thay đổi. Lúc này hành giả nhiếp tâm và nhận biết hơi thở dài biết hơi thở ngắn nhận biết cho khi có sự thay đổi ở mức độ cao hơn, hơi thở vi tế tiệm cận với định sẽ không còn xa. Muốn có định phải có chánh niệm và phát triển trí tuệ khi tâm định phải phát triển trước, khi ấy hành giả hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng. Hành giả sẽ thấy rõ bản chất vô thường vô ngã của tâm và thân về sự sinh diệt của chúng. Ngoài Thiền, đức Phật còn thuyết giảng về định tu tập “… có bốn định tu tập này. Thế nào là bốn?Có định tu tập, này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn, đưa đến hiện tại lạc trú. Có định tu tập, này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn, đưa đến chứng được tri kiến. Có định tu tập, này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn, đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Có định tu tập, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”[21].Hành giả thiền định theo dõi hơi thở vào ra này cũng chính là thực hành theo Tứ Niệm Xứ, đầu tiên là chúng ta quán Thân, theo dõi hơi thở vào ra với sự xúc chạm của thân là chót mũi. Tiếp theo là quán Thọ với sự hoan hỷ vui thích khi có sự thay đổi cao hơn nơi tâm. Thấy biết rõ nơi tâm, tâm nhận biết sự thay đổi ấy chính là quán Tâm và cuối cùng là quán Pháp khi tâm nhận biết hơi thở vào ra, quán sát và biết rõ thực tính của vô thường của tham của sân và của si.Như vậy, hành giả hành thiền trên đề mục chính là hơi thở trên bốn niệm xứ khi hiểu rõ cách thức hành thiền như vậy hành giả đang quan sát thân, quan sát hơi thở vào hơi thở ra, quan sát đi, đứng, nằm, ngồi và những cử động của thân của tay và chân…“…vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.”[22] Hành giả đã quán thân từ bên trong, từ bên ngoài với 32 thể trược lông, tóc, răng, da, móng, mủ, máu….với sự dơ bẩn gớm ghiết biết bao với chất thải ra hôi hám. Hành giả “quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.” Từ quán thân này như vậy hành giả mới thấy được thân này không phải là ta của ta, nó là vô ngã không phải là ta là vô thường, khổ nên tự thân nó vận động và ta không điều khiển được nó nên nó tự già tự bệnh và rồi chết.Đang quan sát thân khó chịu, đau nhức, mỏi là quán sát thọ, cảm giác xúc chạm giữa thân tâm và với trần cảnh. Thọ có thọ lạc, thọ khổ và thọ xả. Khoái cảm vui thích khi 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với 6 trần cảnh như sắc đẹp, âm thanh, hương thơm, mặn ngọt, xúc với cảm giác cứng, mềm, nóng, lạnh và pháp với những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần trên gọi là thọ lạc nhưng nó thuộc về tâm bởi tâm vui thích với cảm giác ham muốn.Thân cảm giác đau đớn khi 6 căn tiếp xúc 6 trần làm thân khổ như thân bị nước sôi đổ vào hay thân bị té ngã…lúc này hành giả ghi nhận sự đau đớn ấy cho đến khi tâm hành giả định thì hành giả không còn thấy đau nữa vì đã chế ngự được nó cho đến khi tiêu diệt nó hoàn toàn nếu hành giả đạt được mức cao nhất của chế của khổ.Thọ xả là cảm giác không vui không thích không khổ sở của tâm, nó thuộc về vật chất. Thọ nằm giữa tâm và thân, thân phát sinh thọ thì tâm sẽ nhận biết nó và cảm nhận thọ ấy thế nào, đau, sướng, vui hay khổ. Có thân mới nhận biết được thọ nếu thân là khúc gỗ mục lúc ấy thọ cũng biến mất. Thọ xuất hiện trên toàn thân và nhận diện nó khi tiếp xúc với 6 trần và phải phân biệt được rõ ràng trạng thái của thọ vì khoảng cách của chúng rất nhỏ, lúc này là ta đã tiến được một bước của thiền quán. Tâm luôn thực hành thọ xả cũng là một bước tiến của tâm bởi tâm luôn xả bỏ những dính mắc của trần gian mà không phải ai và người tu hành xả bỏ được bởi tâm tham muốn ôm vào quá lớn. Nhất là tâm tham ái khi thấy gái đẹp dù vai trò vị trí thuộc hàng “cao cấp” và tìm mọi thủ đoạn hòng “chiếm đoạt, thống lĩnh”. Nhiều trường hợp thân thọ lạc bởi giàu có tiền tài danh vọng nhưng tâm thọ khổ vì lo sợ ngày nào đó bị phát hiện do làm giàu bất chính và sợ bị tịch thu mất hết, nhà giàu cũng khóc là vậy. Ngược lại, thân thọ khổ bởi thân phải chìu theo ý muốn của tâm như ăn phải biết thiểu dục tri túc, phải tiết độ trong ăn uống chứ không ham ăn, ăn thỏa thích…nhưng tâm được an lạc, hoan hỷ không lo sợ điều gì.Khổ thọ là đau nhức của thân khi ta hành thiền quá lâu hay thiền sinh mới bắt đầu thiền tập. Khổ thọ với bất kỳ ai cũng đều có bởi đau bệnh của thân, tuổi nào cũng có bệnh và chết.Tâm đang động suy nghĩ là quán tâm, có 16 sắc thái của tâm: Tâm tham và tâm không tham; tâm sân và tâm không sân; tâm si và tâm không si; tâm hôn trầm; tâm phóng dật; tâm không thiền và tâm có thiền; tâm dục giới, tâm sắc giới và tâm vô sắc giới. Tâm cận định, tâm nhập định và tâm không có định…Trong Vi Diệu Pháp chỉ rất cụ thể và rõ nét có 121 loại tâm và trạng thái tâm ấy ở đâu trong 3 cõi: dục giới, sắc giới hay vô sắc giới với mọi hành vi của tâm bất thiện hay thiện, siêu thế hay hiệp thế. Quán tâm chỉ cảm nhận được qua thân, phải bám vào cảm nhận toàn thân, phải nhìn vào trong vào bên ngoài, làm sao thấy, nắm bắt được tánh sanh diệt của quá trình khởi lên và hoại diệt của tâm.Chánh niệm thấy nghe là đang quan sát Pháp trong mọi lúc mọi nơi, bất kể nơi nào và thời gian nào bởi tất cả là Pháp. Pháp bao gồm Pháp học, Pháp hành và Pháp thành.Chúng ta hiểu Pháp là những lời dạy của Bậc Đạo Sư cho hàng tứ chúng hữu duyên tu tập. Không phải ai cũng có duyên với Pháp và thực hành Pháp thành tựu dù bài Kinh Niệm Xứ, Trung Bộ Kinh nêu chỉ cần 7 ngày, 7 tuần, 7 tháng và 7 năm thành đạo bởi không phải ai cũng thực hành đúng Pháp nhất là không nhiếp phục được tâm tham, tham ái, bạc tiền, lợi danh bị nó xâm chiếm, nắm giữ tướng chung tướng riêng của nhau thì sẽ tiếp tục lăn trôi cõi luân hồi. Mở rộng ngoài thiền ra, ta có thể hiểu “Pháp là thiết thực hiện tại, … không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu” [23].“…, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật” [24].Hành giả ngồi tầm một tiếng hoặc quá đau nhức, mỏi mệt thì xả thiền và đi kinh hành, lúc này hành giả quán sát các bước đi nâng chân lên, hạ xuống, bước và đứng, bằng cách này hành giả có nhiều chánh niệm và ngược lại không được gì hết. Hành giả đi kinh hành có thể đi quanh chánh điện, nơi hành thiền hoặc con đường riêng được thiết lập dành cho thiền hành. Hành giả có thể đi tới đi lui theo đường thẳng nhưng phải chánh niệm tỉnh giác, không nhắm mắt, không nhìn ngang liếc dọc hay nhìn quá thẳng quá xa mà chỉ nhìn trước mặt cuối xuống mặt đất một chút, tầm gần chừng 2m trở lại để tâm khỏi bị phân tán và suy diễn lung tung khi nhìn thấy điều không hay khó chịu hoặc bị phiền não. Khi thiền hành chỉ chú tâm vào bước chân chuyển động, hai tay có thể nắm lại phía trước hay sau lưng và có thể thay đổi ngược lại nhưng phải tỉnh giác và từ từ không quá nhanh.Hết đoạn kinh hành quay lại, hành giả dừng lại và từ từ chậm rãi ghi nhận tư thế đứng của toàn thân, ghi nhận biết hơi thở vào hơi thở ra một cách rõ rệt, ghi nhận thân tâm xoay chuyển chậm rãi theo từng bước cho đến khi quay lại hẳn và tiếp tục bước và đạp. Khi dỡ bước đạp tâm phải theo dõi cử động của bàn chân khi nâng lên, đặt xuống và bước tới khi hết đường quay lại vòng tiếp theo cho đến khi ngừng và tu thiền tiếp.Đức Thế Tôn đã chỉ ra năm lợi ích kinh hành là:- “1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của kinh hành. Thế nào là năm?2. Kham nhẫn được đường trường; kham nhẫn được tinh cần; ít bệnh tật; đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm; định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại lâu dài. Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm lợi ích của kinh hành”[25].Hành giả kham nhẫn được đường trường dù đường có dài có xa bao nhiêu cũng không thối chí nản lòng giống như “vàng thử lửa, gian nan thử sức” là vậy. Chúng ta không có tâm kham nhẫn lúc nào cũng vội vội vàng vàng giục tốc thì bất đạt sẽ không đạt được bất kỳ thành tựu gì. Làm việc gì cũng phải cần có thời gian, muốn chứng đạt nhanh lắm cũng cần 7 ngày kia mà.Ngoài ra, hành giả cũng cần phải tinh cần, siêng năng đối kháng lại lười biếng kham nhẫn trong mọi hoạt động, nhất là trở ngại của 5 triền cái sẽ làm hành giả bỏ cuộc thối chí. Đây là chướng ngại đầu tiên và nguy hiểm nhất bởi một khi dính mắc thì khó lòng buông bỏ khi nó hiện khởi trong tâm, khi ấy hành giả nhận biết “có tham ái trong tôi” và ý thức có tham ái này đang hiện khởi. Để loại trừ tham ái ta có thể áp dụng các cách sau:
  1. Quán xác chết hay 32 thể trược lông tóc răng da mủ... như trên có đề cập.
  2. Sau khi quán các thể trượt dơ bẩn đạt các tầng thiền, lúc ấy tự nó loại trừ tham ái.
  3. Hành giả chế ngự mắt tai mũi lưỡi thân ý không để chúng nghĩ tới lục trần khởi sinh tâm bất thiện như chúng tôi có đề cập lục căn lục trần.
  4. Biết tiết độ ăn uống, không ham muốn ăn quá nhiều sẽ sinh ham ăn.
  5. Có một người bạn đạo tốt trò chuyện đạo, ăn cơm có canh tu hành có bạn là vậy.
  6. Chỉ nói lời thích hợp, có ích cho mình cho người
Với các chướng ngại của triền cái sau khi hành giả đã đoạn trừ thì sẽ thấy rõ bản chất của chúng có gì để giữ mà cần phải buông bỏ rời xa.Hành giả nên tạm dừng hành thiền và đứng dậy đi kinh hành thì mọi mệt mỏi uể sẽ không còn.Đi kinh hành rất ích lợi cho sức khỏe và ngày nay các công viên đầy ắp người đi bộ cho sức khỏe dẻo dai bền sức và ngăn ngừa các bệnh tim mạch, tiểu đường giúp giảm đường huyết…và tiêu hóa tốt thức ăn, mau chóng đào thải chất độc qua đường ruột…khi kinh hành các mạch máu lưu thông qua sự vận động của cơ bắp nhất là cơ chân sẽ làm giảm mỡ máu. Ngày nay khoa học khuyến cáo người dân nên đi bộ với tốc độ vừa phải ít nhất 1 ngày một giờ.Cuối cùng là tâm sẽ được định nhờ chánh niệm tỉnh giác bởi hành giả chú tâm theo dõi từng bước chân nâng lên đạp xuống một cách tuần tự. Một khi tâm định trong lúc đi kinh hành thì dù hành giả có đi trên sỏi đá cũng chẳng thấy khó chịu gì. Trong lúc thiền hành chúng ta có thể chứng nghiệm và thấy được sự chuyển động của danh sắc của đất, nước, gió và lửa bởi quá trình hành giả dở chân và đạp chân hướng về phía trước là quá trình chuyển động của vật chất của tứ đại và sự ghi nhận sự chuyển động ấy thuộc về tâm. Cả hai cùng lúc cùng đồng thời chuyển động và ghi nhận trong suốt thời gian kinh hành lập đi lập lại cho đến khi dừng hẳn.Quá trình dở bước đạp và ghi nhận của tâm đó là quá trình tương tác tương quan đồng thời, nó sẽ giúp hành giả điều chỉnh lại sự chuyển động của thân của tâm, từ đó thấy được vạn hữu có đặc tính khổ, vô thường và vô ngã, sự sanh diệt của danh sắc là vô thường vô ngã không phải là ta của ta…Nói tóm lại, hành giả hãy tự thân vận động và tự thực nghiệm, chứng nghiệm kinh nghiệm thực tu thiền hành bởi chính mình sẽ rút ra bài học kinh nghiệm trên bước đường đi tìm bờ giác.Về các Phong Trào Thiền Tại Việt Nam Hiện Nay các tự viện liên tục mở các khóa thiền cho các hành giả có điều kiện tu tập và tiếp cận phương pháp hành thiền với các nước quốc giáo. Myanmar được các tự viện mời các thiền sư về nhiều hơn cả từ trước tới nay, tùy vào thời gian, giai đoạn, điều kiện mà các tự viện thực hiện. Mạnh nhất phía Nam có Thiền viện Phước Sơn do Hòa thượng Bửu Chánh trụ trì, thường xuyên tổ chức các khóa thiền ngắn và dài hạn, liên tục trong năm. Dưới đây là thông tin tu tập từ nguồn Thiền Viện:“1. KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 10 NGÀY (21/05 - 31/05/2023) - NGÀI TRÍ DŨNG HƯỚNG DẪNLink đăng ký: https://forms.gle/cxpLfzgHEZMeuHky8
  1. KHÓA TU HỌC CUỐI TUẦN 3 ngày 2 đêm
Khai mạc: 18g00 tối thứ Sáu hàng tuầnBế mạc: 16g30 chiều Chủ Nhật hàng tuầnVẫn tiếp đón học viên đến vào sáng Thứ Bảy.Link đăng ký: https://forms.gle/Vo8werYPnT3Kqu219
  1. PHÁP HỘI TRÙNG TỤNG KINH ĐIỂN PĀLI - VIỆT lần 7: 26/05 - 03/06/2023 (08/04 - 16/04 âm lịch) Nhân dịp Đại Lễ Vesak
Link đăng ký: https://forms.gle/9W8CBq7DjjQRahQy5
  1. KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 4 NGÀY - SƯ PHƯỚC KHOA hướng dẫn 02/06 - 05/06/2023 (15/04 - 18/04 âm lịch)
Link đăng ký: https://forms.gle/PJvYeNbahWku8U8r7
  1. KHÓA TÂM LÝ TU TẬP - THIỀN VIPASSANĀ - TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC GIỚI, 3 ngày 09/06 - 11/06/2023
Link đăng ký: https://forms.gle/q44Wv2ERxVg3rbyMA
  1. KHÓA TU XUẤT GIA GIEO DUYÊN - lần thứ 15: 1 tháng (12/05 - 15/06 âm lịch) (29/06/2023 - 01/08/2023 dương lịch)
Link đăng ký: https://forms.gle/WR4uH98kTsNTwuTH9
  1. KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 10 NGÀY MIÊN MẬT (15/06 - 25/06/2023) - SC GIỚI HIỀN HƯỚNG DẪN (ngưng nhận đăng ký)
  2. KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 20 NGÀY MIÊN MẬT (01/07 - 20/07/2023) - SC GIỚI HIỀN HƯỚNG DẪN
Link đăng ký: https://forms.gle/6WHrpcy26xB9ttu18
  1. KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 10 NGÀY (25/06- 05/07/2023) - NGÀI TRÍ DŨNG HƯỚNG DẪN
Link đăng ký: https://forms.gle/nJVgictTTEQv98Lo8
  1. Khoá tu kỹ năng sống mùa hè Zencamp - cho thanh thiếu niên (13 - 17 tuổi)
Thời gian: trong 07 ngày từ 01/08 - 07/08 (7 ngày 6 đêm)Link đăng ký: https://docs.google.com/.../1FAIpQLSf6aSpLC2T.../viewform”[26]Trước đó, năm 2010, Thiền viện Nguyên Thủy, địa chỉ 33A Đường 10, Khu Phố 1, Phường Cát Lái, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh tổ chức 6 khóa thiền trong năm 2010-2011 bằng công văn số 693/TGCP-HTQT đề ngày 06/09/2010, mỗi khóa 10 ngày do các thiền sư từ Myanmar như: Thiền sư U TEJINDA, Thiền sư VEN NA NA VAMSA sang hướng dẫn.Liên tục các năm sau, Thiền viện Nguyên Thủy thường tổ chức các khóa thiền cho chư Tăng, Phật tử tu học. Từ ngày 6-8-2020 đến ngày 29-1-2021, Thiền viện Nguyên Thủy mở khóa Thiền Quán Siêu Lý “Vipassanā - Tứ niệm xứ, năm 2020”, do Thiền sư Dhammamāmaka, quốc tịch Việt Nam dạy, và Luận Sư Dhammasāro dạy khóa Học Siêu Lý. Gần đây nhất là Khai giảng Khóa thiền Tứ niệm xứ Vipassanā 2 ngày, từ ngày 22/07/2023 đến 23/07/2023 do sư Hạnh Tuệ hướng dẫn.Trước đó, năm 2018, chùa Thiên Trúc (Jampudiparama), địa chỉ số 197/11, đường Phương Thành, phường Bình San, TP. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang tổ chức khóa thiền Tứ Niệm Xứ từ ngày 21 đến ngày 29-1-2018 do Hòa thượng Kim Triệu hướng dẫn đã thành tựu mỹ mãn.Gần đây nhất, chùa Thiên Trúc (Jampudiparama), đã trang nghiêm tổ chức khai giảng khoá thiền Tứ Niệm Xứ do Hoà thượng thiền sư Khippapanno Kim Triệu hướng dẫn từ ngày 25/12/2022 đến ngày3/01/2023Phía Bắc có chùa Long Hưng, thôn Phương Trạch, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội, thường xuyên tổ chức các khóa tu thiền Tứ Niệm Xứ miên mật. Tiêu biểu như khóa tu thiền Tứ Niệm Xứ từ 25/01 đến 02/02/2023 do thiền sư Nguyên Tuệ hướng dẫn. Trước đó, các khóa tu thiền Tứ Niệm Xứ online cũng được chùa tổ chức ngày 3-12-2021 lần thứ 3 cho hơn 120 học viên trong và ngoài nước tham dự.Các khóa thiền tại các thiền viện, chùa trong cả nước liên tục không ngừng nghỉ tổ chức trong các năm liên tục đã mở ra cơ hội tu tập cho các hành giả con đường đến bờ giác góp phần an lạc giải thoát trong kiếp sống này và vị lai. Nhiều tự viện dù không tổ chức các khóa tu tập cho số lượng đông người đến tham dự nhưng vẫn duy trì mỗi ngày các thời khóa hành thiền tại bổn tự bởi chư tăng đã xuất gia cầu đạo tầm cầu con đường giải thoát thì giáo pháp của bậc Đạo Sư chính là Kim Chỉ Nam đưa đường dẫn lối họ thực hành giáo pháp ấy. Chư Phật tử nếu muốn tham gia thời khóa tu tập tại các bổn tự ấy đều được hoan hỷ và hướng dẫn vì giáo pháp của Như Lai không dành riêng cho bất kỳ đối tượng nào. Vì thế nếu muốn giải thoát khỏi cõi khổ Ta Bà chỉ có con đường duy nhất là tu mau kẻo trễ và giải thoát ngay trong kiếp sống này.Kết luậnDù du nhập vào Việt Nam muộn (từ năm 1938) so với các nước Nam truyền Myanmar, Thái Lan… nhưng Phật giáo Nguyên thủy đã có những đóng góp lớn cho Đạo pháp và Dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Thiền trong Thánh điển Pāḷi có một giá trị thực tiễn không hề nhỏ. Đối với tín đồ Phật giáo, thiền đã giúp họ vượt khỏi sầu bi, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Khi tiếp cận và thực hành giáo pháp ấy, họ đã được thuyết phục bởi các thiền sư, để rồi trở thành hành giả ngày đêm tu tập tầm cầu giải thoát. Thiền Nguyên thủy đã mang hơi thở tâm linh của đạo pháp, niềm tin chánh tín đến với tín đồ Phật giáo; giúp họ vượt qua sầu bi và đạt được an yên trong tâm hồn. Bởi lẽ đó, các tự viện không ngừng mở ra những cơ hội cho thiền sinh thực tập tầm cầu giáo pháp đúng như giáo pháp lưu truyền “là người thừa tự Pháp của Ta”[27]: “Pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí tự mình giác hiểu”[28].                                                       

Ths. Nguyễn Ngọc Hùng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Không Phóng Dật, Bản in nội bộ 2016, tr 39.
  2. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Ngàn, Pháp Cú 110, 111, tài liệu đã dẫn, tr.39
  3. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỷ Kheo - Pháp Cú 372, 373, tài liệu đã dẫn, tr.80.
  4. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Phật Ðà, Pháp Cú 181. tài liệu đã dẫn, tr.50.
  5. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, tập 1, Chương I – Hai Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr 71.
  6. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T2, Chương IV – Bốn Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr. 327-328.
  7. Thích Minh Châu (1993), Hành thiền, Ban trị sự Phật giáo Huế, tr.19.
  8. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.126.
  9. Tỳ khưu Hộ Pháp (2018), Nền tảng Phật giáo, quyển IX, Pháp Hành Thiền Tuệ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội.
  10. Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya); 22. Kinh Ðại Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.301.
  11. Trang Thông tin cá nhân của Thiền viện Phước Sơn,https://www.facebook.com/PhuocSonMonastery/?locale=vi_VN, truy cập ngày: 21/7/2023.
__________________________________________[1] Tỳ khưu Hộ Pháp (2018), Nền tảng Phật giáo, quyển IX, Pháp Hành Thiền Định, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr.2.[2] Tỳ khưu Hộ Pháp (2018), Nền tảng Phật giáo, quyển X, Pháp Hành Thiền Tuệ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr.1.[3] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya); 22. Kinh Ðại Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr 301.[4] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Không Phóng Dật, Bản in nội bộ 2016, tr 25.[5] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Không Phóng Dật, Bản in nội bộ 2016, tr 39.[6] Phẩm Phật Ðà, Pháp Cú 181. tài liệu đã dẫn, tr.50.[7] Phẩm Tỷ Kheo - Pháp Cú 372, 373, tài liệu đã dẫn, tr.80.[8] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T1, Chương I – Hai Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr 71.[9] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T2, Chương IV – Bốn Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr.327-328.[10] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Tăng Chi Bộ Kinh- Anguttara Nikaya, Tập 1; Chương I – Một Pháp, XX, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh 1, 2, bản in nội bộ 2016, tr.47-54. [11] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); 119. Kinh Thân hành niệm (Kàyagatàsati sutta) Bản in nội bộ 2016, t2, tr.190.[12] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T4, Chương IX – Chín Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr.413-416.[13] https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm[14] Thích Minh Châu (1993), Hành thiền, Ban trị sự Phật giáo Huế, tr.19.[15] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Trung Bộ Kinh, Majjhima Nikaya, T1, 10. Kinh Niệm xứ (Satipatthàna sutta), Bản in nội bộ 2016, tr.102-103.[16] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya. Chương II - Hai Pháp, Bản in nội bộ 2016, t1, tr.93-94.[17] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Trung Bộ Kinh, T3, 101. Kinh Devadaha (Devadaha sutta), bản in nội bộ 2016, tr.21-26. [18] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu dịch), Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya); 22. Kinh Ðại Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.301.[19] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T3, Chương V – Năm Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr 467-468.[20] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); 119. Kinh Thân hành niệm (Kàyagatàsati sutta) Bản in nội bộ 2016, t2, tr.190.[21] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T2, Chương IV – Bốn Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr 64-66.[22] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); 10. Kinh niệm xứ  (SATIPATTHÀNA SUTTA). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.126.[23] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ Kinh- Anguttara Nikaya; Chương VI – Sáu Pháp, VI. Phẩm Dhammika, (V) (47) Cho Đời Này, bản in nội bộ 2016, tr 95. [24] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); 3. Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr 126.[25] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ Kinh- Anguttara Nikaya; Chương V - Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, (IX) (29) Kinh Hành, bản in nội bộ 2016, tr.33. [26] Trang Thông tin của Thiền viện Phước Sơn, https://www.facebook.com/PhuocSonMonastery/?locale=vi_VN), truy cập ngày: 21/7/2023.[27] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT. Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); 3. Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.126.[28] Đại Tạng Kinh Việt Nam (HT. Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ Kinh- Anguttara Nikaya; Chương VI – Sáu Pháp, VI. Phẩm Dhammika, (V) (47) Cho Đời Này, bản in nội bộ 2016, tr.95. 
Bình luận
| Mới nhất