THIỀN NGUYÊN THỦY TRONG TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PALI, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHONG TRÀO THIỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Hội thảo “Thiền Nguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại" ngày 22-10-2023 tại Học viện Phật giáo Việt Nam cơ sở 2 TP. HCM
Tóm tắtTrải qua hai sáu thế kỷ tồn tại và phát triển, Phật giáo đã được truyền bá rộng khắp các châu lục. Dân tộc Việt Nam tiếp nhận kho tàng Thánh điển Tam tạng Pāḷi vào những năm đầu thế kỷ XX trong bối cảnh đầy đau thương và mất mát của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Mặc dù vậy, Thánh điển Tam tạng Pāḷi vẫn từng bước phát triển. Chỉ sau gần một thế kỷ tiếp cận truyền thừa giáo pháp Thích Ca, Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho Đạo pháp và Dân tộc. Pháp môn thiền Nguyên thủy đã đem an lạc cho những ai hành trì và các thiền viện trong cả nước vẫn luôn rộng mở chào đón thiền sinh tìm về tu tập. Tiến trình lịch sử của Phật giáo Nguyên thủy người Kinh là minh chứng rõ nét cho nhận định này. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về thiền Nguyên Thủy trong Tam Tạng Thánh điển Pāḷi; Các phương pháp và phong trào thiền tại Việt Nam hiện nay.Từ khóa: Thiền Nguyên thủy, Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi, Phương pháp thiền, Phong trào thiền, Việt Nam.Dẫn nhậpPhật giáo Nguyên thủy người Kinh truyền thừa vào Việt Nam đến nay mới được 85 năm (1938-2023). Mặc dù thời gian vào Việt Nam chưa được lâu so với Phật giáo Bắc tông nhưng Phật giáo Nguyên thủy đã khẳng định được vị trí của mình ngay trong bối cảnh thăng trầm, sóng gió của lịch sử xã hội đương thời. Phật giáo Nguyên thủy người Kinh đem đến cho người dân Nam Bộ một hơi thở tâm linh mới mẻ. Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi đã hòa vào đời sống tâm linh của người dân bản địa, trở thành “món ăn” tinh thần không thể thiếu và thiền là một phần của đời sống ấy.
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.111. Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.[5]181. Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.[6]
- Thiền Nguyên Thủy Trong Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi
- Người hằng tu thiền định,
Thường kiên trì tinh tấn.
Bậc trí hưởng Niết Bàn,
Ðạt an tịnh vô thượng.[4]
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.111. Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.[5]181. Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.[6]
- Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết Bàn.[7]
- Lòng tin. Hành giả phải có niềm tin tuyệt đối vào Phật Pháp Tăng. Phải có lòng tin kiên định, trong sạch vững chắc thành tựu chứng đạt ở giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Nếu chúng ta không đủ niềm tin vào Tam Bảo vào thiền thì chúng ta sẽ hoài nghi và khó lòng đạt được mục tiêu hướng đến. Chúng ta phải có lòng tin ở chính chúng ta là đủ sức đi hết con đường của vị thầy của trời của người.
- Sức khỏe. Hành giả phải có sức khỏe tốt, ít bệnh gây khó và không thể ngồi yên lưng thẳng mà cứ ho sù xụ hay nhứt mỏi ngứa ngáy khó chịu, chính cái bệnh, cái thọ khổ này sẽ là rào cản hành giả đạt được các thành tựu như mong đợi. Nhiều người ăn kiêng nhằm có sức khỏe để hành thiền. Nhiều người hành thiền bảo rằng sẽ có sức khỏe rất tốt, ăn ngon ngủ ngon, không có bệnh đau nào trong thân, hệ tiêu hóa rất tốt, thân nhiệt không quá nóng hay quá lạnh.
- Chân thật. có nghĩa là không nói dối, nói láo khi trình pháp với vị thầy hướng dẫn thiền của mình và bày tỏ điều phù hợp sau khi hành thiền.
- Tinh cần. là siêng năng tu tập hành thiền và không phút giây nào ngưng trệ dễ nảy sinh pháp bất thiện và trở nên lười nhác cho nên phải thiết lập tâm tinh tấn vững chắc, thể hiện nghị lực vững vàng nhằm đạt được định và sâu nếu không lâu dần chúng ta sẽ thối lui từ bỏ. Hành giả nên thực hành 10 pháp Ba la mật (Parami) một cách tròn đủ nếu muốn thoát khỏi cảnh khổ Ta Bà (trong bài chúng tôi có đề cập), dần dần sẽ có định mạnh hơn.
- Trí. Hành giả phải có trí tuệ quán danh sắc về sanh diệt và sẽ là một người thông minh có đủ khả năng cần đạt. Giai đoạn này hành giả phải tu tập Giới cho thanh tịnh trong sạch, những ham muốn về tham ái về tâm tham được đoạn trừ không còn sanh khởi nữa, lúc ấy giới sẽ dẫn đến định và khi có định hành giả quán danh sắc và thấy được khổ vô thường, vô ngã, khi ấy hành giả có được chi phần của trí hay tuệ. Giống tinh tấn, tuệ hầu hết có trong 37 phẩm trợ đạo như: Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ thần túc, Ngũ quyền, Ngũ lực, Thất giác chi, Thất giác chi và cả trong Vi Diệu Pháp tâm sở trí tuệ trong 52 tâm sở. Người ta thường đề cập đến 3 loại trí trong Phật giáo: nhờ học hỏi gọi là trí văn, do tổng hợp, phân tích vấn đề gọi là trí tư và trí tu nhờ vào hành thiền sau khi có giới có định và có tuệ.
- Các Phương Pháp Và Phong Trào Thiền Tại Việt Nam Hiện Nay
- Thiền Tuệ (thiền quán, Vipassana): Việc thực hành nhằm vào sự phát triển một trạng tháitâm an định làm phát sanh trí tuệ. Thiền Tuệ được xem như cánh cửa đi vào giải thoát mọi khổ đau và ràng buộc. Thiền tuệ được công nhận của đức Phật sau khi Ngài tu chứng và truyền dạy lại và là một đặc điểm của đạo Phật. Hai loại thiền này được tu tập cùng tạo cho sự giác ngộ thuận lợi hơn cho hành giả. Nhờ tu tập định và được làm chói sáng của tu tập tuệ, hành giả có thể tiến đến đoạn trừ khổ đau mà không bị một chướng ngại nào.
- Đối tượng Chân đế: gồm 4 đề mục Thân, Thọ, Tâm, Pháp; b. Phương tiện, Tinh tấn, Chánh niệm tỉnh giác; c. Phương pháp: ghi nhận hơi thở vào ra nơi mũi; d. Diễn tiến: Chánh niệm tỉnh giác trên đề mục phồng xẹp hay hơi thở hoặc đi đứng nằm ngồi và bất kỳ cử động nào trên thân; e. Phận sự: chế ngự năm triền cái (Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Thụy miên, Trạo hối, Hoài nghi); f. Kết quả: “bảy năm … có thể chứng một trong hai quả ngay trong đời hiện tại: một là vô lậu chánh trí nếu không thì quả bất hoàn. Nầy các Tỳ Khưu, không nhất thiết phải tu tập đến bảy năm, ... trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm hoặc bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng thậm chí bảy ngày có thể chứng đắc một trong hai quả vô lậu chánh trí hoặc quả bất hoàn”[15]
- Thiền Định (thiền chỉ): nhằm vào việc phát triển tuệ giác để thấu triệt mọi hiện tượngvà khẳng định một vị trí trong tiến trình thiền định.
- Đối tượng Tục đế, gồm 40 đề mục: (10 đề mụcKasiṇa(biến xứ), 10 bất tịnh tướng, 10 tùy niệm, 4 phạm trú, 4 vô sắc xứ, một tưởng (vật thực bất tịnh), một đề mục phân tích tứ đại); b. Phương tiện, tinh tấn, niệm và tỉnh giác; c. Phương pháp: chọn lựa trước một đối tượng duy nhất trong 40 đề mục; d. Diễn tiến: chú tâm trên đề mục duy nhất đã chọn; e. Phận sự: khắc chế năm triền cái tạm thời trong thời gian nhất định (Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Thụy miên, Trạo hối, Hoài nghi); f. Kết quả: tâm định và chứng đắc sơ thiền.
- Trú xứ, Những gì gắntiện nghi và đời sống định cư thoải mái như máy lạnh, tủ lạnh…phải từ bỏ vì sẽ bị chướng ngại do dính mắc trú xứ và tìm nơi vắng vẻ, độc cư tu tập.
- Gia đình, thân bằng quyến thuộcnhư cha mẹ anh em hoặc người hộ tăng. Bởi sẽ dính mắc tình cảm với họ, hãy chuyển đến trú xứ khác, cơ hội kia không xảy ra.
- Lợi dưỡng, là bốn vật dụng, vật chất thức ăn và nước uống bổ dưỡng. Một vị Tỳ khưuđược cư sĩdâng cúng tứ vật dụng, hành giả phải thuyết pháp và tụng kinh phúc chúc, hành thiền phần nào chướng ngại, hành giả nên đến trú xứ thanh vắng.
- Lớp học, Tỳ kheoluôn bận rộn chỉ dẫn đệ tử, phải giao nhóm đệ tử cho một vị thầy khác và ra đi tìm nơi hành thiền độc cư vắng vẻ.
- Xây dựng, đang xây dựng công trình gì đó, nên bàn giao công việc cho người khác điều hành.
- Du lịch,là đang đi Phật sự nơi nào đó phải hủy bỏ để có nơi cư trú ổn định cho việc hành thiền.
- Quyến thuộc, giáo thọ sư hay cha mẹ đau ốm, một làchăm sóc lành bệnh, hoặc giao công việc ấy cho ai đó.
- Ưu não,đang đau khổ do phải điều trị bệnh, nếu không lành cứ kiên trì tu tập mặc cho bệnh hoạn cho đến khi nào hết chịu đựng được thì thôi.
- Sách vở, Hành giảphải dừng nghiên cứu và tụng đọc kinh điển trong suốt giai đoạn hành thiền miên mật.
- Dục tham, sân, hôn trầm, thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ thiền….
- - Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?
- Dục tầm, sân tầm, hại tầm, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền.”[19].
- Quán xác chết hay 32 thể trược lông tóc răng da mủ... như trên có đề cập.
- Sau khi quán các thể trượt dơ bẩn đạt các tầng thiền, lúc ấy tự nó loại trừ tham ái.
- Hành giả chế ngự mắt tai mũi lưỡi thân ý không để chúng nghĩ tới lục trần khởi sinh tâm bất thiện như chúng tôi có đề cập lục căn lục trần.
- Biết tiết độ ăn uống, không ham muốn ăn quá nhiều sẽ sinh ham ăn.
- Có một người bạn đạo tốt trò chuyện đạo, ăn cơm có canh tu hành có bạn là vậy.
- Chỉ nói lời thích hợp, có ích cho mình cho người
- KHÓA TU HỌC CUỐI TUẦN 3 ngày 2 đêm
- PHÁP HỘI TRÙNG TỤNG KINH ĐIỂN PĀLI - VIỆT lần 7: 26/05 - 03/06/2023 (08/04 - 16/04 âm lịch) Nhân dịp Đại Lễ Vesak
- KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 4 NGÀY - SƯ PHƯỚC KHOA hướng dẫn 02/06 - 05/06/2023 (15/04 - 18/04 âm lịch)
- KHÓA TÂM LÝ TU TẬP - THIỀN VIPASSANĀ - TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC GIỚI, 3 ngày 09/06 - 11/06/2023
- KHÓA TU XUẤT GIA GIEO DUYÊN - lần thứ 15: 1 tháng (12/05 - 15/06 âm lịch) (29/06/2023 - 01/08/2023 dương lịch)
- KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 10 NGÀY MIÊN MẬT (15/06 - 25/06/2023) - SC GIỚI HIỀN HƯỚNG DẪN (ngưng nhận đăng ký)
- KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 20 NGÀY MIÊN MẬT (01/07 - 20/07/2023) - SC GIỚI HIỀN HƯỚNG DẪN
- KHÓA THIỀN VIPASSANĀ 10 NGÀY (25/06- 05/07/2023) - NGÀI TRÍ DŨNG HƯỚNG DẪN
- Khoá tu kỹ năng sống mùa hè Zencamp - cho thanh thiếu niên (13 - 17 tuổi)
Ths. Nguyễn Ngọc Hùng
TÀI LIỆU THAM KHẢO- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Không Phóng Dật, Bản in nội bộ 2016, tr 39.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Ngàn, Pháp Cú 110, 111, tài liệu đã dẫn, tr.39
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỷ Kheo - Pháp Cú 372, 373, tài liệu đã dẫn, tr.80.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tiểu Bộ Kinh, Kinh Pháp Cú, Phẩm Phật Ðà, Pháp Cú 181. tài liệu đã dẫn, tr.50.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, tập 1, Chương I – Hai Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr 71.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, T2, Chương IV – Bốn Pháp, Bản in nội bộ 2016, tr. 327-328.
- Thích Minh Châu (1993), Hành thiền, Ban trị sự Phật giáo Huế, tr.19.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya); Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.126.
- Tỳ khưu Hộ Pháp (2018), Nền tảng Phật giáo, quyển IX, Pháp Hành Thiền Tuệ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Hòa thượng Thích Minh Châu Việt dịch), Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya); 22. Kinh Ðại Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta). Bản in nội bộ 2016, t2, tr.301.
- Trang Thông tin cá nhân của Thiền viện Phước Sơn,https://www.facebook.com/PhuocSonMonastery/?locale=vi_VN, truy cập ngày: 21/7/2023.
Bình luận
Quan tâm nhất | Mới nhất
Bài viết khác
- [12/06/2023] Thư mời viết bài Hội thảo “Thiền Nguyên thuỷ (Theravāda) từ truyền thống đến hiện đại”
- [01/10/2021] Tương quan sinh học giữa Thiền và khủng hoảng tâm lý xã hội thời dịch bệnh Covid19
- [22/12/2020] Sách Hướng Dẫn Thiền
- [21/12/2020] Tứ ý nghĩa của chư pháp Siêu lý
- [07/04/2020] Mười pháp quán tưởng
