Những đóng góp về văn hóa của Theravāda- Phật giáo Nguyên thủy người Kinh từ khi du nhập 1938 đến 2022
Bài viết tham dự Hội thảo khoa học Văn hóa và phát triển: Các vấn đề lý luận và thực tiễn do Viện nghiên cứu Văn hóa tổ chức tháng 11-2022.
Tóm tắt
Văn hóa Phật giáo là một phần, là một bộ phận không nhỏ, có giá trị ảnh hưởng sâu sắc trong nền văn hóa Việt Nam, văn hóa Phật giáo ăn sâu vào đời sống tinh thần vật chất người dân Việt Nam từ khi du nhập đến nay. Vì vậy khi nói văn hóa Việt Nam mà không nói đến văn hóa Phật giáo là sự thiếu sót không thể thuyết phục và khó chấp nhận được. Vì thế trong bài tham luận này chúng tôi xin giới thiệu về văn hóa Phật giáo truyền thống Nam tông (Nguyên thủy) nhằm làm rõ hơn sự đóng góp to lớn của hệ phái này về văn hóa kể từ khi du nhập đến nay dù thời gian có khiêm tốn (1938-2022).
Từ khóa: Văn hóa Phật giáo Nam tông, Phật giáo truyền thống Nam tông, Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
Dẫn Nhập
Việt Nam nằm ở ngã tư giao lộ quốc tế Đông Nam Á, Bắc giáp sáu tỉnh đường biên giới Trung Hoa, Đông và Nam nhìn ra Biển Đông và Tây (Nam) có chung biên giới đường bộ với Campuchia và Lào và là nơi các thương buôn dừng chân giao lưu buôn bán. Từ đó, Việt Nam hình thành các mối quan hệ trao đổi thương mại, tiếp biến văn hóa và tôn giáo… Từ thế kỷ II, sau Tây lịch, Phật giáo truyền thống Bắc tông du nhập từ phương Bắc và nhanh chóng hòa vào đời sống người dân bản địa ở mọi giai cấp và tầng lớp xã hội Việt Nam đến nay, ăn sâu vào đời sống tinh thần vật chất của người dân Việt, trở thành giá trị tinh thần vô giá không gì thay đổi. Phật giáo thấm sâu vào nền văn minh lúa nước không mấy khó khăn, ăn sâu rộng khắp mọi hang cùng và có vị trí nhất định từ thượng tầng kiến trúc đến làng xã Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử khi du nhập đến nay, Phật giáo minh chứng sự đóng góp tích cực trong tất cả lãnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Mãi đến thập niên 30, Phật giáo truyền thống Nam tông du nhập Sài Gòn, làm thay đổi toàn bộ giá trị tinh thần vật chất mà trước đó Phật giáo truyền thống Bắc tông độc tôn hoàn toàn như y áo, Kinh tạng, ẩm thực, ngôn ngữ Hán tạng… Phật giáo truyền thống Nam tông (Nguyên thủy) làm phong phú, bổ sung các giá trị tinh thần thêm phần hoàn hảo mà trước đó không hề có ở Phật giáo truyền thống Bắc tông ngoại trừ Phật giáo Nam tông Khmer các tỉnh miền Tây Nam bộ, đặc biệt về văn hóa, Phật giáo Nguyên thủy đóng góp to lớn trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam nói riêng, trong nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc nói chung. Chúng tôi xin khái quát nhằm làm sáng tỏ thêm sự đóng góp phong phú về văn hóa của Phật giáo Nguyên thủy trong các giá trị Kinh tạng, y áo, ẩm thực và ngôn ngữ…kể từ khi du nhập 1938 đến nay.
1. Giai đoạn hình thành 1938 và các giá trị vật chất tinh thần được xác lập, phát triển đến 1975Từ năm 1943, Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[1]
Đọc đoạn văn trên đã gợi tạo chúng tôi nghĩ đến một hệ phái tôn giáo được du nhập vào Việt Nam với ngôn ngữ, đạo đức, (pháp) giới luật và cả kiến trúc…rất phù hợp với định nghĩa của Hồ Chí Minh. Hệ phái này du nhập vào Việt Nam từ năm 1938 có tên gọi Theravāda-Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, đến nay được gọi là Hệ phái Phật giáoNam tông Kinh để phân biệt với Nam tông Khmer, bác sĩ thú y Lê Văn Giảng và người bạn Nguyễn Văn Hiểu đã cùng nhau tạo lập nên ngôi già lam thiêng liêng và cổ kính, sau này trở thành Tổ đình Phật giáo Nam tông mà ngay sau khi kiết giới Sīmā ngày 15-4-1940, đặt tên chùa là Bửu Quang Tự (nay 171/10 QL 1A Phường Bình Chiểu, TP. Thủ Đức, TP. HCM, VN). (Ảnh dưới)
Từ sau ngày hình thành ngôi già lam truyền thống Phật giáo Nam tông, các tự viện không ngừng phát triển, điển hình như năm 1945 tại Bến Bình Đông, Quận 8, Sài Gòn, chùa Giác Quang (47 Lương Văn Can, Phường 15, Quận 8, TP.HCM, Việt Nam) được tạo lập[2]. Ngày 19-6-1922, chùa Kỳ Viên được tạo dựng. Năm 1954, chùa Kỳ Viên sửa chữa lớn trở thành ngôi già lam Phật giáo truyền thống Nam tông đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ[3]. Năm 1942, thiện nam Võ Hà Thuật mua khu đất 13ha tại Thủ Đức, Sài Gòn tạo dựng chùa Bửu Long (nay 81 Nguyễn Xiển, phường Long Bình, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Năm 1957, thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, thiện namVõ Hà Thuật hiến cúng giáo hội, từ đó, chùa thành cở sở tu thiền cho quần chúng tín đồ có nhu cầu.[4] Không dừng lại ở Sài Gòn, chùa tháp được mở rộng ra tận miền Trung, Trung phần, tiêu biểu như: năm 1953, Tỳ khưu Giới Nghiêm cùng các Phật tử tạo lập ngôi Tổ đình tại Đà Nẵng, chùa Tam Bảo 119c, Phan Chu Trinh, (nay 323 Phan Châu Trinh, Thành Phố Đà Nẵng). Năm 1956, lập ngôi già lam ở Huế, Tăng Quang Tự, tên tiếng Pāli: Sangharānsyarāma, hình thành và mở rộng ở Giạ Lê, chùa Định Quang tạo lập năm 1958.[5] Để có tư cách pháp nhân pháp lý, Tỳ khưu Giới Nghiêm cùng các Phật tử xin thành lập Tổ chức cư sĩ với tên gọi: HộiPhật giáo Nguyên thủy Việt Nam Trung phần.“Ngày 21-10-1955, ông Nguyen Đon Duyen, Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, ra Nghị định số 3716/ND/ PC,cho phép Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam được phép thành lập”,[6] (Văn thư Nghị định số 3716/ND/ PC, chophép Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Trung Phần, được phép thành lập 1955. Bản gốc tên ông Nguyen Đon Duyen không ghi dấu nên tác giả để nguyên, nguồn chùa Tam Bảo) lấy chùa Tam Bảo, Đà Nẵng, làm trụ sở Trung ương và hoạt động của Hội trên toàn bộ miền Trung Trung phần Việt Nam.Chư Tăng xuất gia ngày một nhiều, đi kèm là chùa tháp, tín đồ cũng ngày càng tăng, bên cạnh đó, Đà Nẵng đã thành lập hội cư sĩ với quy mô tổ chức có pháp nhân đã tác động phần nào tín đồ, Phật tử Sài Gòn. Ngày 10-6-1956, tại Sài Gòn, nhằm có tư cách pháp nhân hợp pháp, nhóm Phật tử cốt cán đệ đơn xin lập tổ chức cư sĩ: Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam (Thearavāda) gửi chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1963) phê duyệt.[7] Ngày 14-5-1957, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1963) chấp thuận cho phép hoạt động “Hội Phậtgiáo Nguyên thủy Việt Nam hoạt động theo quy chế các hiệp hội Đạo dụ số 10 ký ngày 6-8-1950[8]”.Năm 1957, Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam lập Ban Sáng Lập Giáo hội Tăng Già và Chưởng Quản Giáo hội tạm thời nhằm xin phép chính phủ Việt Nam Cộng hòa, công khai lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam.Ngày 20-02-1957, Ban Chưởng Quản Giáo hội tạm thời nộp “…đơn xin phép thành lập một Hiệp Hội lấy tênlà Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam”. “…Ngày 18-12-1957, Bộ Trưởng Nội vụ, ông Vũ Tiến Huân thừalệnh Tham Lý Nội An đóng dấu ký duyệt cho Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam hoạt động theo đạo dụ số10[9]”.Sau ngày 18-12-1957, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam có tư cách pháp nhân hợp pháp, vào lúc 14g ngày11, 12, 13-7-1958 (25, 26, 27-5, Mậu Tuất), Phật lịch 2502, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam tổ chức đại hội, tìmngười giữ nhiệm vụ Tăng Thống nhiệm kỳ thứ nhất (1958 – 1961), kết quả: “1. Đại đức Hộ Tông đắc cử Tăng thống; 2. Đại đức Bửu Chơn đắc cử Phó Tăng Thống nhứt; 3. Đại đức Thiện Luật đắc cử Phó Tăng Thống nhì; 4. Đại đức Kim Quang đắc cử Tổng Thư ký; 5. Đại đức Giới Nghiêm đắc cử Phó thư ký; 6. Đại đức Tối Thắng Cố Vấn; 7. Đại đức Giác Quang Cố Vấn[10]”.Như vậy, kể từ khi du nhập 1938 đến 1957, 19 năm tròn chẳn, Phật giáo Nguyên thủy từng bước cắm rễ sâu bền gốc, hòa nhập vào đời sống nhân dân bản địa tạo ra thế đứng chân vững chắc và phát triển chùa tháp không ngừng. Từ ngôi tự viện rộng 3ha với rừng cây cổ thụ tự nhiên phủ xanh cùng khắp đã mở rộng ra tận miền Trung Trung phần, đó là chưa nói đến ngôi chùa Sùng Phước, Phnôm Pênh, Campuchia được tạo lập ở nước ngoài bởi bác sĩ thú y Lê Văn Giảng cộng lại bước đầu cũng trên dưới mười chùa tạo tiền đề cho sự phát triển về sau cả trăm ngôi tự viện. Đặc biệt đã minh chứng được bản lĩnh tay chèo, lần lượt thành lập các tổ chức từ cư sĩ đến tu sĩ hợp pháp trong bối cảnh phân biệt kỳ thị, chèn ép tôn giáo mà ngoại bang và tay sai đã áp đặt bằng Đạo dụ 10 coi Phật giáo như một hiệp hội nhỏ bé.- Về văn hóa phẩm Phật giáo, Chùa tháp và tu sĩ là nơi gìn giữ và hoằng truyền văn hóa Phật giáo kể từ khi du nhập 1938 nói riêng và giáo pháp Thích Ca nói chung khi Ngài thành đạo. Khi nói đến văn hóa Phật giáo chúng ta nghĩ ngay đến Tam tạng Kinh điển, đó là tạng Kinh, tạng Luật và tạng Vi Diệu Pháp (có cách nói khác là tạng luận) và các lễ hội trong năm tính theo âm lịch, đó là tháng giêng, tháng tư, tháng sáu, tháng bảy, lễ hội dâng y Kathina (nửa cuối tháng 9 và nửa đầu tháng 10). Lễ kiết giới Sīmā mang tính đặt thù chỉ có ở Phật giáo Nguyên thủy….Khi nói về văn hoá Phật giáo nghĩa là nói đến sự nhận thức tư tưởng cốt lõi của Phật giáo trong Kinh tạng, (Tứ đế, Bát Chánh Đạo, 12 duyên khởi, ngũ căn, ngũ lực, vô ngã, 37 phẩm trợ đạo…), lần đầu tiên, Phật giáo Nguyên thủyxuất bản Kinh sách, văn hóa phẩm hoằng truyền tư tưởng Phật giáo truyền thống Nam tông, đó là năm 1937, Quan Thủ Hiến Đông Pháp, chấp thuận xuất bản tạp chí ÁNH SÁNG PHẬT PHÁP mỗi tháng một kỳ, văn phòng đặt tạichùa Sùng Phước, Phnôm Pênh, Campuchia, ban dịch thuật, biên tập do ông Lê Văn Giảng đảm nhiệm.Bên cạnh đó biên soạn Kinh tụng, Tỳ khưu Hộ Tông, đã Việt dịch từ bản tiếng Anh, Pāli, và Khmer một sốKinh sách. Việt dịch Kinh tụng Khmer dưới dạng song ngữ như Pāli – Khmer thành Pāli – Latin và Pāli – Việt,“Kinh cúng Tam Bảo” ấn hành năm 1953; soạn bộ “Kinh nhật tụng dành cho chư Tăng”. “Kinh nhật hành cho ngườicư sĩ” gồm những bài tán dương Phật, Pháp, Tăng gọi là Kinh Tam Bảo. “Kinh nhật tụng dành cho chư Tăng” là Kinhcầu an, cầu siêu cho các tín đồ, Kinh quán tưởng Tứ Niệm Xứ hướng dẫn chư Tăng con đường tu tập thành đạo. Năm1955, Tỳ khưu Bửu Chơn soạn Kinh “Nhân Quả Liên Quan” giải thích về 12 nhân duyên, trích lục theo Tam TạngPāli; quyển “Pháp Xa”, ấn tống năm 1956, hướng dẫn pháp hành đạt thành tựu giải thoát.Năm 1956, Tỳ khưu Hộ Tông soạn một số sách như: “Phật giáo Đại cương”; Năm 1958, Tỳ khưu Bửu Chơn soạndịch “Cư Sĩ Thực Hành” hướng dẫn con đường tu tập, Pháp sư Thông Kham soạn “Pháp Môn Thiền Định”, hướng dẫnvài phương pháp thiền định, “Đế Thích Vấn Đạo”, “Ba ngày vấn đạo”… Các dịch giả, tác giả, tiêu biểu giai đoạn đầu như: Tỳ khưu Hộ Tông, Tỳ khưu Bửu Chơn, Tỳ khưu Giới Nghiêm, Tỳ khưu Tịnh Sự và các tín đồ Phạm KimKhánh, Trùng Quang, Huỳnh Văn Niệm, Hồ Đắc Thăng. Thầy Sáu Hoa, thầy Ba Diên và thầy Ba Lý là những nhàdịch thuật nhiều uy tín. Thầy Ba Lý dịch nhiều bài Kinh trong quyển Kinh Nhật Tụng bằng lối văn vần như tiểu sử Phật Thích Ca, Kinh Vô Thường Khổ Não, Kinh Phật Nhập Niết bàn, Vô Ngã. Sau thời kỳ đổi mới 1986, nhiều tác phẩm được tái bản hay xuất bản mới của nhiều tác giả với các tác phẩm: Nguyễn Văn Sáu có: “Bước đầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam, (2007), Nxb Tôn giáo Hà Nội”. “Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, (1997)”. Phật giáoNguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại, (2014), Nxb Hồng Đức, Sài Gòn. Hòa Thượng Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) có: Kinh lời vàng (Phổ thơ kinh Pháp cú - NXB Thuận Hóa), Phật học tinh yếu (Tập I - NXB Phương Đông), Một cuộc đời - Một Vầng Nhật Nguyệt (Bộ Đại sử Đức Phật Sàkya Muni - Tập I,II,III – 1.500 trang - NXB Văn Học), Thắp lửa tâm linh (Truyện danh tăng - Tập I,II - NXB Thời Đại), “Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam sơ lược (2021)”… Thiện Hậu có: “Hệ phái Phật giáo Nam Tông Kinh Việt Nam (1938-1963), (2017)”, Nxb Hồng Đức. Nguyễn Ngọc Hùng có: “Bia ký Lược sử Tổ đình Bửu Quang” khắc đá hoa cương tại bổn tự và các bài viết trong các Hội thảo quốc gia như: “Hệ thống tổ chức Phật giáo Nguyên thủy (tộc người Kinh) Việt Nam 1938-1963, (2021)”. “Phật giáo Nguyên thủy trong cuộc vận động 1963” (2021). “Từ Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam đến Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh, Những Biến Đổi Thăng Trầm Của Lịch Sử Trong Tiến Trình Phật Giáo Việt Nam” (2021). “Hồ Chí Minh và Phật giáo các triều đại đi cùng vận nước, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam Đồng Hành Cùng Dân Tộc” (8-5-2022).
- Về sinh hoạt văn hóa tập trung và văn hóa thiền Phật giáo, các tự viện tụng kinh mỗi ngày, sáng, chiều. Mặc định, mỗi tháng vào các ngày 14; 30 (29 nếu tháng thiếu) theo âm lịch Việt Nam chư Tăng thuyết pháp, truyền bá giáolý Phật giáo Nam tông. Các Pháp sư thuyết pháp gồm: Tỳ khưu Thiện Luật, Tỳ khưu Hộ Tông, Tỳ khưu Bửu Chơn,Tỳ khưu Hộ Giác, Tỳ khưu Huệ Nghiêm và Tỳ khưu Giới Nghiêm. Nổi tiếng nhất là pháp sư Thông Kham đượcmời thuyết pháp tại Kỳ Viên Tự từ năm 1945 do thuyết giảng hay, có phương pháp thu hút nhiều tín đồ cầu đạo. Nộidung buổi thuyết pháp được xuất bản với “giấy phép xuất bản số 354/TXB ngày 11 tháng 6 d.d. 1952 của Nha GiámĐốc Thông Tin Nam Việt”[11].- Về văn hóa thiền Phật giáo, các khóa thiền Tứ Niệm Xứ được tổ chức thường xuyên, nhất là các chùa Bửu Quang, Giác Quang, chùa Tam Bảo Đà Nẵng, chùa Huyền Không Sơn Thượng ở Huế, chùa Bửu Long là nơi tu thiền, hiện nay Hòa thượng Bửu Chánh, Viện chủ Thiền viện Phước Sơn tại Đồng Nai đã xây dựng nơi đây thành làng thiền, liên tục trong năm mở các khóa thiền 10 ngày, 1 tháng và mời các thiền sư Myanmar về hướngdẫn. Bên cạnh đó, hầu như tất cả các tự viện đều hướng dẫn và thực hành thiền cho các tín đồ…Thiền Tứ Niệm Xứ là thuật ngữ chỉ 4 phép quán tưởng: 1. Quán thân: sống quán thân trên thân; 2. Quán thọ: sống quán thọ trên các thọ; 3. Quán tâm: sống quán tâm trên tâm; 4. Quán pháp: sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Kinh Tứ Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna) là cốt lõi của Thiền Phật Giáo… được xem là bài kinh dạy thực hành thiền Phật giáo.- Về Luật tạng, năm 1943, ông Lê Văn Giảng soạn dịch, “Luật xuất gia” tập 1, 2 dựa vào bản tiếng Anh, Pāli vàKhmer, sách dày 500 trang cho Sa di, Tỳ khưu áp dụng giới luật cơ bản trong đời sống tu sĩ. Năm 1943, Tỳ khưu Hộ Tông, xuất bản “Luật Tu Xuất Gia” tóm tắt, quyển thượng (Ảnh bên). “Luật xuất gia” là giới luật mà người tu sĩ phảithực hành gìn giữ, đồng thời giới thiệu các nghi lễ như sám hối, xuất gia, nghi lễ dâng y Kathina, kiết giới Sīmā. Sau này Tỳ khưu Chánh Thân (Indacanda, Trương Đình Dũng) Việt dịch trọn bộ Luật tạng dựa vào bản Pali của trường Đại học Mahidol (Thái Lan).- Phân Tích Giới Tỳ Khưu (2 tập);
- Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni;
- Đại Phẩm (2 tập);
- Tiểu Phẩm (2 tập);
- Tập Yếu
- Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgani);
- Bộ Phân Tích (Vibhaṅga);
- Bộ Nguyên Chất Ngữ (Dhātukathā);
- Bộ Nhân Chế Ðịnh (Puggalapaññatti);
- Bộ Ngữ Tông (Kathāvatthu);
- Bộ Song Ðối (Yamaka);
- Bộ Vị Trí (Paṭṭhāna).
Bên cạnh đó còn có những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma của Hòa thượng Tịnh Sự được các trường Phật Học Thái Lan sử dụng:
- Vi Diệu Pháp sơ cấp;
- Vi Diệu Pháp trung cấp;
- Vi Diệu Pháp cao cấp;
- Diệu Pháp Lý Hợp.
- Về lễ hội liên quan đến Phật giáo truyền thống Nam tông ở Việt Nam có các lễ hội:
- Rằm tháng Giêng là ngày lễ lớn đánhdấu cuộc đời hoằng pháp của đức Thế Tôn. Đó là: Kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kinh Ovada-patimokkha (Giải thoát giáo). Nội dung kinh Ovada-patimokkha cô đọng toàn bộ giáo pháp cũng như phương thức tu tập thực hành trong hoằng pháp. Ba câu ấy là: 1. Không làm mọi điều ác, (PC 183); 2. Nhẫn, khổ hạnh tối thượng, (PC 184); 3. Hộ trì giới căn bản, (PC 185).
- Rằm tháng Tư, đại lễ Tam Hợp, kỷ niệm ba sự kiện: Bồ tát đản sanh (không nói Phật đản vì đã thành Phật còn sanh cái gì nữa), Bồ tát thành đạo và đức Phật Niết Bàn.
- Rằm tháng Sáu, có nhiều ý nghĩa như Bồ tát hạ trần, Bồ tát xuất gia, đức Phật chuyển pháp luân, đức Phật chinh phụcngoại đạo và lên cung trời Tāvatiṃsā thuyết tạng Vô Tỷ Pháp độ thân mẫu.
- Rằm tháng Bảy, tín đồ Phật giáo Bắc tông là ngày lễ truyền thống, ăn sâu vào tâm hồn họ. Kinh điển Phật giáo truyền thống Nam tông không ghi chép Rằm tháng Bảy. Phật giáo Nguyên thủy tại Việt Nam dung hòa với Phật giáo Bắc tông về lễ hội Rằm tháng Bảy “…Mục đích nêu cao tinh thần hiếu hạnh của người Phật tử đối với quyến thuộc thân nhân đã quá cố”[13].Trong kinh tạng Nikaya, đức Phật thuyết nhiều về đạo hiếu với cha mẹ, thầy tổ, về ơn nuôi dưỡng của đấng sinh thành, Kinh tụng Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam cũng có các bài kệ: Kệ Sám Hối Phụ Mẫu (KX). Đãnh lễ mẹ, đãnh lễ cha. Kệ Sám Hối Phụ Mẫu (HK).
- Rằm tháng Chín, ngày 15-9, âm lịch hàng năm, các tự viện Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam tổ chức lễ kết thúcAn Cư Mùa Mưa (Tự tứ), đồng thời, bước vào mùa dâng y Kathina trong một tháng, từ 16-9 đến hết ngày 15-10 theo âm lịch (có cách gọi khác là nông lịch Việt Nam) tại các ngôi già lam.Các lễ hội văn hóa rằm tháng giêng, tháng tư, tháng chín được tổ chức buổi sáng và suốt đêm. Ban ngày tín đồ, Phật tử đến cúng dường trai tăng, đặt bát hội (tháng giêng, tháng tư, tháng bảy, tháng chín), lễ quy y, lễ thuyết pháp; ban đêm thọ hạnh đầu đà, trong đó: Thuyết pháp, chiêm bái Xá lợi, hành thiền, vấn đáp Phật pháp, Phật tử vàchư Tăng phát nguyện thọ hạnh đầu đà, ngăn oai nghi nằm: Đêm không ngủ tưởng nhớ các bậc thánh nhân vĩ đại,cúng dường đức Từ Phụ.
Trong các lễ hội văn hóa của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, lễ hội dâng y Kathina tại các tự viện diễn rasôi nổi, đông vui hơn các lễ hội rằm tháng giêng, rằm tháng Tư, rằm tháng sáu, rằm tháng bảy. Ngoài ra, mỗi tự viện chỉ được tổ chức lễ dâng y Kathina một lần trong tháng ấy thôi.
- Về ngôn ngữ, kinh điển Phật giáo Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo Nam truyền tạng Pāli và Phật giáo Bắc truyền, Hán tạng. Tạng Pāli tam tạng đã dịch Việt hoàn chỉnh, chú giải chưa dịch Việt đầy đủ và phổ biến rộng rãi mà thôi và tạng Hán được dịch Việt gần như hoàn toàn, tạo ra thuận lợi cho Tăng Ni và Phật tử nghiên cứu pháp học, pháp hành và tụng niệm. Phật giáo Nguyên thủy sử dụng ngôn ngữ Pāli, trong hệ thống kinh tụng và hoằng truyền giáo pháp, chư Tăng và tín đồ bắt buộc phải đọc tụng và học ngôn ngữ Pāli, đây chính là bản sắc riêng của Phật giáo Nguyênthủy và điều này dễ hiểu tại sao người tu hệ phái này không nhiều là vậy. Để Phật giáo Việt Nam có bản sắc chung, đồng thời cùng phát triển và hội nhập là điều không dễ dàng gì nhất là trong nghi lễ, ẩm thực và ngôn ngữ.Trong lịch sử các nước, Phật giáo trở thành Quốc giáo như Lào, Thái Lan, Camphuchia, Myanmar, Butan, Việt Nam (thời Lý, Trần). Việt Nam ảnh hưởng sâu sắc hai nền văn minh lớn, văn hoá đồ sộ là Ấn Độ và Trung Hoa, tác động không nhỏ đến nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và văn hoá Phật giáo Việt Nam nói riêng trong suốt thời gian du nhập và hòa nhập. Từ 1938, khi du nhập văn hóa Phật giáo Nguyên thủy từ Campuchia, văn hóa Phật giáo ảnh hưởng rất sâu và dung hợp với văn hóa bản địa, tạo thành bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam truyền thống Phật giáo Nguyên thủy khác biệt hẳn Phật giáo Nam tông Khmer hay Khất sĩ dù hệ phái này dung hợp hai truyền thống Bắc và Nam tông, càng khác biệt rõ nét hơn với truyền thống Phật giáo Bắc tông.
2. Giai đoạn 1975 đến 1981 thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và nay 2022
Ngày 30-4-1975, hai miền Nam Bắc thống nhất đã tạo thuận lợi hơn cho Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam phát triển và đồng hành cùng dân tộc mà trước đó Pháp nạn 1963 vào sinh ra tử cũng chẳng từ nan, góp phần bảo vệ, bảo tồn, khẳng định văn hóa dân tộc chống văn hóa ngoại lai Pháp, Mỹ…gìn giữ tinh thần của văn hóa Phật giáo. Trong sâu xa, Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam tham gia Phong trào Phật giáo miền Nam 1963 nhằm bảo vệ văn hóa dân tộc không bị tổn hại và không dễ cho chúng ta nhìn thấy cái bề nổi ồn ào lấn át đó. Phật giáo Nguyên thủynăm 1963 trở đi là dấn thân ở mặt trận văn hóa chỉ là không còn cách nào khác chứ không có gì hay cả, chỉ vì Pháp nạn vì văn hóa dân tộc bị xâm hại nên phải sống mái tranh đấu sinh tồn.
Năm 1981, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam thành lập, ngôi nhà chung của 9 đoàn thể Phật giáo cả nước. Nhiệm kì VIII (2017 – 2022), trong các ban ngành có Ban Văn Hóa: Đại Đức Tăng Định, Đại Đức Bửu Chánh cùng là ủy viên đã tích cực hoạt động không ngừng nghỉ nhất là Thiền viện Phước Sơn rất tích cực mỗi ngày đã đem lại đời sống an lạc cho những ai tìm về chốn tâm linh này.Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, Nhiệm kỳ 2022 – 2027 diễn ra ngày 28, 29 tháng 11 năm 2022 tại Cung Văn hóa hữu nghị Việt – Xô, Thủ đô Hà Nội. Ngày 28-11-2022, Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Xuân Phúc đã traotặng Hoà thượng Thích Bửu Chánh (Ủy viên Thư ký: Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Văn hóa Trung Ương. Phó Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai) Huân Chương Lao Động Hạng Ba vì thành tích xuất sắc trong công tác phụng sự Đạo Pháp và Dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc.
- Về các ngôi tự viện và kiến trúc Phật giáo, tính đến ngày 29-12-1976, tổng số 44 ngôi tự viện trên cả nước. “Một số chùa được trả lại cho giáo hội quản lý như Phước Hải, Tam Bảo, Thích Ca Phật Đài… Một số chùa tháp được xây dựng thêm trong tỉnh Đồng Nai như chùa Thiền Quang I, Thiền Quang II, Quảng Nghiêm, Tam Phước, Ngọc Đạt, Y Sơn, Phước Hộ, Cồ Đàm, Bửu Đức, Linh Phú, Từ Thiện, Thái Hòa, Quang Minh, Phước Huệ…Đặc biệt Thượng Tọa Viên Minh tạo lập Thiền Viện Viên Không tại Núi Dinh, Bà Rịa – Vũng Tàu với ý định xây dựng thành làng thiền của Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam[14]”.Năm 2017, cả nước có 128 ngôi tự viện Phật giáo Nguyên thủy, trong 63 tỉnh thành cả nước, 23 tỉnh thành có các ngôi già lam hiện diện, chiếm tỷ lệ 1/3, rất khiếm tốn so với 40 tỉnh còn lại. Các tự viện đã hình thành ở miền Bắc như: chùa Phúc Minh, Thôn La Nguyễn, xã Minh Quang, xã Minh Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa Hộ Pháp, Đào Xuyên, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Nam Thiên Thiền Tự (Nội Phật), thôn Nội Phật, xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Thiền viện Tâm Pháp, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Chùa Đức Hòa, thôn Bến, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Thiền viện Đại Hóa,bản Tén Tằn, xã Tén Tằn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Đó là chưa kể 58 ngôi già lam ở nước ngoài do chư Tăng ra nước ngoài định cư hay hoằng pháp như Phần Lan có chùa Đại Thọ, Ấn Độ có chùa Đại Lộc, chùa Đại Phước ở Campuchia…Chùa càng nhiều rộng khắp trải dài các miền đất nước, cả ở nước ngoài đồng nghĩa đạo đức văn hóa Phật giáo lan tỏa khắp hang cùng ngõ hẻm đem lại lợi ích đời sống đạo đức, nhân văn nơi nào mà ngôi già lam ấy dừng chân, góp phần cho xã hội thêm phần tươi đẹp, bình yên.- Về kiến trúc chùa tháp Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam có nét đặc trưng riêng, không tiêu chuẩn gì ngoài sự hài hòa với cảnh trí xung quanh, cổ kính, xanh mát, thanh tịnh, yên bình, hòa quyện với không gian tạo nên thuần thiết,nhiều khi vắng lặng khác hẳn thế giới bên ngoài, bao trùm không gian và thời gian, ảnh hưởng kiến trúc, màu sắc, tôn tượng Myanmar, Thái Lan và Campuchia…Các chùa có kiến trúc mặt tiền chánh điện nhìn ra hướng Đông và trồng rừng cây xanh cao vút ngút ngàn vừa thâm u linhthiêng, cảm giác như đang ở cảnh giới nào thanh tịnh thần tiên chứ không phải cõi u mê lắm sầu bi chốn Ta Bà. Hầu hết các tự viện chưa quy hoạch tổng thể nên nhiều công trình xây dựng ngẫu hứng phá vỡ cảnh quan và tính thiêng liêng của ngôi già lam vốn thanh tịnh hiền hòa.- Về văn hóa Phật giáo với đạo đức xã hội và gia đình, tạng Kinh và tạng Luật đề cập rất rõ về vấn đề này. Ví dụ trong Kinh lễ bái sáu phương đức Phật dạy rằng: "Này gia chủ, phương đông được hiểu là cha mẹ. Người con nên làm năm việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng. Ðáp lại, đối với con, cha mẹ nên làm năm việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai là dạy con làm việc lành. Ba là hướng dẫn nghề nghiệp. Bốn là tác thành gia thất. Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp. Ðó là cách lễ bái phương đông tức đạo nghĩa cha mẹ con cái".Với ví dụ tiêu biểu trên, kể cả phần rằm tháng bảy chúng tôi đã nói đến, đạo đức xã hội mà đức Từ Phụ đã dạy về thầy tổ, về người hôn phối, bạn bè, cả người giúp việc và sa môn cộng với 5 giới đạo đức của người tại gia: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu và các chất say đã bao trùm toàn bộ đời sống xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trong các bộ luật của họ cũng đều nhắc đến nhưng không thể tránh những điều ấy, tội phạm luôn đầy ứ các nhà tù.Vì cớ sao? Vì trong số họ nếu theo học Phật pháp sẽ góp phần giảm tệ nạn xã hội đáng kể, vi phạm pháp luật sẽ rất hạn chế, không có pháp học và pháp thực hành các điều ấy chúng ta dễ dàng phạm tội không chút đắn đo cân nhắc vì không biết sợ nhân quả. Sợ nhất kẻ vô đạo không tôn thờ giáo chủ một tôn giáo nào, có lẽ chúng thiếu một nền giáo dục đạo đức chuẩn mực mà bất kỳ xã hội nào cũng hằng mong. Đó chính là sự kém văn hóa của một bộ phận xã hội mà văn hóa Phật giáo đã góp phần khỏa lấp chỗ kém ấy nhằm làm cho xã hội bình yên tốt đẹp hơn.- Về ngoại giao văn hóa và giao lưu văn hóa với các nước Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và phương Tây… Phật giáo truyền thống Nam tông ở Việt Nam cũng đã xác lập vị thế đối với Phật giáo thế giới là tham gia đóng góp các hoạt động Phật sự trên phạm vi quốc tế. Đặc biệt, tại Rangoon, Myanmar, kiết tập lần 6, Phật lịch 2.500,Dương lịch 1954, đã mời chư Tăng Phật giáo truyền thống Nam tông Việt Nam (người Kinh) tham dự gồm: Tỳ khưuHộ Tông, Tỳ khưu Hộ Nhẫn,Tỳ khưu Bửu Chơn, Pháp sư Hộ Giác, Pháp sư Thông Kham và Tu nữ Diệu Đáng…Tỳ khưu Bửu Chơn đọc diễn văn khai mạc bằng tiếng Pāli và tiếng Anh. Tỳ khưu Bửu Chơn và Pháp sư Hộ Giáccó tên kết tập phần 1 trong 5 phần kết tập, góp sức trí tuệ cho đại hội kiết tập Tam tạng. 12 vị tăng được công nhận giỏi, trong đó Pháp sư Hộ Giác là một trong 12 vị của Phật giáo truyền thống Nam tông thế giới. Bên cạnhhoạt động tham dự kiết tập lần 6, các họat động Phật sự của Tỳ khưu Bửu Chơn còn tham dự sau: Dự lễ kỷ niệm2.500 Phật lịch tại Rangoon, Myanmar từ ngày 22 đến ngày 27-5-1956, dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống và Thủ tướng Myanmar;[15] Ngày 15-11-1956, dự hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ tư tại Kathmandu, Nepal; Từ ngày 24đến ngày 30-11-1956, tại Newdelhi, Ấn Độ dự hội nghị triết học.[16]Khi Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam thành lập thì chư Tăng đóng góp cho Phật sự quốc tế nhiều hơn. Ta có thể nêu, từ ngày 27-8-1958 đến ngày 9-9-1958, Tỳ khưu Bửu Chơn dự Hội nghị quốc tế về lịch sử Tôn giáo lần thứ9 tại Tokyo. Từ ngày 11 đến ngày 24-9-1960, dự Hội nghị quốc tế về lịch sử Tôn giáo lần thứ 10 tại Tây Đức.[17] Năm 1960, tại Thái Lan, Tỳ khưu Bửu Chơn được đề cử làm Phó Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới trong lần Đại hội thứ 5.Ngày 2-11-1961, với tư cách Phó Chủ tịch trong Ban Chấp hành Hội Phật Giáo Thế giới, Tỳ khưu Bửu Chơntham dự Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ 6 tại Phnom Penh.[18] Từ ngày 24 đến ngày 30-11-1958, Tỳ khưu HộTông, Tỳ khưu Kim Quang (Ngô Văn Sáu) và thiện nam Nguyễn Hữu Quy đi dự Hội nghị quốc tế lần thứ V tại VọngCác.Đặc biệt năm 1979 đau thương, Phật giáo Campuchia bị suy vong, tất cả sư sãi bị buộc hoàn tục. Chính phủ Việt Nam và Ban Tôn giáo Việt Nam đã cử đoàn chư Tăng, cư sĩ, thành viên 12 vị gồm Trưởng đoàn, Hòa thượng Bửu Chơn và Phó đoàn, Hòa thượng Giới Nghiêm dẫn đầu sang Campuchia ngày 19-9-1979, khôi phục lại Phật giáo Campuchia gồm: Thượng tọa Siêu Việt đảm nhiệm Yết ma truyền giới cho bảy vị tăng sĩ Campuchia, 50 tuổi, thấp nhất có 3 vị (Ngài Ken Von; Dinh Sa Rum; Tep Von), cao tuổi nhất: 80 tuổi là Ngài Cot Vai; có 2 vị 60 tuổi (Ngài Ich Sim, Non Nget); và Ngài Bru Dit: 70 tuổi[19]. Từ sau ngày đó, Phật giáo Campuchia được phục hồi, tồn tại và phát triển đến nay.“... trong Ban Phật giáo quốc tế, đóng góp chung cho Phật giáo Việt Nam. Chư Tăng Hệ Phái Nam tông Kinh hoạt động tích cực như, Hòa thượng Siêu Việt, Tỳ khưu Thiện Tâm, Hòa thượng Hộ Pháp, Thượng tọa Tăng Định, Thượng tọa Bửu Chánh, Thượng tọa Minh Giác, Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Pháp Chất…[20]”.“Về lĩnh vực văn hóa Phật giáo miền Trung là cái nôi văn hóa lịch sử, cho nên phong phú và đa dạng hơn rất gấp nhiều lần phía miền Nam. Và các lễ hội văn hóa các khóa tu cũng tăng cường lên gấp rất nhiều lần so với thời kỳ những năm 1975, 1990 với trang phục nghi lễ cực kỳ phong phú. Phật giáo Nam Tông tại Huế có phần giao thoa mạnh với lại văn hóa Bắc tông qua những âm điệu tụng kinh. Giao thoa rất mạnh với văn hóa Thái Lan với các trang phục trong các khóa tu gieo duyên và các nghi lễ theo truyền thống Nam Tông. Về phía Phật giáo Nam Tông Quảng Nam Đà Nẵng có sự giao thoa rất mạnh trong các năm…2021, 2022 với Phật giáo Nam tông Lào tại các vùng biên giới đã đi vào thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam”[21]. Đối với Phật giáo “đối thoại thay cho đối đầu, từ bi hỷ xả”, chính trị, kinh tế và ngoại giao văn hóa đi liền nhau vì văn hóa tinh thần là nền tảng vững chắc, là động lực phát triển kinh tế xã hội bền vững; là nhân tố tạo ra sức mạnhtổng hợp của quốc gia. Vì thế, ngoại giao văn hóa góp phần nhất định trong việc gìn giữ hòa bình, thúc đẩy phát triển đất nước, tạo sự đoàn kết gắn bó giữa các quốc gia thông qua các kênh ngoại giao tôn giáo.Vì thế, ngoại giao văn hóa Phật giáo phải gắn liền với văn hóa dân tộc, dùng văn hóa Phật giáo như là phương tiện ngoại giao tạo hình ảnh tốt đẹp về Phật giáo Việt Nam nhằm thúc đẩy sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau, thông qua đó bản sắc văn hóa dân tộc được giới thiệu toàn diện ở các cấp. Đại lễ kiết tập lần 6 ở Myanmar, phục hồi Phật giáo nước bạn Campuchia năm 1979 và Vesak 2019 chùa Tam Chúc… cho ta thấy được sự cần thiết và thành công của văn hóa Phật giáo về ngoại giao, giao lưu văn hóa Phật giáo trong các thời kỳ khác nhau kể từ năm 1938 đến nay.- Về Pháp phục Phật giáo, Phật giáo truyền thống Nam tông đều thống nhất, nghiêm túc gìn giữ truyền thống ba Y theo Luật tạng Pāli quy định, “Này các tỳ khưu, ta cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi (tăng-già-lê) hai lớp, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) một lớp, và y nội (antaravāsakaṃ) một lớp.”[22] Pháp phục Phật giáo truyền thống Nam tông biểu hiện rõ nét bản sắc đặc thù, có từ khi đức Thế Tôn hiện tiền, khác xa thường phục ngoài đời, trông rất oai nghi, đẹp tăng tướng, phạm hạnh, trong chùa mặc hở vai phải (ảnh bên), khi ra khỏi trú xứ chư tăng phải trùm y kín mình, gọi là lăm y (ảnh bên). Pháp phục Phật giáo truyền thống Nam tông nói riêng sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày và trong nghi lễ tôn giáo nói chung.
Pháp phục Phật giáo truyền thống Nam tông góp phần đa dạng, phong phú kho tàng văn hóa y phục ở Việt Nam mà trước đó chưa hề có, thể hiện rõ nét đặc thù, tạo nên bản sắc văn hóa riêng của Phật giáo Nam tông Việt Nam. Theo truyền thống Pāli, Y có màu hoại sắc, vàng đậm, da bò và màu măng cụt, không sử dụng màu lam hay nâu (ảnh trên).
Hiện nay pháp phục Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo Nam tông Kinh, trung thành kế thừa với truyền thống, thể hiện tinh thần cốt lõi Pháp phục Phật giáo, (y 5 điều), sử dụng nghiêm túc về kiểu dáng, màu sắc quy định và chưa thống nhất theo giáo phẩm, giới phẩm cụ thể. Pháp phục Phật giáo Nam tông Kinh, Tăng có nhiều màu khác nhau đã kể trên, riêng yphục Tu nữ 3 màu, dựa vào mẫu Thái Lan, Lào và Myanmar. Pháp phục của cư sĩ thời Như Lai hiện tiền đều mặc quần áo trắng gọi là Bạch y cư sĩ, hiện nay các nước quốc giáo như Thái, Myanmar, Lào, Campuchia… đều duy trì quần áo trắng, riêng Việt Nam chưa duy trì được vì thời gian du nhập chưa đủ dài để thẩm thấu và nâng cao ý thức của các tín đồ thuần thành, hiện nay có một bộ phận tín đồ cố gắng làm gương, khuyến khích mặc quần áo trắng.
- Về văn hóa ẩm thực Phật giáo, Phật giáo Phát triển (Bắc tông) và Phật giáo Khất sĩ ăn chay (rau củ quả). Phật giáo truyền thống Nam tông thọ dụng không chay không mặn, ai cho gì ăn nấy miễn là nấu chín, mỗi sáng đi bát khắp nơi, bất kỳ thực phẩm nào như rau củ quả, thịt cá, tôm, cua… chúng sanh bố thí đặt vào bát thì nhận lấy, không được từ chối, (nếu là tiền, vàng bạc được từ chối), đầy bát dừng lại, tìm khu rừng, gốc cây, trú xứ gần nhất thọ dụng. và “…thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly.”[23].“sống biết đủ, bằng lòng với …đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (… bình bát)” [24]. Theo Trung Bộ Kinh, Kinh Jìvaka (Jìvaka sutta).“Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng”[25].Theo giới luật chư tăng không ăn chiều, không đi bát vì “Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và bảo: "Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ ăn ban ngày phi thời… hãy từ bỏ ăn ban đêm phi thời"[26].
Như vậy, căn cứ theo Kinh tạng người tu không nhất thiết ăn gì mà tu như thế nào đúng pháp mới quan trọng, còn ăn gì thì tùy duyên có gì ăn nấy, không cố chấp phải chay mặn mới là tu, đức Phật có ăn chay đâu, ai bảo Phật dạy ăn chay thì cần dẫn nguồn mới thuyết phục hay đó chỉ là người đời sau thêm thắc mà thôi. Cần xem lại giáo pháp nào đã cố tình dạy lệch tư tưởng Phật Thích Ca ngoài những lời của Tổ sư nước ngoài mà ta lầm tưởng nghe theo.
Kết luận
Văn hóa Phật giáo truyền thống Nam tông mà chúng tôi khái lượt qua từ khi du nhập 1938 đến nay đã minh chứng rõ nét là một bộ phận của nền văn hóa dân tộc, hòa nhập vào nền văn hóa mấy ngàn năm dù thời gian khiêm tốn nhưng những đóng góp về những hoạt động lễ hội và sinh hoạt cộng đồng đã tác động không nhỏ vào tâm hồn nếp nghĩ của nhiều người dân bản địa và làm thay đổi hẳn đời sống sinh hoạt tinh thần và vật chất cả cộng đồng quần chúng tín đồ theo chiều hướng phát triển vương lên và thực hành theo giáo pháp Nguyên thủy. Những hoạt động văn hóa trong các lễ hội, tư tưởng trong giáo pháp, đạo đức trong giới luật, lối sống phạm hạnh của chư Tăng và tín đồ Phật giáo giữ gìn 5 giới đạo đức góp phần tạo nên bản sắc cốt lõi, hòa nhập vào sự phát triển văn hóa Việt Nam.
Phật giáo truyền thống Nam tông đã ngấm sâu trong đời sống tinh thần một bộ phận người dân, gắn bó tự nhiên với cộng đồng người Việt một cách hài hòa, lâu dài trong suốt thời gian du nhập và hòa vào đời sống kinh tế, xã hội, chính trị đã đem lại những đóng góp nhất định nào đấy cho định hướng văn hóa, tư tưởng, kinh tế và cả chính trị trong lịch sử Việt Nam. Phật giáo tham dự sâu sắc, len lõi vào văn hóa Việt tận cùng sâu thẳm với tư cách là một phần của văn hóa tinh thần trong đời sống. Đến với Phật giáo là tìm về sự an lạc giải thoát, trí tuệ và phát triển văn hóa nội tâm, lấy trí tuệ đẩy lùi vô minh từ vô thủy, diệt trừ tham, sân, si trong mỗi bản thân con người chúng ta hàng ngày.
Từ khi du nhập Phật giáo truyền thống Nam tông Việt Nam số lượng tín đồ dù khiêm tốn nhưng cũng đủ xiển dương giá trị đạo đức của giáo pháp giới luật, vì chúng sinh đau khổ cõi Ta Bà, vì đất nước bình yên. Với giá trị tư tưởng “Từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha” nhân văn, Phật giáo truyền thống Nam tông đã hòa mình vào nền tư tưởng văn hóa dân tộc Việt Nam, tư tưởng yêu nước là không thể nghĩ bàn, đó là điều chắc chắn qua minh chứng Pháp nạn 1963 mà Phật giáo Nguyên thủy đã đóng góp. Cùng đoàn kết, cùng đồng thuận các hệ phái trong khối đại đoàn kết dân tộc và cùng thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, cùng làm lật nhào một chế độ tay sai góp phần thúc đẩy nhanh chóng phong trào giải phóng dân tộc.Giáo pháp Phật giáo truyền thống Nam tông bao hàm giá trị đạo đức, từ bi, trí tuệ, góp phần định hướng cách sống, thói quen phong tục và những hành vi trong chuẩn mực ứng xử văn hóa Việt Nam, là phần không thể tách rời trong ngôi nhà chung: văn hóa Việt Nam.
ThS. Nguyễn Ngọc Hùng
Tài liệu tham khảo
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458
- Thích Đồng Bổn, 1995, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, T1, Nxb TP.HCM, tr 632; T2, 2001.
- Tiểu sử Ông Nguyễn Văn Hiểu, 1971, bản đánh máy lưu hành nội bộ và trong thư viện chùa Bửu Quang, Thủ Đức, TP.HCM.
- Văn thư Nghị định số 3716/ND/ PC, cho phép Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Trung Phần, được phépthành lập Bản gốc (xem tài liệu cấp 1 đính kèm) tên ông Nguyen Đon Duyen không ghi dấu nên tác giả để nguyên, nguồn chùa Tam Bảo
- Tiểu sử Ông Nguyễn Văn Hiểu, 1979, tr 9.
- Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn (1958), Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn.
- Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn (1958), Điều lệ Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravāda), Sài Gòn, tr.1-2.
- Biên bản buổi nhóm đại hội của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, bản đánh máy, lưu tại chùa Bửu Quang,Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
- Thông Kham (Pháp sư) thuyết pháp tại chùa Kỳ Viên năm 1952, bản đánh máy, lưu tại chùa Thanh Long, 42 Ngô GiaTự, Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam.
- Phật giáo Nguyên thủy (2014), Cuộc đời và đạo nghiệp của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Sự, Nxb Hồng Đức, tr. 19.
- Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (1958), “Ý nghĩa ngày rằm tháng bảy”, Sài Gòn. tr.1.
- Nguyễn Văn Sáu (2007), Bước dầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam, Nxb Tôn giáo Hà Nội, tr 65.
- Bửu Chơn (1964), Hội Nghị quốc tế, Bộ Thông Tin, Sài Gòn, tr 32.
- Thiện Minh (1996), Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, Luận văn cử nhân Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, tr 57, 58.
- Tạng Luật (2014), Đại Phẩm, T2, Chương Y Phục, Nxb Tôn Gíao tr 172.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, 55. Kinh Jìvaka (Jìvaka sutta), bản in nội bộ 2016, tr 51.
- Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, Kinh Không gì chuyển hướng (Apannaka sutta), bản in nội bộ 2016, tr 118
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458.
[2] Thích Đồng Bổn, 1995, tr 395.
[3] Tiểu sử Ông Nguyễn Văn Hiểu, 1971, tr 6
[4] Thích Đồng Bổn, 1995, tr 632.
[5] Thích Đồng Bổn, 1995, tr 721
[6] Văn thư Nghị định số 3716/ND/ PC, cho phép Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Trung Phần, được phép thành lập 1955. Bản gốc (xem tài liệu cấp 1 đính kèm) tên ông Nguyen Đon Duyen không ghi dấu nên tác giả để nguyên, nguồn chùa Tam Bảo
[7] Tiểu sử Ông Nguyễn Văn Hiểu, 1979, tr 9.
[8] Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn (1958), Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn. Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, SàiGòn (1958), Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn.
[9] Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, Sài Gòn (1958), Điều lệ Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam (Theravāda), Sài Gòn, tr.1-2.
[10] Biên bản buổi nhóm đại hội của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, bản đánh máy, lưu tại chùa Bửu Quang, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[11] Thông Kham (Pháp sư) thuyết pháp tại chùa Kỳ Viên năm 1952, bản đánh máy, lưu tại chùa Thanh Long, 42 Ngô Gia Tự, Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam.
[12] Phật giáo Nguyên thủy (2014), Cuộc đời và đạo nghiệp của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Sự, Nxb Hồng Đức, tr. 19.
[13] Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam (1958), “Ý nghĩa ngày rằm tháng bảy”, Sài Gòn. tr.1.
[14] Nguyễn Văn Sáu (2007), Bước dầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam, Nxb Tôn giáo Hà Nội, tr 65.
[15] Bửu Chơn (1964), Hội Nghị quốc tế, Bộ Thông Tin, Sài Gòn, tr 32.
[16] Bửu Chơn (1964): tr 36.
[17] Bửu Chơn (1964), Hội Nghị quốc tế, Bộ Thông Tin, Sài Gòn, tr 64-75.
[18] Bửu Chơn (1964), Hội Nghị quốc tế, Bộ Thông Tin, Sài Gòn, tr 64-75.
[19] Thiện Minh (1996), Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, Luận văn cử nhân Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, tr 57, 58.
[20] Nguyễn Văn Sáu (2007), Bước dầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam, Nxb Tôn giáo Hà Nội, tr 66.
[21] Phỏng vấn Tỳ Khưu Pháp Hiếu 9-2022, trụ trì chùa Tam Bảo Đà Nẵng. Trưởng Tiểu ban PGNT Kinh Đà Nẵng.
[22] Tạng Luật (2014), Đại Phẩm, T2, Chương Y Phục, Nxb Tôn Gíao tr 172.
[23] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, 55. Kinh Jìvaka (Jìvaka sutta), bản in nội bộ 2016, tr 51.
[24] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, 60. Kinh Không gì chuyển hướng (Apannaka sutta), bản in nội bộ 2016, tr 118
[25] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, 55. Kinh Jìvaka (Jìvaka sutta), bản in nội bộ 2016, tr 50-51.
[26] Đại Tạng Kinh Việt Nam (Ht Thích Minh Châu Việt dịch), Trung Bộ Kinh, T2, 66. Kinh Ví dụ Con chim cáy (Latukikopama sutta), bản in nội bộ 2016, tr 118