Sơ Thảo
PHẬT GIÁO NAM TÔNG VIỆT NAM
Tỳ Kheo Thiện Minh
Phật giáo nguyên thuỷ- Nam tông (Theravada) có bề dày lịch sử rất lâu đời, sự truyền thừa được các sử gia thừa nhận là không bị gián đoạn. Điểm ưu việt của nó là truyền bá đến quốc gia nào vẫn giữ được nét văn hoá Phật giáo đặc thù, mà những truyền thống khác rất hiếm có. Phật giáo nguyên thuỷ hiện nay có mặt ở những quốc gia: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Anh, Mỹ, Ư, Úc, Mă Lai, Indonesia,Nepal, Ấn Độ v.v… Điểm đáng nói là tính thống nhất trong truyền thống Nguyên thuỷ, chư tăng tụng kinh bằng tiếng Pali và tiếng bản ngữ , tu hành y cứ theo thánh điển Pali, Tam y và b́nh bát là tài sản của bậc xuất gia, chỉ ăn ngày một buổi, không ăn phi thời. Bài viết này chúng tôi giới thiệu một vài nét đại cương về Phật giáo Nguyên - Thủy Nam tông Kinh.
1. Lịch Sử Du Nhập Phật Giáo Nam tông Việt Nam
Nghiên cứu lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, chúng ta thấy có hai hệ phái chính: Phật giáo Nam tông Khơme và Phật giáo Nam tông Kinh cùng tồn tại và phát triển trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Nam tông khơme và Nam tông Kinh là hai bộ phận không thể tách rời nhau trong mảnh đất thân yêu Việt Nam, do đó khi nghiên cứu chuyên đề này, chúng ta thấy lịch sử du nhập và phát triển có những giai đoạn như sau:
1.1 Sử du nhập Nam tông Khơme
Miền Nam Việt Nam xưa kia là lănh thổ của vương quốc Phù Nam. Theo sử liệu của Trung Hoa vương quốc này thành lập khoảng thế kỹ 12 trước Công nguyên, nhưng theo những nhà khảo cổ Tây phương dựa vào bia kư khắc trên đá, vách thành đă được t́m thấy dưới ḷng đất th́ quốc gia này lập quốc thế kỷ thứ 1 sau công nguyên. Nhưng vương quốc Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm và tiêu diệt vào cuối thế kỷ thứ 6. Trên bản đồ, Phù Nam không c̣n nữa. Trải qua năm tháng nhờ Việt Nam, triều Nguyễn, bảo hộ chống nội loạn và ngọai chiến nên vua Chân Lạp nhượng đất để đền ơn đáp nghĩa vào năm Đinh sửu (1759) (1).
Từ khi lập quốc đến thế kỷ thứ 6 sau Tây lịch do các vua chúa Phù Nam cai trị. Từ thế kỷ thứ 6 đến năm 1759 là các triều đại của vua chân lạp (2) . Nam dinh m?o (1867) Pháp chiếm Miền Nam làm thuộc địa, để phân định hai quốc gia với lối cai trị khác nhau vị toàn quyền Pháp và quốc vương Campuchia ấn định lằn ranh giữa hai nước đồng kư vào bản nghị định ngày 9-7- 1870, do vậy Miền nam có mặt trên bản đồ thế giới dưới tên gọi do thực dân Pháp đặt ra Cochinchinne, gọi là Nam Kỳ . Năm 1945, chế độ thực Dân Pháp sụp đổ, Việt Nam Cộng Ḥa ra đời danh từ Nam Kỳ đổi thành Miền Nam Việt Nam. Ngày 30-4-1975 chế độ Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n nữa, đất nước chúng ta thống nhất từ Aûi Nam Quan đến mũi Cà Mau. Người Việt gốc khơme sống trong lănh thổ Việt Nam cũng được hưởng quyền tự do b́nh đẳng như người Việt Nam.
Ngày nay, những nhà khảo cổ đă phát hiện những cổ vật, tháp, tượng Phật, thần ở Long An, Kiên Giang, Đồng Tháp Mười v.v... có niên đại 530, 400, 300 năm trước công nguyên (3) . Điều đó cho chúng ta thấy rằng những địa điểm trên đă có một nền văn hóa thật sự văn minh và phát triển tại đây.
Đồng thời trong Mahàvamsa, lịch sử truyền bá của Phật giáo th́ có nhắc đến phái đoàn truyền giáo sang xứ Suvannabhùmi của vua ASOKA vào thế kỷ thứ III trước công nguyên do hai vị A La Hán Sona và Uttara lănh đạo. Các nhà sử học thật khó khăn để thẩm định ranh giới của địa danh Suvannabhùmi này ở đâu? Nhưng đa số cho rằng cả vùng Đông Nam Á. Cụ thể hơn ông Aymonier cho rằng Phù Nam là Miền Nam Việt Nam hiện nay. Theo ông Abel Résumat Phù Nam là Miền Bắc Việt Nam (4). Chính v́ thế những quốc gia như Thái Lan, Miến Điện, Lào, Camphuchia và Việt Nam, lịch sử Phật giáo những quốc gia này đều có ghi nhận là vào thế kỷ thứ III truớc công nguyên phái đ̣an vua Asoka có truyền đạo đến đất nước của Ḿnh. Từ đó chúng ta có thể đưa ra những kết quả niên đại Phật giáo du nhập vào Miền Nam Việt Nam.
- Nếu địa danh Suvannabhùmi là tiền thân của đế quốc Phù Nam th́ Phật giáo Nguyên Thủy Nam Tông đă có mặt tại Miền Nam Việt Nam vào thế kỷ thứ III trước công nguyên. Chẳng những Miền Nam mà c̣n cả Miền Bắc, Đồ Sơn - Hải Pḥng theo tài liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát dựa vào lịch sử Trung Quốc có ghi nhận là ở Mẫu Sơn thuộc Hải Pḥng có chùa và tháp của phái đoàn vua Asoka xây dựng, Bảo tháp đó tàn phế. Khỏang giữa thế kỷ thứ XI vua Lư Thánh Tông tiếp tục xây bảo tháp Tường Long trên nền tháp cũ và hiện nay bảo tháp đó cũng tàn phế. Theo Phật giáo Việt Việt Nam của Thích Đức Nghiệp có ghi lại trong Gia phả Họ Ḥang, hiện nay Ông Ḥang Gia Mỹ có giữ bài thơ Tháp Sơn Ḥai Cổ. Nội dung bài thơ đề cập xuất xứ hai bảo tháp, một tháp vua Asoka, hai tháp vua Lư Thánh Tông (5).
- Vương quốc Phù Nam xuất hiện vào thời nhà Châu ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ 12 trước Dương lịch, v́ có thuyết cho rằng xứ giả Phù Nam có gởi phái đoàn sang trung hoa. Nhưng thuyết này không được các sử gia thừa nhận, v́ không có bằng chứng cụ thể. Vào thế kỷ thứ 1 sau công nguyên, vua Kaundinya cưới công chúa Thủy Tề Soma, có thuyết cho là cưới công chúa Lieou- Ye và lập nên đế quốc Phù Nam. Đời vua này chúng ta không thấy dấu vết Phật giáo. Nhưng đến đời vua Kaundinya Jayavarman, ông (lên ngôi năm nào không rơ nhưng băng hà 514) gởi thiền sư Nagasena sang Trung Hoa cầu quân tiếp viện dể chống lại quân Chiêm Thành (Lâm Ấp) , bị vua tàu từ chối. Theo lá Sớ nhà vua tŕnh lên Triều Đ́nh Bắc Kinh th́ Phật giáo Nguyên Thủy- Nam tông rất thạnh hành ở Phù Nam. Đồng thời vua có gởi hai thiền sư tên Mandrasena và Sanghapala đến Trung Hoa dịch kinh Phật bằng Phạn ngữ (6) . Căn cứ nguồn sử liệu đó, chúng ta tin chắc rằng Phật giáo Nguyên thủy đă có mặt ở Miền Nam Việt Nam chúng ta dưới triều vua đó. Tên ba vị thiền sư trên, chúng ta nhận thấy là tiếng Pàli. Truyền thống Phật giáo nguyên thủy tên chư Tăng thường sử dụng tiếng Pàli. Tóm lại, nói một cách nghiêm túc, thời kỳ vương quốc Phù Nam dưới triều vua Kaundinya Jayavarman Phật giáo Nguyên thủy- Nam tông rất thạnh hành.
- Từ thế kỷ thứ 6 đến năm 1759 vương quốc Phù Nam do vua Chân Lạp cai trị. Theo lịch sử Camphuchia vào thế kỷ thứ 8 phân chia quốc gia thành hai: Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp, thủy chân lạp thuộc hướng nam là Miền nam Việt Nam, lục chân lạp hướng bắc tức Camphuchia. Dân số người Việt gốc Khơme ở đây quá ít, đồng hoang cỏ dại. Theo thống kê của người Pháp năm 1862 th́ tổng số người Việt gốc khơme 146.718 người, so với người Việt 1.732.316 người (7). Trong 11 thế kỷ chiếm đất Phù Nam vua thủy chân lạp không có kế họach ǵ để phát triển vùng đất này, ngọai trừ xây ngôi bảo tháp ở Đồng Tháp Mười. Điều cho thấy rằng Phật giáo thời đó vẫn có vị trí mạnh mẽ trong xă hội. Đất hoang, người dân ít mà xây dựng bảo tháp tôn giáo là một điều hiếm có. Thực ra Phật giáo nguyên thủy thời kỳ Phù Nam và thời kỳ Thủy Chân Lạp không có ǵ khác biệt, v́ Phật giáo Nguyên thủy chư tăng hành tŕ giáo pháp thống nhất nhau.
Những ngôi chùa Nam Tông Khơme ở Miền nam Việt Nam có niên đại nhiều thế kỷ qua và tồn tại đến hôm nay. Cụ thể là chùa Samrông Ek ở tỉnh Trà Vinh xây dựng vào năm 1642 (Phật lịch 1185), chùa Sanghamangala xây dựng hơn 600 năm (8)
1.2 Sử du nhập Nam tông Kinh
Theo thời điểm cận đại, phật giáo nam tông du nhập Việt Nam vào năm 1939 từ Campuchia, do phái đoàn truyền giáo của Hoà Thượng Hộ Tông. Những vị trong phái đ̣an : Ḥa Thượng Thiện Luật, Ḥa Thượng Huệ Nghiêm, Ḥa Thượng Hộ Tông. (9) Đây là những vị ḥa thượng có mặt đầu tiên tại việt nam để hoằng dương chánh pháp. Thời gian này Ḥa Thượng Bửu Chơn tu thiền ở Nam Vang, nhưng vào mùa an cư kiết hạ, ngài được nhóm Phật tử Nguyễn Văn Hiểu mời về Việt Nam nhập hạ và hoằng pháp.
Về phía cư sĩ, có cụ Nguyễn Văn Hiểu, Văng Công Hương và cụ Quyến là những phật tử có công đầu tiên t́m đất xây chùa để Chư Tăng có nơi hoằng pháp. Địa điểm quư Cụ t́m xây chùa đó là khu rừng nằm trong địa bàn G̣ Dưa, Thủ Đức, chu vi khoảng hơn 2 mẫu Tây, thiên nhiên rất đẹp, phong cảnh rất u tịch, thật xứng với những vị chân tu sống đời phạm hạnh. Nguồn gốc đất ở đây là của Oâng Bà Bùi ngươn Hứa. Gia Đ́nh của Oâng Bà giàu có nên khi thấy nhóm cư sĩ của cụ Nguyễn Văn Hiểu t́m đất xây chùa để cúng dường Tam bảo, xúc động trước đạo tâm của nhóm cư sĩ nên Oâng bà bán toàn bộ khu đất đó cho Phật giáo Nguyên thuỷ, với giá bán chỉ 1 đồng danh dự. Chùa được xây dựng với tên gọi là chùa Bửu Quang ( Ratanaramsyarama) .
Ngày 15 tháng 4 năm 1940, phái đ̣an truyền giáo của HT. Hộ Tông và nhóm cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu thỉnh đức vua Sải Chuôn Nath và 30 vị Hoà Thượng, Thượng Toạ nguời Campuchia sang việt nam đến chùa Bửu Quang để thực hiện nghi thức kết giới Sima theo truyền thống phật giáo nguyên thuỷ (10) . Trong đ̣an có ba vị sư người Việt Nam: Hoà Thượng Thiện Luật và Hoà thượng Huệ Nghiêm và Ḥa Thượng Hộ Tông, sau lễ kết giới Sima Hoà thuợng Huệ Nghiêm được chư tăng đề cử thuyết pháp để giải thích cho Phật tử hiểu về ư nghĩa buổi lễ Kết giới Sima.
Năm 1945, phái đ̣an truyền giáo Hộ Tông tiếp độ thiện nam Dương Văn Thêm và thành lập chùa Giác Quang tại B́nh Đông- Chợ Lớn (11). Thiện nam Dương Văn Thêm hoan hỷ với Phật giáo Nguyên thủy và xuất gia với pháp danh Tỳ Khưu Giác Quang. Ngài Giác Quang là một trong bảy vị chư tăng đệ đơn thành lập giáo hội Tăng già nguyên thủy Việt nam vào năm 1957. Chùa Giác Quang là ngôi chùa thứ hai của phật giáo nguyên thủy nam tông người kinh. Ngài Giác Quang là vị trụ tŕ đầu tiên. Tại đại hùng bửu điện này đă đào tạo rất nhiều nhân tài cho Giáo hội Nguyên thủy trước năm 1975 và sau năm 1975. Cụ thể là Ḥa Thượng Tịnh Tuệ, Ḥa Thượng Giác Nhân, Thượng tọa Giác Minh, Thượng tọa Tịnh Giác v.v...
Năm 1950, phái đ̣an truyền giáo Hộ Tông và cụ Nguyễn Văn Hiểu thành lập chùa Kỳ Viên (12). Tại đây Quư ngài truyền bá chánh pháp một cách hữu hiệu và có kết qủa. Nhờ vậy tổng hội Cư sĩ và Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam được thành lập tại chùa kỳ viên vào năm 1957. Chùa Kỳ Viên mặc nhiên trở thành trụ sở Trung ương của Tổng hội Cư sĩ và Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam.
Nhờ phái đoàn truyền giáo của Hoà Thượng Hộ Tông và nhóm cư sĩ Nguyễn văn Hiểu thành lập Tổng Hội và Giáo hội năm 1957, thế nên tồn tại cho đến ngày hôm nay. Hiện nay có khoảng 60 ngôi chùa, 400 Chư Tăng và 300 Ni trên toàn quốc (13).hững Trung Tâm Hoằng Pháp Đầu Tiên
2.1 Trung Tâm Hoằng pháp Nam tông khơme
Vương quốc Phù Nam c̣n lại 3 tấm bia để chứng minh một thời vàng son của nó đă đi qua: 2 tấm chạm h́nh thần Vishncu t́m thấy ở Việt Nam, 1 tấm chạm h́nh Phật tổ đào được ở Bati phái nam thành Camphuchia. Đều đó cho thấy Phật giáo và Aán giáo cùng tồn tại song song với nhau. Vua Kaundinya Jayavarman gởi thiền sư Nagasena sang trung hoa cầu quân tiếp viện để chống Chiêm Thành và bị từ chối. Vua cung gởi hai thiền sư Mandrasena và Sanghapala sang trung hoa để dịch kinh chữ phạn. Việc kiến tạo ngôi bảo tháp Đồng Tháp Mười. Những sự kiện trên đủ chứng minh Phật giáo nguyên thủy rất mạnh, chắc chắn có khả năng nhiều trung tâm hoằng pháp của Phật giáo Nguyên thủy thời đó.
Việc gởi thiền sư Nagasena sang trung hoa để cầu quân tiếp viện chống Chiêm Thành là dấu hiệu cho chúng ta thấy Phật giáo thời đó có khả năng là quốc giáo. Tại sao triều đ́nh không chọn ai khác mà chọn thiền sư? phải chăng thiền sư là quốc sư ? Việc đại sự của quốc gia cử người di ngoại giao mà cử thiền là một điều hiếm có. Sự kiện đó chẳng khác nào Phật giáo Việt Nam của chúng ta thời Lư và thời Trần.
Nếu giáo hội phái hai thiền sư Mandrasena và Sanghapala sang trung hoa dịch kinh là chuyện b́nh thường, nhưng ở đây vua phái đi. Điều đó cho chúng ta những suy nghĩ như sau: Phật giáo rất phổ thông thời đó, vua thành kính chư tăng th́ người dân phải cúi đầu quy ngưỡng. Chắc chắn thời đó phải có trường lớp can bản trong một thời gian khá dài để đào tạo những thiền sư này. Được như thế th́ những vị này mới có kinh nghiệm kiến thức đời và đạo để được nhà vua tin tưởng giới thiệu sang nước bạn dịch kinh.
Người Việt gốc khơme ở Miền Nam Việt Nam con số rất khiêm tốn, thế nên việc kiến tạo ngôi bảo Tháp Đồng Tháp Mười là một điều khó thực thi. Như vậy công tŕnh này phải có sự tham gia bảo trợ của quốc vương. Chứng tỏ số lượng Tăng già và chùa chiền thời đó không quá ít. Những thành quả chư tăng hoằng pháp thời xưa như thế, nên những ngôi chùa có niên đại khá lâu trong cộng đồng người Việt gốc khơme như Samrông Eùk, Sanghamanghala, v.v... tồn tại cho đến ngày nay trên mănh đất thân yêu Việt Nam.
2.2 Trung Tâm Hoằng Pháp Nam tông Kinh
Những vị trong phái đoàn truyền giáo của Hoà thuợng Hô Tông đều là những vị thiền sư , nên đời sống của các Ngài thích sống nơi thanh vắng, xa làng mạc đô thị để hành thiền. Buổi sáng các Ngài hay tŕ b́nh khất thực, buổi chiều hành thiền và giảng đạo cho phật tử có duyên lành với phật pháp. H́nh thức tŕ b́nh khất thực cũng là một phương pháp hữu dụng trong việc hoằng pháp.
Đứng về mặt khách quan mà nói lối sống ẩn cư của Quư Ngài cũng giới hạn mặt hoằng pháp, v́ phật tử đa số thành phần trí thức đều ở thành thị.
Tuy nhiên nhờ uy tính và đức độ của Quư ngài nên tiếng lành đồn xa, Giới trí thức thời đó đến Quy Y và làm đệ tử của quư Ngài rất đông. Đầu tiên chỉ có tổ đ́nh Bửu Quang (Thủ Đức) là trung tâm hoằng pháp đầu tiên và sau đó chùa Giác Quang (Chợ Lớn), trụ sở Trung ương Kỳ Viên Tự (Quận 3)ï, chùa Bửu Long (quận 9) , Thích Ca Phật Đài (Vũng Tàu), chùa Tam Bảo (Đà Nẵng) chùa Phổ Minh (quận G̣ Vấp), chùa Pháp Quang (B́nh Thạnh) là những địa điểm quan trọng của Quư Ngài để dạy thiền và hoằng pháp. Nhờ những địa điểm hoằng pháp đó mới giúp cho giới Phật tử hiểu phật giáo nguyên thuỷ. Những vị pháp sư đầu tiên của phật giáo nguyên thuỷ việt nam là: Hoà Thuợng Huệ Nghiêm, Thiện Luật, Hộ Tông, Bửu Chơn, Giới Nghiêm, Ḥa Thượng Hộ Giác, pháp sư Thông kham v.v....
3. THÀNH LẬP GIÁO HỘI
3.1. Nam tông khơme:
Đa số người Việt gốc Khơme tu theo Phật giáo Nguyên thủy. Phong tục tập quán của xứ này là thanh niên trong đời phải có một lần xuất gia để đền ơn đáp nghĩa cha mẹ, do đó người xuất gia và chùa chiên rất nhiều. Người dân vô cùng kính trọng nhà sư. Người Việt gốc khơme có những giáo phái:
- Giáo phái Mahànikaya (14)
- Giáo phái Dhammayutta
- Giáo phái Theravada
- Hội Phật giáo Nguyên thủy
a/ Giáo Phái Mahànikaya
Danh từ Mahànikaya là ám chỉ hội chúng đông, chứ không phải là giáo hội hay tông phái khác, v́ thật chất người Việt gốc Khơme tu tập thuần túy theo Phật giáo Nguyên thủy Theravàda có nguồn gốc từ Ấn Độ và Tích Lan. Kinh văn tu hành y cứ theo Tam tạng Pàli. Aên ngày một buổi, không ăn phi thời. Tỳ kheo xuất gia phải thọ 227 giới luật, điểm chú ư là không có tỳ kheo Ni, chỉ có Tu Nữ thọ 8 giới hoặc 10 giới. Chánh điện thường tôn thờ Phật Thích Ca, không có Phật bà Quan Aâm. Đa phần Phật giáo nguyên thủy truyền bá đến quốc nào cũng thống nhất nghi lễ và hành tŕ như thế.
Thời kỳ đầu của Phật giáo nguyên thủy trên vùng đất này chưa t́m thấy nguồn tư liệu nào tổ chức giáo hội và tăng đoàn, nhưng chắc chắn Phật giáo nguyên thủy thời kỳ Phù Nam giáo hội tổ chức khá quy mô và chặt chẻ. Bởi thế mới có những thiền sư tài giỏi như thiền sư Nagasena. Điểm lưu ư là Phật giáo nguyên thủy thearavada từ lúc du nhập cho đến cuối thế kỷ thứ 19 Phật giáo Đại thừa vẫn tồn tại song song với Phật giáo nguyên thủy Theravada. Riêng Phật giáo Theravada có hai giáo phái Mahànikaya và giáo phái Dhammayutta.
b/ Giáo Phái Dhammayutta
Sở dĩ có hai giáo phái đó là v́ vào cuối thế kỷ 19 có một vị trưởng lăo tên Preah Saukonn bất măn trong tăng đ̣an nên bỏ sang thái lan tu hành và thành lập giáo hội Dhammayutta, nghĩa là chánh pháp. Ngài về Campuchia truyền bá giáo phái đó vào năm 1864. Điểm đặc biệt của phái này là ḥang gia theo ủng hộ và xuất gia, v́ thế nên trở thành một giáo phái quan trọng. Sự xuất hiện của danh từ dhammayutta - đúng chánh pháp của trưởng lăo Preah Saukonn, nhưng những người xuất gia theo Phật giáo nguyên thủy xưa nay vẫn chiếm ưu thế đông đảo nên mới có danh xưng là Mahànikàya - phái đông người.
Thật ra hai giáo hội này về mặt kinh điển và nghi lễ ḥan ṭan giống nhau, nhưng về h́nh thức th́ có những điểm dị biệt với giáo phái Mahànikaya:
- Tự cho ḿnh là tu đúng chánh pháp. Không sửa đổi một điều nhỏ nhặt trong Pháp và Luật như phái mahànikaya, tự hào giáo phái của ḿnh là có hoàng tộc gia nhập.
- Khi đi khất thực b́nh bát để trần trụi, không phải như giáo phái Mahànikaya có dây và áo bát. Phái dhammayutta quan niệm là giữ đúng luật, v́ đức Phật thời xưa cũng thế chỉ có khăn lót bát cho đỡ nóng, chứ không như phái Mahanikaya chế thêm dây và áo bát cho tiện việc khất thực.
- Đọc kinh pali không đọc chữ ia đúng giọng Pali Ấn Độ và Tích Lan, c̣n phái mahanikaya đọc kinh pali theo thổ âm của ngôn ngữ ḿnh, nên phải có ia. Ví dụ: Chữ Dhamma, phái Dhammayutta đọc là Tham ma, c̣n phái mahanikaya đọc là tham mia. Như thế chúng ta thấy sự khác biệt hai phái là như thế, sự khác biệt đó không phải là Pháp Luật căn bản của đức Phật mà là quan niệm bất động. Tuy nhiên hai phái vẫn trung thành với lời dạy của đức Phật.
Vào năm 1900, hoàng gia Campuchia cử một nhà sư giáo phái Dhammayutta sang Việt Nam truyền đạo và ủng hộ những ngôi chùa nào chấp nhận bỏ giáo phái Mahànikaya theo giáo phái của ḿnh. Thành quả cho thấy là đến năm 2004 tại An Giang con số chùa thuộc phái Dhammayutta được 21 ngôi(15). Điểm lôi cuốn cho thấy, ngôi chùa PreyVeng thuộc Châu Đốc đă xây dựng hơn 300 năm lại đăng kư chuyển giáo hội từ Mahànikaya sang Dhammayutta. Tuy giáo phái này ít so với với phái mahanikaya nhưng vẫn có tổ chức độc lập và có hội đồng trưởng lăo để chỉ đạo đường hướng họat động cho 21 chùa, trụ sở đặt tại chùa PreyVeng. Giáo phái này tồn tại cho đến ngày hôm nay và hiện nay là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
c/ Giáo Phái Theravada Cư Sĩ
Danh từ theravada xuất hiện trong lịch sử Phật giáo vào khoảng 100 năm sau khi đức Phật viên tịch, lư do là bất đồng 10 điều giới luật trong tăng đoàn, phái không giữ 10 điều phi giới luật gọi là Đại Chúng Bộ - Mahasanghika và phái ǵn giữ giới luật gọi là Trưởng Lăo Bộ – Theravada. Đó là nguyên nhân bất ḥa đầu tiên trong Tăng ǵa. Thế nên những người tu theo phái theravada rất gần gũi và trung thành với lời Phật dạy, thường gọi Phật giáo Nguyên thủy. ø. Kể từ đó Phật giáo có hai phái. Hai giáo phái này bắt đầu lên đường truyền đạo, giáo phái Theravada truyền đạo sang hướng Nam gọi là Nam tông, giáo phái Mahasanghika truyền đạo sang hướng Bắc gọi là Bắc Tông. Nam và Bắc tông ở đây là danh từ địa lư. Thật ra hai giáo phái này về mặt Pháp Luật của đức Phật hoàn toàn tu hành giống nhau, nhưng chỉ khác 10 điều giới luật thôi. Nói một cách nghiêm túc, tất cả những nước tu theo Phật giáo Nam tông – theravada, như Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Lào, Campuchia v.v... đều tu theo giáo phái Theravada.
Người Việt gốc Khơme thành lập giáo hội này chính là ông Sơn Thái Nguyên. Ông là công chức ḥang gia chính phủ Campuchia, nghỉ hưu năm 1954(16) . Năm 1957, ông thông báo thành lập giáo phái theravada. Nhưng Bộ Nội Vụ thời ấy vẫn không công nhận nguyện vọng và đơn xin của Ông.
Nếu căn cứ theo danh từ Theravada th́ chúng ta có một số nhận định về giáo phái này:
- Ông Sơn Thái Nguyên là công chức cao cấp của hoàng gia Campuchia, ông thực hiện công việc ấy chắc chắn phải có một số hậu thuẩn của chư Tăng và Phật tử. Với mục đích là phát huy Phật giáo theravada của người Việt gốc Khơme, chứ không phải thống nhất để truyền bá những tư tưởng mê tín dị đoan, phi pháp và phi luật của đức Phật.
Điều đáng mừng năm 1963, Viện Hóa Đạo - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất công nhận giáo hội Theravada Cư sĩ của ông Sơn Thái Nguyên thành lập và xem giáo hội này đại diện Cư sĩ Việt gốc Khơme tại Trung Ương.
d/ Hội Phật Giáo Nguyên Thủy
Hội Phật Giáo Nguyên Thủy của người Việt gốc Khơme ở Vĩnh B́nh, nay là Trà Vinh được Bộ Nội Vụ cho phép thành lập theo nghị định số 1498-BNV/K5 ngày 19-11-1960 (17). Mục đích của hội là kết thân trong giới Phật giáo và người Phật tử để chia sẻ tinh thần lẫn vật chất. Ngoài Phật sự trong đạo, hội c̣n giúp chính quyền đương thời giáo dục công dân theo đường hướng của chính phủ. Hội cũng là gạch nối giữa chính phủ và người Việt gốc khơme, thường Việt gốc khơme có những nguyện vọng hội đại diện đề xuất lên chánh phủ.
Cách tổ chức của Hội lấy căn bản đường lối tổ chức của Hội Đồng Kỹ Luật Sư Săi thời pháp thuộc, đồng thời Hội bầu một vị Sải Cả Mekon để điều hành Phật sự trong Đạo, c̣n Ban Quản Trị điều hành Phật sự thế tục. Hội Phật Giáo Nguyên Thủy cũng như Giáo Phái Theravada đều giống nhau ở điểm là thống nhất Hội Đồng Sư Sải vào một giáo phái. Khuyết điểm của Hội là trong thời gian họat động Ngài chủ tịch không làm tṛn bổn phận của ḿnh (thiếu tư cách đạo đức), tạo nên sự bất măn trong nội bộ giới Phật giáo. Năm 1962 Ngài chủ tịch bị hạ bệ, nhưng chánh quyền địa phương vẫn không giải quyết sự phức tạp ấy.
Thay đổi Ban Quản Trị mới, Hội họat động khả quan hơn. Hội mở được hai trường Tiểu Học, một Trung Học Pali , tổ chức một khóa bồi dưỡng Hoằng Pháp để hoằng dương chánh pháp của đức Phật , đồng thời giúp chánh phủ tuyên truyền đường hướng của nhà nước.
Sau năm 1975 đến nay, Hội chỉ họat động trong phạm vi tỉnh Trà Vinh (Vĩnh B́nh) song song với giáo phái Theravada ở tỉnh Lỵ. Tỉnh Vĩnh B́nh có thêm một Hội Đồng Kỹ Luật của giáo phái Theravada và một Hội Đồng Cư Sĩ tạo nên sự không đ̣an kết trong nội bộ Phật giáo.
Năm 1981 tất cả các giáo phái này đều là thành viên để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
3.2. Nam Tông Kinh
3.2.1 Thành lập Tổng Hội Phật giáo Nguyên thuỷ?
Trong bước đầu khai sơn Phật giáo Nam tông Kinh, các vị Ḥa thượng chỉ quan tâm đến việc tu hành và hoằng dương chánh pháp, nên các ngài ít chú trọng đến việc tổ chức Giáo hội. Hơn nữa trong giai đoạn này Tăng già chưa đông đảo, các vị c̣n bận nghiên cứu và phiên dịch kinh điển hoặc du học tại các nước Phật giáo Nam truyền, do đó các ngài chưa nghĩ đến việc thành lập Giáo hội. Trong khi đó quư cụ cư sĩ nhất là cụ Nguyễn văn Hiểu ao ước hợp thức hóa Phật giáo Nguyên thủy để quư cụ Cư sĩ và Tăng già về sau tiện bề hành đạo và hoằng pháp lợi sanh trên toàn lănh thổ quốc gia. Do đó cụ Nguyễn văn Hiểu cùng một số bạn bè đă soạn thảo điều lệ, nội quy và các cụ đệ đơn ngày 10/6/ 1956 xin phép thành lập hội Phật giáo Nguyên thủy Việt nam , đến ngày 14/5/1957 mới được chánh quyền phê chuẩn đồng ư cho hội hoạt động (18). Ban sáng lập Hội và dự thảo Bản Điều Lệ:
1. Ông Nguyễn Văn Hiểu
2. Ông Trương văn Huấn
3. Ông Trần văn Cầm
4. Ông Trần văn Nhân
5. Ông Trần Văn Nhơn
6. Ông Huỳnh Công Yến
7. Ông Đặng văn Chất
8. Ông Đàng văn Ngộ
Ban này thành lập là do cụ Nguyễn văn Hiểu chủ trương, thực hiện tại Sài G̣n vào ngày 10 tháng 6 năm 1956 (19). Với tác ư của cụ là hợp thức hóa Hội Phật giáo nguyên Thủy Việt Nam, để hỗ trợ Giáo hội tăng già nguyên thủy Việt Nam hoằng dương chánh pháp hữu hiệu. Danh sách tám cụ trên đều là những thành phần trí thức và có địa vị trong xă hội thời đó, chức vụ của quư cụ là Giáo sư, giáo viên, công chức và thư kư thời đó. Họ đến với đạo Phật Nguyên thủy rất chân thành và tôn trọng Tam bảo tuyệt đối. Vừa có tâm đạo, vừa có địa vị và trí thức thời đó nên quư cụ thành lập Hội và dự thảo bản điều lệ được Chư Tăng và Phật tử ủng hộ rất cao.
3.2.2 Thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam
Trong năm 1957, nhân dịp cuôùi năm tín đồ chùa Kỳ Viên thỉnh chư Tăng các nơi về đông đủ để làm lễ sám hối tất niên và cầu nguyện cho quốc thái dân an, từ ngày thứ hai14/1/1957 cho đến ngày chủ nhật 20/01/1957. (20).
Chương tŕnh cuộc lễ như sau:
1/ Ngày 14/1/1957 lễ Trai tăng sám hối, quy y và thuyết pháp
2/ Trong những ngày 15 đến 19/1/1957 trai tăng luận đạo, thuyết pháp
3/ Ngày 20/1 1957 trai tăng, thuyết pháp, bế mạc.
Nhân dịp này thiện nam, tín nữ nhận thấy sự hiện diện đông đủ chư Tăng Việt Nam tại chùa là một cơ hội hiếm hoi chưa từng có, nên đă thỉnh cầu chư Tăng hoan hỷ nghĩ đến việc thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy đúng theo luật lệ của chính phủ để hoạt động phù hợp với trào lưu xă hội đương thời.
Trong những buổi luận đạo ngày 14 và 15/01 năm 1957, sau khi thảo luận và tham khảo ư kiến của các bậc tôn túc, chư Tăng đă nhất trí việc lập Giáo hội tăng già để hoạt động Phật sự hợp pháp và hữu hiệu hơn trong việc quản lư nhân sự là cần thiết, v́ vậy đă nhận lời thỉnh cầu và đồng ư cử một Ban Lâm thời để soạn thảo bản điều lệ.
Chiều ngày 15/01/1957 lúc 4 giờ tại chánh điện chùa Kỳ Viên có 22 vị Tỳ khưu hiện diện dưới quyền chủ tọa của Ḥa thượng Bửu Chơn đă bầu Ban Chưởng Quản Lâm Thời Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam bằng cách bỏ thăm kín, kết quả những vị sau đây đắc cử. Ban Chưởng Quản lâm Thời:
a/ Tăng thống: Tỳ khưu Bửu Chơn
b/ Phó Tăng thống I: Tỳ khưu Thiện Luật
c/ Phó Tăng thống II: Tỳ khưu Hộ Tông
d/ Tổng thư kư: Tỳ kheo Kim Quang
e/ Phó thư kư: Tỳ kheo Giới Nghiêm
f/ Cố vấn I: Tỳ kheo Tối Thắng
g/ Cố vấn II Tỳ kheo Giác Quang
Theo biên bản những buổi lễ ở Chùa Kỳ Viên, Ban này lănh trách nhiệm soạn thảo một bản dự thảo Điều lệ và Nội quy gồm 8 chương, 29 điều trước Chư Tăng và thiện tín tại chánh điện Kỳ Viên Tự để thảo luận từng điểm một.
Ngày 20/02 1957 soạn thảo xong, quư ngài đệ đơn xin thành lập Giáo hội, măi đến ngày 18/12/1957 (21) mới được Bộ Trưởng nội Vụ ông Vũ Tiến huân thừa lệnh Tham Lư Nội An đóng dấu kư duyệt cho Giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam hoạt động theo đạo dụ số 10.
Sau khi có giấy phép thành lập Giáo hội, Ban Chưởng Quản Lâm Thời đă từ chức để mở Đại Hội Khoáng Đại lần thứ nhất bầu Tăng thống và Ban Chưởng Quản chính thức cho Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam vào năm 1957. Kết quả là tập thể Chư Tăng đă suy tôn Ḥa Thượng Hộ Tông giữ chức vụ Tăng Thống nhiệm kỳ đầu tiên.Và kể từ đây Đức Tăng thống và Ban Chưởng Quản có trách nhiệm điều hành tất cả những công tác Phật sự của Giáo hội theo Điều lệ và Nội quy của GHTGNTVN.
3. CƠ CẤU TỔ CHỨC
3.1. Tổ Chức Nam Tông Khơme
Trước và dưới thời Pháp thuộc, Phật giáo Nam tông người Việt gốc khơme đều dưới quyền quản lư của vua Sải Campuchia(22). Chư tăng phải đến thủ đô Campuchia học để lấy văn bằng Phật học, để đủ thẩm quyền hành đạo và hoằng pháp. Chùa chiền xây dựng xong phải đệ tŕnh lên vua Sải để xin phép đặt tên. Cơ cấu tổ chức là thành lập một Hội đồng Kỷ luật Sư Sải, Hội đồng này được sự trợ cấp của chánh phủ Ḥang Gia Campuchia thời ấy, chính Hội đồng này liên lạc với Vua Sải Campuchia. Cơ cấu nhân sự của hội đồng:
- 1 vị Mêkon – nghĩa là vị Sải Cả (chư tăng) được tập thể bầu để quản lư 1 tỉnh, thay mặt chư tăng trong tỉnh để giao thiệp với chánh quyển địa phương về mọi phương diện.
- 1 hoặc 2 vị Balakon ( phó sải cả có nhiệm vụ giảng giải giáo lư Tỳ khưu, Sa di, Phật tử và Học sinh, phụ trách tổ chức các cuộc lễ tại chùa, sửa chữa và tu bổ chùa chiên )
- 1 vị Vineythorkon ( phụ trách về giới luật cho chư tăng)
- 1 vị Sammouhakon (phụ trách về văn khố )
- 1 vị Lêkhathika (thư kư)
- Vài vị Anoukon (người đại diện Sải cả mỗi quận trong tỉnh)
Cơ cấu tổ chức này cho đến năm 1945 chấm dứt, v́ thời Việt Nam Cộng Ḥa các tu sĩ Việt gốc Khơme không đuợc liên lạc với Giáo Hội Campuchia. Tuy nhiên các sư Săi vẫn giữ cơ cấu tổ chức trong tỉnh theo mô h́nh Hội Đồng Kỷ Luật Sư Săi trước đó.
Tuy không c̣n sự chỉ đạo trực tiếp của Vua Săi Campuchia nhưng tổ chức hội đồng vẫn diễn tiến tốt đẹp. V́ không có tổ chức hội đồng từ trung ương đến địa phương nên Hội Đồng Kỷ Luật Sư Săi có phần không nhất quán.
Tại Vĩnh B́nh có hai hội đồng: Hội Phật Giáo Nguyên Thủy và Giáo Phái Theravada. Ba Xuyên và Bạc Liêu chỉ có một hội đồng, kể từ khi hai tỉnh này c̣n là một. Kiên Giang và Chương Thiện có một Hội Đồng. Phong Dinh có một Hội Đồng. Châu Đốc có hai: Giáo phái Dhammayutta và giáo phái Mahanikaya.
Năm 1957 ông Sơn Thái Nguyên thành lập giáo phái Theravada để thống nhất phật giáo thành một tổ chức, nhưng bộ Nội vụ không chấp thuận. Măi đến năm 1963 Viện Hóa Đạo công nhận giáo phái Theravada Cư sĩ là đại diện cho khối phật giáo người Việt gốc Khơme tại trung ương, nhưng các tỉnh dường như cũng không ḥan ṭan ủng hộ.
Ngày 19-11-1960 Bộ Nội Vụ cho thành lập cho thành lập Hội Phật Giáo Nguyên Thủy của người Việt gốc Khơme ở tỉnh Vĩnh B́nh.
Năm 1964 Hội Đ̣an kết sư Săi yêu nước Miền tây ra đời do Đại đức Thạch Som làm hội trưởng, đây là một tổ chức đ̣an kết các tôn giáo và dân tộc, đấu tranh v́ tổ quốc và nhân dân. Có thể nói tổ chức này đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của đồng bào khơme và sư săi Nam bộ (23)
Tóm lại hệ thống tổ chức của chư tăng người Việt gốc Khơme dưới Giáo hội trung ương, chúng ta thấy cấp tỉnh có hội đồng kỷ luật sư săi – Salakon do Mekon đứng đầu, cấp huyện có Anukon, cấp xă có Upachhea. Đồng thời mỗi chùa có ban quản trị do khóm, sóc bầu. Mỗi chùa có Săi cả trụ tŕ, dưới Săi cả có hai săi phó và một Achar chuyên dạy giáo lư kinh điển.
Mùa đông năm 1963 (24) , tất cả các giáo phái phật giáo trên toàn quốc đồng ḷng với nhau thống nhất thành một mối để thể hiện tinh thần Đại Đoàn kết. Chúng ta thấy người Việt gốc Khơme có hai phái đoàn Chư Tăng và Cư sĩ tham gia để thống nhất phật giáo:
Giáo Phái Theravada Tăng Già
Đại Biểu Chính Thức:
a/ Cấp trung ương:
1. Đại Đức Thạch Gồng (trưởng phái đoàn)
2. Đại Đức Thạch Reach
3. Đại Đức Kim Sang
4. Đại Đức Kiên Phun
5. Đại Đức Danh Bao
6. Đại Đức Danh Srum
7. Đại Đức Thạch Pêch
b/ Cấp tỉnh:
1. Vĩnh B́nh : Đại Đức Thạch Phuone
2. Ba Xuyên: Đại Đức Lâm Se
3. An Giang: Đại Đức Thạch Hương
4. Phong Dinh: Đại Đức Kiến Meach
5. An Xuyên: Đại Đức Thạch Ấm
6. Vĩnh Long: Đại Đức Thạch Quít
7. Tây Ninh: Đại Đức Kim Cân
8. B́nh Long: Đại Đức Kim Kinh
9. Phước Long: Đại Đức Kim Pruk
10. Kiên Giang: Đại Đức Danh Quênh
Giáo Phái Theravada Cư Sĩ
a/Cấp Trung ương:
1. Sơn Thái Nguyên
2. Kim Ḥai
3. Kiên Sốt
4. Danh Trị
5. Danh Huyên
6. Thạch Tết
7. Mai The
b/ Dự khuyết: Châu Công
b/ Cấp tỉnh:
1. Vĩnh B́nh: Sơn Ruông
2. An Giang: Châu Meach
3. An Giang: Chiêm Chuôn
4. Ba Xuyên: Kim Sa
5. Phong Dinh: Kiên Sovach
6. VĩnhB́nh: Kim Kinh
7. Phong Dinh: Kim Khuonne
8. VĩnhB́nh: Thạch Lèo
9. Ba Xuyên: Thạch Yui
10. An Xuyên: Giang Thanh Thân
c/ Quan sát viên:
1. Đại Đức Sơn Sun
2. Đại Đức Thạch Suông
3. Đại Đức Sơn Sương
4. Đại Đức Châu Lun
5. Đại Đức Tăng Kim
6. Đạo hữu Nghinh Pan
7. Đạo hữu Mai Puôi
8. Đạo hữu Ly Sai
9. Đạo hữu Tăng Dum
10. Đạo hữu Sơn Dum
Trong đại hội, Đại Đức Kim Sang đại diện giáo phái theravada người Việt gốc khơme đọc chúc từ đến Đại hội bằng tiếng khơme.
Sau đại hội thống nhất phật giáo, người việt gốc Khơme được suy tôn trong viện Hoá Đạo:
Tổng vụ Tăng Sự : có Đại Đức Kim Sang phụ trách Tăng Bộ Nam Tông Vụ
Tổng Vụ Cư Sĩ: có Đạo hữu Sơn Thái Nguyên phụ trách Thiên tín Nam Tông vụ
Hội nghị đại biểu thống nhất phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy Phật giáo Nam tông Khơme tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập 1981, hoà họp trong tinh thần đoàn kết, đoàn đại biểu hội đoàn kết sư săi yêu nước Miền Tây nam bộ. Đoàn gồm có (25) :
1. Hoà Thượng Dương Nhơn (trưởng đoàn)
2. Hoà Thượng Danh Nhường (Phó đoàn)
3. Thượng toạ Liêu Bâu
4. Hoà Thượng mahasaray
5. Thượng toạ Kim Tốc Chơn
6. Thượng toạ Hữu Hinh
7. Hoà Thượng Vơ Văn By
8. Thượng toạ Châu Xưng
Trong Đại hội Hoà Thượng Dương Nhơn, đại diện Hội Sư Săi yêu Nước Miền Tây Nam Bộ phát biễu tham luận. Trong tham luận hoà thượng có phát biểu: “ đại diện 419 ngôi chùa, trên 11 ngàn Tăng Ni và hơn một triệu đồng bào khơme xin trân trọng gởi lời chào sức khoẻ đến chư vị và kính chúc hội nghị thành công tốt đẹp”
Sau khi thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng, thượng toạ Nam tông Khơme được suy tôn chức vụ tại trung ương từng nhiệm kỳ trong nhiều năm qua gồm có:
Nhiệm kỳ I (1981- 1987) (26) :
- Thường trực HĐCM:
Ḥa Thượng Mahasaray (Trà Vinh) Phó Pháp chủ
- Hội Đồng Chứng Minh:
HT. Mahasaray, HT. Châu Mum (Sóc Trăng), HT. Vơ Văn By (An Giang), HT. Danh Nhường (Kiên Giang).
- Thường trực HĐTS:
Ḥa thượng Châu Mum phó chủ tịch
- Hội Đồng Trị Sự:
HT. Châu Mum HĐTS.
Nhiệm kỳ II (1987-1992):
- Thường trực HĐCM:
Ḥa thượng Thạch Xom (Trà Vinh) phó Pháp chủ
- Hội Đồng Chứng Minh:
HT. Châu Mum (Sóc trăng), HT. Vơ Văn By (An Giang), HT. Thạch Xom (Trà Vinh), HT. Danh Nhưỡng (Kiên Giang)
- Thường trực HĐTS:
Ḥa thượng Châu Mum (Sóc Trăng) phó chủ tịch
- Hội Đồng Trị Sự:
HT. Châu Mum (Sóc Trăng), HT. Danh nhu?ng (Kien Giang), Thu?ng to? Duong Nhon
Nhiệm kỳ III (1992-1997) :
- Thường trực HĐCM:
HT. Thạch Xom (Trà Vinh) , HT. Mahasary (Trà Vinh) : phó pháp chủ.
- Hội Đồng Chứng Minh:
HT. Châu Mum (Sóc Trăng), HT. Mahasaray (Trà Vinh), HT. Danh nhưỡng (Kiên Giang), HT. Vơ Văn By (An Giang), HT. Thạch Xom (Trà Vinh) .
- Thường trực HĐTS:
HT. Châu Mum (Sóc Trăng) phó chủ tịch HĐTS, HT. Danh Nhưỡng (Kiên Giang) Phó trưởng ban tăng sự.
- Hội Đồng Trị Sự:
HT. Châu Mum (Sóc Trăng), HT. Danh Nhưỡng (Kiên Giang), HT. Dương Nhơn (Sóc Trăng ) HĐTS.
Nhiệm kỳ IV (1997-2002):
- Thường trực HĐCM:
HT. Mahsaray (Trà Vinh), HT. Thạch Xom Phó Pháp chủ.
- Hội Đồng Chứng Minh:
HT. Vơ văn By (An Giang), HT. Châu Mum (Sóc Trăng), HT. Danh Nhưỡng (Kiên Giang)
- Thường trực HĐTS:
Ḥa Thượng Châu Mum phó chủ tịch HĐTS, HT. Danh Nhưỡng Phó ban Tăng Sự.
- Hội Đồng Trị Sự:
HT. Châu Mum, HT. Dương Nhơn, Thượng tọa Đào Như (Cần Thơ), Thượng tọa Danh Phel (Bạc Liêu), Thượng tọa Sok Sane (Trà Vinh)
Nhiệm kỳ V (2002-2007) :
- Thường trực HĐCM:
HT. Thạch Xom (Trà Vinh), HT. Danh nhưỡng (Kiên Giang) phó pháp chủ.
- Hội Đồng Chứng Minh:
HT. Thạch Xom, HT. Danh nhưỡng (Kiên Giang) , HT. Thạch Hanh (Vĩnh Long) , HT. Châu Nhuk (An Giang), HT. Trần Phiêng (Sóc Trăng), HT. Trần Dạnh (Trà Vinh).
- Thường trực HĐTS:
HT. Dương Nhơn Phó chủ tịch HĐTS, Thượng tọa Đào Như ủy viên thư kư kiêm Phó ban Giáo dục Tăng Ni (Đặc trách Nam Tông Khơme), HT. Danh nhưỡng Phó ban Tăng sự trung ương.
- Hội Đồng Trị Sự:
HT. Danh Nhưỡng (Kiên Giang) , HT. Dương Nhơn ( Sóc Trăng) , HT. Trần Dạnh (Trà Vinh) , TT. Đào Như (Cần Thơ), TT. Thạch Sock Sanne (Trà Vinh), TT. Lư Sa Muoth (Bạc Liêu) HĐTS.
U? viên Dự Khuyết HĐTS:
TT. Danh Đổng (Kiên Giang), TT. Danh Lân (Kiên Giang), TT. Diệp Tươi (Trà Vinh), TT. Thạch Sên (Trà Vinh), TT. Thạch On (Trà Vinh), TT. Tăng Nô (Sóc Trăng), TT. Thạch Huôn (Sóc Trăng), TT. Châu Sơn Hy (An Giang), TT. Danh Dĩnh (Kiên Giang), TT. Danh Thiệp (An Giang), TT. Đại đức Danh Lung (Tp. HCM), ĐĐ. Thạch Văn Thương (Trà Vinh), ĐĐ. Thạch Hà (Cà Mau), ĐĐ. Sơn Ngọc Huynh (Trà Vinh) Uûy viên HĐTS dự khuyết.
3.2. Tổ Chức Nam Tông Kinh
Hội Phật Giáo Nguyên Thuỷ:
Nội bộ phật giáo nguyên thuỷ việt nam có hai tổ chức song song, Tổng Hội Cư Sĩ và Giáo Hội Tăng Già. Tổng hội cư sĩ ra đời nhằm mục đích là hổ trợ Chư tăng trong việc hoằng dương chánh pháp, cụ thể là việc Từ Thiện và Văn hoá. Từ lúc thành lập đến năm 1975 có nhiều nhiệm kỳ nhưng đa số là Cụ Nguyễn Văn Hiểu đều là hội trưởng, đặc biệt nhiệm kỳ năm 1975 cụ nguyễn Từ Thiện là hội truởng. Mỗi nhiệm kỳ bầu bằng cách dân chủ, bỏ thăm kín.
Danh Sách Ban Quản Trị năm 1957-1958
1. Hội trưởng: Nguyễn Văn Hiểu
2. Phó hội trưởng1: Đàng Văn Ngộ
3. Phó hội trưởng 2 : Văng Công Hương
4. Tổng thư kư: Trần Văn Cầm
5. Phó thư kư 1: Đặng Văn Chất
6. Phó thư kư 2 : Nguyễn Hạp
7. Thủ quỹ: Đoàn Văn Hai
8. Phó thủ quỹ: Hùynh Công Yến
9. Phó thủ quỹ: Ngô Vi Thụy
10. Cố vấn: Trần Văn Nhân
11. Kiểm soát: Tôn Thất Thiệp
Thành quả đạt được của Tổng Hội cư sĩ là kiến tạo Tổ Đ́nh Bửu Quang, Kỳ Viên, Thích Ca Phật Đài (Vũng Tàu) và bảo tháp Miền Tây; họat động rất tích cực và thành công trong công tác Từ Thiện xă hội; xuất bản khoảng 150 đầu kinh sách của Phật giáo nguyên thủy v.v…
Tháng 12 năm 1963 (27) , Hội Phật Giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam là một trong 11 giáo phái để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hội Phật giáo Nguyên thuỷ tham dự Đại hội:
Đại biểu chính thức:
a) Cấp trung ương:
1. Đạo hữu Nguyễn Văn Hiểu (trưởng đoàn)
2. Đạo hữu Trần Văn Nhân
3. Đạo hữu Đặng Văn Ngô
4. Đạo hữu Nguyễn Từ Thiện
5. Đạo hữu Huỳnh Công Yến
6. Đạo hữu Nguyễn văn Thành
7. Đạo hữu Hồ Đắc Thăng
b) Cấp tỉnh:
1. Chợ Lớn: Đạo hữu Đặng Minh Ruẩn
2. Long An: Đạo hữu Dương huư Thể
3. Gia Định: Đạo hữu Mai Văn Vân
4. Gia Định: Đạo hữu Ngô Vị Thuỷ
5.Thủ Đức: Đạo hữu Nguyễn Văn Thành
6. Tây Ninh: Đạo hữu La Phu
7. Vĩnh B́nh: Đạo hữu Lại Văn huyên
8. Phước Tuy:Đạo hữu Lê Quang Vinh
9. Định Tường: Đạo hữu Trần Tắc
10. Vĩnh Long: Đạo hữu Phạm Kim Khánh
11. B́nh Định: Đạo hữu Phạm Văn Ngàn
12. Thừa Thiên: Đạo hữu Nguyễn văn Đồng
13.Đà Nẵng: Đạo hữu Trương phú Hơn
Trong Đại hội, đạo hữu Hồ Đắc Thăng suy tôn giữ chức vụ tổng vụ pháp sự, đặc trách Xă Hội Vụ.