THẤT GIÁC CHI
Thưa quí vị!
Chỉ c̣n hai ngày nữa là qua mùa dâng y Kathina. Chùa Kỳ Viên hôm nay tổ chức lễ hội Tăng y theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.
Trong các loại phước báu tu tập là cao nhất, v́ sao? V́ phước báu thông thường như Bố thí – Tŕ giới… chỉ đưa đến tái sanh làm người hay làm Chư thiên mà thôi, chỉ có phước tu tập mới dẫn đến sự giải thoát già - bệnh - chết.
Thời Pháp này tôi đề cập đến bảy Pháp đưa chúng sanh ra khỏi già - bệnh - chết. Đó là Thất Giác Chi.
1- Niệm giác chi (satibojjhaṇga)
Niệm (sati) nghĩa là ghi nhớ, sự ghi nhớ này dẫm chúng ta ra khỏi luân hồi nên có tên là Niệm giác chi.
Sự ghi nhớ hay Niệm có nhiều cách, người Phật tử tu thiến chỉ (samadhijhāna) th́ Niệm 1 trong 40 đề mục hơi thở là gần gũi với chúng ta nhất.
Con người sống nương vào hơi thở, khi hơi thở vào ra cơ thể này xem như (không c̣n) người ấy chết.
Muốn hơi thở không c̣n ra vào cơ thể mà người ấy c̣n sống, người này phải đắc và an trú vào tứ thiền.
Muốn đắc tứ thiền cũng phải nương vào niệm.
Hoặc giả, Đức Phật có dạy: “sự chết luôn luôn đến với mọi chúng sanh”. Nó đến bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu: ban ngày hoặc ban đêm, nhà cầu, nhà tắm, trên giường, trên đất… bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ đại điểm nào nó cũng đều có thể đến.
Chúng sanh thường kinh sợ trước sự chết, khi ấy tâm bấn loạn, hốt hoảng để rồi những phước thiện đă tạo trước đây như Bố thí, Tŕ giới… không thể cho quả, khiến người này phải xa xuống khổ cảnh.
Đức Thế Tôn dạy chúng ta Niệm sự chết để tâm được an tịnh trước giờ phút lâm chung, tạo cơ hội cho phước sanh quả tốt đưa về hai cơi nhân thiên.
Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật có dạy: chúng ta hăy ghi nhớ tất cả từ: đi, đứng, nằm, ngồi cho đến những oai nghi nhỏ như co tay, duỗi tay, mặc áo quần, tắm rữa… Như vậy, sự ghi nhớ (hay niệm) này được diễn tiến khắp mọi nơi, mọi thời điểm trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta.
Hoặc quư vị “niệm Phật” là ghi nhớ một hồng danh trong chín hồng danh của Đức Phật.
Mục đích của Pháp niệm là giúp tâm chúng ta an tịnh giữa những xáo trộn sinh hoạt trong đời sống. Một số Phật tử khi vào bếp lại không dám niệm Phật v́ cho là có tội, là bất kính với Đức Phật. Đây là ư nghĩ sai lầm, sao lại có tội? Phước hay tội là do nơi tâm đâu phải do xuất phát từ bàn thờ, từ nơi pḥng khách sạch sẽ.
Trong kinh có ghi: có những Tỷ kheo vào nghĩa địa, niệm đề mục “tử thi” chứng được đạo quả. Nghĩa đại c̣n đáng sợ, đáng ghê hơn nhà cầu nhà bếp kia mà, quư vị cứ niệm Phật bất kỳ ở nơi nào đều không sao cả, miễn là tâm quư vị ghi nhớ rơ ràng “Ấn Đức Phật” là tốt rồi, là có phước.
Khi chúng sanh gần chết hay nhớ lại những ǵ thường làm trước đây. Có những người thường đi đá gà, lúc gần chết bảo họ “niệm Phật”, trong lúc mê sảng họ niệm trật lất trật lơ là “đá gà, đá gà”.
Nên trong lúc c̣n khỏe mạnh, tỉnh táo chúng ta tập niệm Phật, niệm hơi thở, niệm sự chết… để tạo thành thói quen. Trong lúc gần chết tâm sẽ dễ dàng gắn vào đề mục ấy hơn, đ62ng thời tâm không bị kinh hoàng trước sự chết gần kề.
Khi niệm hơi thở, quư vị sẽ thấy hơi thở dài rồi từ từ ngắn lại, nhỏ lại…
Chúng ta đă làm quen với hơi thở như thế, khi sắp chết hơi thở cũng từ từ ngắn lại rồi mất hẳn. V́ trước đây tâm đă biết trạng thái này, ghi nhớ trạng thái này thường xuyên, không có sự sợ hăi đối với hơi thở loại này. Nên khi sắp chết, tuy có gặp hơi thở này, tâm cũng không hề sợ.
Đây là lợi ích thiết thực của Pháp niệm. c̣n niệm giác chi là ghi nhớ rơ ràng tướng vô thường, khổ năo và vô ngă.
2. Huệ giác chi hay trẠch pháp giác chi
Chính huệ hay trí tuệ giúp chúng ta thấy được sự vô thường, khổ năo, vô ngă trong đời sống thực tại.
Già - bệnh - chết nó diễn tiến từng phút từng giây, ta không muốn già, không muốn bệnh, nhưng già - bệnh cứ đến. Đó là quy luật vô ngă.
Chính trí tuệ giúp chúng ta không c̣n bám chấp vào những ǵ của thế tục, của thân xác.
Thân xác này ví như lá cây, an đầu xinh đẹp như lá cây có màu xanh mơn mởn, để rồi già như lá cây có màu vàng, rồi đi đến chết như lá cây rụng xuống ĺa cành.
Sở dĩ, chúng ta hằng ngày không thấy ḿnh già, bị biến đổi là do vô minh che lấp, đến khi nh́n lại mới biết “ta già”. Hai – ba mươi năm trôi qua nhanh như ánh chớp “mới trẻ trung đó nay đă lụm cụm lưng c̣ng rồi”.
Huệ giác chi là dùng trí tuệ xem xét thường xuyên, để phá vỡ vô minh, nhân diện ra già - chết đang dần dần đến trên thân xác này. Không có trí tuệ quán xét, nên chúng ta cứ bị lầm tưởng “trẻ măi không ǵ”, “khỏe hoài không bịnh”, tự đánh lừa ḿnh, tự ḿnh chối bỏ sự thật. Có người khi c̣n nhỏ chụp tấm ảnh, lớn lên nh́n vào cảnh chính người đó không c̣n nhận ra là ḿnh.
Có người tuy tuổi c̣n nhỏ, nhưng v́ bệnh hoạn nên thân xác trở nên già cỗi, như tôi về Campuchia các vị trên đó hỏi tôi được 80 chưa? Tôi đáp: chưa, mới được 50, họ hít hà: “sao thấy Ngài già quá vậy”.
- V́ tôi bị bịnh.
Có trí huệ chúng ta mới chấp nhận già - bịnh, v́ không dám chấp nhận sự thật nên chúng ta cảm thấy sợ già, sợ chết. Có ai khen ta trẻ, đẹp hẳn chúng ta sẽ hài ḷng, c̣n bảo chúng ta già - xấu, tuy không nói ra cũng cảm thấy khó chịu, v́ không có trí tuệ nên bị vô minh che lấp như vậy.
Nàng Hoàng Hậu Khemā trước đây cũng vậy, muốn đi nghe Pháp nhưng nghe Đức Phật chê trách thân này là dơ bẩn… bà không đi. đến khi nh́n ra sự thật thân này bị vô thường chi phối cuối cùng đi đến già - chết th́ giác ngộ đắc quả ngay.
Điều thứ ba là: Tấn giác chi hay Tấn Bồ đề, chính v́ có Tấn Bồ đề chúng ta mới thấy: Đạo Phật không dạy người ta lười biếng, nhiều người bảo rằng: “mấy người đi tu là lười biếng mà muốn sung sướng, để người ta cúng dường cho ăn mà không chịu làm”.
Thật ra, Đức Phật dạy các đệ tử phải tinh tấn siêng năng, thức khuya dậy sớm để tụng kinh, niệm Phật, đi kinh hành… Quư vị thấy có vị nào lười biếng mà trở thành thánh tăng đâu.
nhờ có tinh tấn nên mới học kinh – hành Pháp. Điển h́nh như: nhờ có tinh tấn quư vị học thuộc nhiều bài kinh như: Thỉnh pháp sư, lễ bái Tam bảo… c̣n lười biếng th́ không thể nào thuộc được.
Trong đạo Phật, ai tinh tấn hành đạo th́ Đức Phật khen, nhờ có tinh tấn mới đạt được đạo quả.
Đức Phật có dạy trong kinh Đại Bát Níp Bàn lời di huấn tối hậu của Ngài là: hăy tinh tấn chớ có dễ duôi.
Điều bốn là Hỷ giác chi: là pháp khi ḿnh thực hiện rồi, nghĩ lại cảm thấy vui. Như khi quư vị làm một con đường hay cúng dường xây cất chùa, khi nghĩ lại cảm thấy vui.
Hỷ Bồ Đề là khi hành đạo chứng được những điều lạ mà trước đây ḿnh không biết, khi hành đạo chứng đạt được thiền định chẳng hạn, tâm cảm thấy thỏa thích, vui mừng để rồi cố gắng tiến thêm.
Điều năm là: Khinh an Bồ Đề hay khinh an giác chi.
Khinh an là trạng thái lâng lâng nhẹ nhàng của thân tâm, như khi quư vịđi đường xamệt mơi, khi về nhà tắm rữa mát mẽ, thân cảm thấy nhẹ nhàng, tâm cảm thấy khoan khoái.
Điều sáu là: Định Bồ đề hay định giác chi.
Tức là nói đến sự chứng đạt thiền định như chứng sơ thiền, nhị thiền…
Đức Phật dạy muốn có được những Pháp thiền này nên t́m nơi thanh vắng để hành thiền. Có người nói: “nhất tu thị nhị tu rừng” cho rằng tu ở phố chợ mới là hay chứ c̣n ở nơi rừng th́ thường lắm. Thật ra ở nơi thanh vắng mà kềm chế cái tâm c̣n khó khăn, nói chi ở phố chợ rần rần làm sao mà tu. Ở nơi thanh vắng không ai đụng chạm, tâm không bị quấy nhiễu, c̣n ở chợ th́ xích mích liên miên, tâm luôn luôn quấy rầy làm sao mà tu.
Đức Phật dạy: bậc trí thức nên t́m nơi thanh vằng để rèn luyện cái tâm.
Chúng ta tu cần ở nơi thanh vắng, như khi ở nhà chẳng hạn có ba bốn người bà con, họ c̣n gây gỗ nhau, rồi ḿnh phải nhận xétai đúmg ai sai, có khi c̣n phải đứng ra phân xử cho gia đ́nh êm ấm trở lại, khi ấy cái tâm bị động rồi. Nói chi nơi có đông người th́ cái tâm này càng bị loạn động hơn nữa.
Pháp thứ bảy là Xả Bồ đề.
Xả là đừng có chấp, như người ta có chữi mắng ḿnh th́ ḿnh nghĩ họ chữi đất nước lửa gió chứ không phải chữi ḿnh.
Quư vị nghĩ coi, thân này là do đất nước lửa gió hợp thành, chẳng có chi là trai hay gái cũng chằng phải là của ta. Chỉ v́ chấp vào ta nên mới giận hờn, chữi mắng nhau.
Nếu như có ai chữi mắng người khác th́ ta cũng không giận, trái lại khi chữi ḿnh th́ ḿnh sân hận để rồi những phước mà ḿnh tạo không cho được quả tốt. Tất cả do chúng ta không biết xả bỏ mà ra.
Như vua A Dục tạo nhiều tháp thờ xương Phật, bố thí cúng dường rất nhiều. Khi vua già - bịnh, Đức vua muốn bố thí nhưng các quan sợ hết của nên không làm. Đức vua nghĩ rằng: “ḿnh già bịnh rồi, biểu họ họ không làm” ông sân hận nên khi chết sanh làm con rắn nằm kẹt cửa chờ ông quan cải lời ḿnh đi ra mổ cho chết. Nhưng may nhờ ông có người con là bậc thánh nên cứu ông thoát ra sự oan trái và ác nghiệp đó.
Quư vị thử nghĩ xem, quư vị làm phước có bằng vua A Dục? Nên quư vị cần tu là tốt hơn làm phước, làm phước chỉ là phụ mà thôi.
Đây là bảy Pháp Giác chi tu hành để giác ngộ giải thoát nhất là Níp bàn.
Ta cần suy xét luôn rằng: đời này không bền vững, mới đó c̣n không c̣n nói chi là thân xác này; thân này rồi cũng trở thành thây ma thôi. Có nhiều người con, khi cha mẹ gần chết họ không dám đến gần, có khihọ cũng mời mấy sư đến tụng kinh, nhưng họ không dám đến gần, chỉ đứng xa hỏi “ba con chết chưa sư?”. Đấy! chưa chết mà người nhà c̣n sợ như vậy, khi chết rồi có người không dám rờ thây cha mẹ ḿnh nữa là khác.
Do đó, chúng ta thường xuyên quán tưởng, có quán tưởng chúng ta mới chán năn, có chán năn chúng ta mới tu. C̣n làm phước cũng tốt, nhưng chỉ phụ mà thôi, vị nào không có khả năng làm phước cũng đừng buồn miễn sao cố gắng tu là tốt rồi, tu mới là quan trọng.
Khi tu chúng ta sẽ có được hạnh phúc, không bị phiền phức lôi kéo.
Tóm lại bảy Pháp để tu là: Niệm Bồ đề, Huệ Bồ đề, Tấn Bồ đề, Hỷ Bồ đề, Tịnh Bồ đề, Định Bồ đề và Xả Bồ đề.
Phước thời Pháp hôm nay xin chia đều đến chư Phật tử, xin hồi hướng đến tất cả Chư thiên tại Tổ Đ́nh Kỳ Viên này, xin Chư thiên hoan hỷ phước báu và hộ tŕ Phật Pháp được tồn tại năm ngàn năm. Xin Chư thiên hộ tŕ Phật tử được tinh tấn tu hành.