PHÁP LÀM TĂNG THÊM SỰ GIẢI THOÁT
Trước khi thuyết Pháp, tôi xin hoan hỷ với phước báu do chư tăng cùng thiện nam tín nữ đă làm là: kiến tạo cổng Tam quan chùa, cổng Tam quan đă hoàn thành được rộng mở, tuy chưa có lễ khánh thành nhưng phước báu của chư Tăng cùng Phật tử được thành tựu rồi.
Trong thời gian tôi vắng mặt tại chùa Kỳ Viên, Đại Đức Thiện Nhân thay tôi kêu gọi chư Tăng cùng Phật tử hùn phước, kiến tạo lại cổng Tam quam, đă hoàn thành nhân dịp ra hạ, xin quư vị cùnh nhau hoan hỷ bằng tiếng Sadhu-Sadhu lành thay-lành thay.
Đệ tử xin thành kính đảnh lễ Đức Bổn Sư Thích Ca là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đệ tử xin đảnh lễ Pháp Bảo là Pháp học và Pháp hành.
Đệ tử xin đảnh lễ Tăng Bảo là Thánh Tăng và phàm Tăng.
Do uy lực của sự đảnh lễ tóm tắt này, xin gia hộ cho quư vị được: sống lâu – sắc đẹp – an vui và sức mạnh đều nhau tất cả.
Thưa quư vị! c̣n hai ba ngày nữa là ra hạ, một số Phật tử phát nguyện thọ tŕ bát quan giới trong ba tháng hạ cũng sắp măn hạn; chư Tăng và Phật tử tạo phước để mong cầu sự giải thoát sinh tử luân hồi. Đề tài thời Pháp hômnay là năm Pháp làm tăng trưởng đưa đến giải thoát.
Thưa quư vị! Giải là mở, thoát là ra khỏi ṿng trói buộc bởi phiền năo, để thoát ra sanh tử luân hồi, Đức Phật dạy chúng ta cần phải hành tŕ năm Pháp, đó là:
1- Thường xuyên quán tưởng vô thường.
Tức là luôn quán tưởng rằng: các Pháp hữu vi đều l;à vô thường.
Gọi là Pháp hữu vi là bao gồm cả sắc thân, nhà cửa, tài sản, xe cộ, bà con thân tộc…
Tất cả những điều ấy không bền vững, nhất là sắc thân của ta. Chính sự thường xuyên quán tưởng vô thường giúp tâm chúng ta không c̣n bám vào tài sản của ta, bà con của ta, ngay cả xác thân của ta.
Tài sản này vô thường v́ lúc có lúc không, bà con thân tộc cũng vô thường v́ lúc c̣n lúc mất.
Xác thân ta cũng vô thường v́ có lúc mập khỏe có lúc gầy yếu, có lúc khỏe mạnh, có lúc bịnh hoạn đau ốm…
Ngay cả chính Đức Phật với 32 tướng đại nhân cùng 80 vẽ đẹp cũng trở nên già lăo, Ngài cũng mang bịnh kiết lỵ để rồi Đại Níp Bàn ở xứ Kusinārā.
Nhờ quán tưởng thường xuyên vô thường như vậy, tâm sẽ không sầu muộn khi mất mát tài sản, thân tộc, không khó chịu khi thấy thân bịnh hoạn. Tâm cũng không c̣n thích thú khi có được nhiều tài sản, bà con thân tộc, cũng không c̣n bám chắc vào thân xác này cho rằng: “ta khỏe. ta đẹp. ta sang trọng”
Ngay cả Đức Phật khi Ngài 80 tuổi, có lần Ngài Ānanda nói rằng: Bạch Thế Tôn! Nay Thế Tôn đă già.
- Này Ānanda! Làm sao được khi các Pháp hữu vi là vô thường.
2- Thường xuyên quán tưởng khổ
Có thân tức có khổ, có tài sản có khổ không? Cũng khổ. Này nhé! Có nhà đẹp tâm bị dính mắt với nhà đẹp, lo ngại nó hư mục trở nên xấu xí, có xe đẹp tâm dính mắt xe đẹp, e ngại bị người cướp, đánh cắp…
Tất cả đều là Pháp hữu vi, chính thân này cũng thế, thân khỏe mạnh khi bị vô thường th́ trở nên bịnh hoạn, thân bịnh hạon dẫn đến cái khổ. Thân trẻ trung khi bị vô thường th́ trở nên già lăo, dẫn đến run rẩy, đi đứng khó khăn, vậy là khổ, rồi răng rụng mắt mờ… Rồi dẫn đến cái chấp, có chúng sanh, sanh ở trên mặt đất, chết ở hư không như bị tai nạn máy bay chẳng hạn, có chúng sanh sinh hoat ở hư không lại chết trên đất như loài chim chẳng hạn.
Nói chung, già - bịnh - chết là cái khổ của thân.
Lo âu bị tổn thất tài sản, là cái khổ có tài sản.
Đại Đức Ānanda bậc A la hán, Ngài chết giữa hư không v́ Ngài có ước nguyện ở giữa sông Rohīnī “Xá Lợi hăy phân làm hai: bên nội lẫn bên ngoại”. Thân bậc Thánh A la hán c̣n bị vô thường - khổ như vậy đó.
Cái khổ có là do bám chấp: bám chấp vào thân nên có khổ thân, bám chấp vào tài sản nên có khổ v́ tài sản.
3- Thường xuyên quán tưởng về Vô ngă
Đức Phật có dạy:
“Con ta tài sản ta
Người ngu nghĩ quấy khổ
Thân ta c̣n không có
Con đâu tài sản đâu
Đă là vô ngă th́ nó không ở trong quyền lực của ta, ta muốn đủ măi nhưng không được đó chính là vô ngă. Ta muốn mạng măi nhưng vẫn bịnh hoạn, đó là vô ngă.
Người Phật tử chúng ta nên quán tưởng vô thường - khổ - vô ngă hằng ngày để có được sự an vui.
Nếu không quán tưởng thường xuyên, tâm sẽ bám chấp vào thế gian, cho dù hằng tuần giúp vị nghe Pháp, bố thí cúng dường nhưng không quán tưởng ba Pháp này, khi hưởng hết quả phước của bố thí, cúng dường, nghe Pháp rồi cũng phải chịu luân hồi sinh tử.
Trái lại, thường xuyên quán tưởng ba Pháp vô thường - khổ - vô ngă khi duyên lành đến có thể ra khỏi luân hồi.
4- Ĺa bỏ hận tư duy
Hận tư duy là tâm hiềm hận, muốn trả thù báo oán khi có người chạm đến ḿnh. Chính hận tư duy dẫn đến hại tư duy, để rồi cả người hại lẫn người bị hại đều phải chịu khổ.
Không có hận tư duy, tức là không có oan trái, đem “oan trái trả lại oan trái” th́ oan trái không thể dứt được và oan trái mà khôn g xả bỏ, măi măi vẫn c̣n oan trái.
Đề Bà Đạt Đa trong tiền kiếp cứ măi măi oan trái với Bồ Tát: cho đến khi Bồ Tát thành Phật rồi sự oan trái ấy vẫn c̣n.
Đề Bà Đạt Đa không xả bỏ được hận tư duy nên ông ŕnh lúc Đức Phật đi kinh hành, xô đá từ núi cao xuống để đè chết Đức Phật, nhưng chỉ một mảnh đá nhỏ văng trúng chân Ngài, khiến Đức Phật đau đớn và Đề Bà Đạt Đa cũng v́ nghiệp này mà rơi vào địa ngục.
Quư vị thấy chưa, hận tư duy đưa đến khổ người lẫn khổ ḿnh.
Đức Phật có dạy:
“Hận thù diệt hận thù
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luật thiên thu”
5- Dứt bỏ t́nh dục
T́nh dục là một phiền năo, chính phiền năo dẫn đến chúng sanh vào luân hồi trong cơi dục. Bậc Thánh A na hàm đă dứt bỏ t́nh dục nên Ngài không c̣n sanh về cơi dục nữa.
Trong các dính mắc th́ t́nh dục là một dính mắc lớn nhất, đó là một khía cạnh của ái dục. Có nhiều người bằng ḷng ĺa bỏ thân bằng quyến thuộc, thận chí chẳng màng đến uy quyền, chức tước hay bất kỳ thứ ǵ, để chạy theo đối tượng là t́nh dục.
Đức Phật dạy chúng ta bố thí để không bị dính mắc vào tài sản, dạy chúng ta giữ bát quan trai giới là để xa lánh t́nh dục.
Dạy chúng ta hành thiền để trừ đi hận tư duy, đồng thời quán tưởng vô thường, khổ, vô ngă để thoát ra phiền năo, thoát ra sự dính mắc vào thân.
Khi không c̣n dính mắc vào tài sản, không c̣n dính mắc vào thân, không c̣n bị phiền năo sân hận, t́nh dục làm tâm bị dơ bẩn, khi ấy chúng ta được giải thoát.
Có lần có vị tỳ kheo trước đây là một vị vua. Sau khi xuất gia vị ấy thường tán thán rằng: “ ôi ! thật là an lạc, ôi! thật là hạnh phúc”. Chư Tỳ kheo cho rằng vị này nhớ biết ngôi vua nên tŕnh lên Đức Phật, Ngài cho gọi vị tỳ kheo ấy đến hỏi rằng:
- Này Tỷ kheo! V́ sao ông tán thán “ôi! thật an lac, ôi! thật hạnh phúc”.
- Bạch Thế Tôn! Trước đây con làm vua, tâm con luôn lo sợ, đi đâu cũng có người hô vệ mà cũng không an tâm, lo sợ ngai vàng bị chiếm đoạt, lo sợ thân bị mưu sát…
Nay con xuất gia sống ở cội cây, tuy không có người hộ vệ mà tâm con thoát ra khỏi sự lo sợ, không c̣n lo sợ như khi ở Hoàng cung, nên con tán thán hạng xuất gia như vậy.
Đức Phật Ngài khen ngợi vị Tỷ kheo ấy rằng:
- Lành thay – Lành thay.
Quư vị thấy chưa, nếu tâm chúng ta không bị dính mắc, chúng ta cảm thấy an lạc như vậy đó.
Phước Pháp thí hôm nay, xin hồi hướng đến ông Phan ngọc Ẩn cùng thân bằng quyến thuộc đă quá văng của chư Phật tử. Đồng thời phần phước pháp thí này xin chia đều đến chư Tăng cùng Phật tử đă tạo phước xây dựng cổng Tam quan chùa Kỳ Viên này.