VÀI CẢM NGHĨ NHÂN NGÀY  KỶ NIỆM

 

 ĐỆ NHẤT CHU NIÊN CỦA ROOM DDPGNT 

 

 

                                                                            Tỳ kheo Giác Lộc   

   

Kính thưa quư vị,

 

Khoa tin học ( computer science) hoặc công nghệ thông tin  (information technology) đă mở ra một kỷ nguyên về mạng Internet trong đời sống xă hội của toàn thế giới. Từ đầu thập niên 1990  Internet trở thành phương tiện truyền thông nhanh chóng và tiện lợi nhất. Đây là giai đoạn mà mọi người ở năm châu bốn biển cách xa hằng ngàn dặm có thể giao tiếp cấp tốc thông qua máy vi tính. Dựa vào Internet nhiều dịch vụ lần lượt ra đời, trong đó có  paltalk. Nhờ phương tiện này người phật tử Việt nam ở hải ngoại đă thành lập các room phật pháp để  có dịp lắng nghe chư Tăng Ni thuyết giảng. Do nhu cầu học hỏi của phật tử Nam tông, các room được thành lập như Diệu Pháp, Diễn đàn phật giáo Nguyên thủy, Diễn đàn phật giáo Nam tông v.v…

 

Các room Nam tông do chư sư tŕnh bày về giáo lư Nguyên thủy chẳng những thu hút giới phật tử Nam tông hải ngoại và quê nhà mà c̣n gây ấn tượng tốt trong hàng xuất gia lẫn tại gia bắc tông và các hệ phái phật giáo khác. Riêng hai room diễn đàn phật giáo Nguyên thủy và Nam tông qua một năm hoạt động đă xác lập được thế đứng trong t́nh cảm của mọi giới phật tử. Việc đến room nghe pháp trở thành nhu cầu thiết yếu của  nhiều người và đây là một khích lệ lớn lao cho ban điều hành cũng như các giảng sư đă tận tụy với sự nghiệp “ Đốt đèn trí tuệ soi đường tử sinh”. Riêng tôi là một thành viên của room DDPGNT từ khi giảng trên paltalk nhận thấy chính ḿnh đă đặt bước vào một thế giới thứ hai khác xa với đời sống trầm lặng hằng ngày. Qua những buổi giảng bắt nguồn từ các câu hỏi, tôi có dịp tiếp cận với mọi căn cơ tŕnh độ của nhiều người . Điều này giúp cho tôi thêm kiến thức về phật pháp đúng như câu nói của người xưa “ Hiệu học bán”( dạy là học phân nữa ). Trước kia tôi nghĩ rằng đời sống quá nhiều cám dỗ vật chất ở hải ngoại sẽ khó t́m được người nào thực tâm hướng về phật pháp, nhưng quan niệm này trở nên lỗi thời khi tôi có dịp giao tiếp với một số phật tử trên paltal.Mặc dù những  phật tử này có đủ mọi phương tiện vật chất, nhưng vẫn hướng niềm tin về nơi Tam Bảo. Dù có nhiều thú vui để giải trí quư vị này vẫn dành nhiều thời gian để nghe pháp, học đạo, tham thiền. Do đó người ta có thể ở bất cứ nơi nào nếu có đủ duyên lành với phật pháp th́ hạt giống trí tuệ vẫn sanh trưởng thuận lợi. Những phật tử kia như hàng chư thiên trên cảnh trời đầy dục lạc nhưng không hề dễ duôi trong đời sống. Niềm tin trong sáng của chư phật tử như thế trợ duyên rất nhiều cho tôi khi phản tỉnh lại vai tṛ tự giác giác tha trong đời sống tu tập.Vài phật tử đă đặt quá nhiều tin cậy nơi tôi, lo toan đến từng nhu cầu hằng ngày, có vị mong muốn tôi trở thành một thánh giả trong đời sống này. Tất cả những quan tâm đó xuất phát từ tấm ḷng cao quư và càng khích lệ tôi thêm trên hành tŕnh theo dấu chân của Đấng giác ngộ. Trước kia mỗi ngày ngoài thời gian tu tập, nghiên cứu kinh điển, tôi c̣n dành vài giờ để theo đuổi vài sở thích bổ ích, chẳng hạn như đọc văn học nước ngoài. Nhưng từ ngày bắt đầu công tác giảng trên paltalk tôi phải giảm tối đa sở thích của ḿnh để hướng tâm về bài  giảng. Bởi v́ chư phật tử đă biết lăng quên nhiều niềm vui thế tục để ngồi bên computer nghe pháp, có vài vị thu âm bài giảng để nghe lại . Trước sự tinh tấn như thế, tôi không thể thiếu trách nhiệm với bài giảng của ḿnh, bắt buộc phải nghiên cứu nhiều kinh sách liên quan đến đề tài và dành cho bài giảng sắp ra đời nhiều thời gian. Một bài giảng cũng như một quyển sách nếu không cẩn thận, không có thời gian kiểm chứng,  chỉ vội vă góp nhặt vài ba ư tưởng khi đưa ra trước công chúng sẽ rất tai hại. Theo tôi, một bài giảng hay và giá trị không phải thuần túy về văn chương là đủ. Các bài  giảng đều liên quan đến phật pháp, cho nên phải làm cho sáng tỏ phần giáo lư trong bài giảng của ḿnh. Phật pháp lại liên quan chặt chẽ đến hệ thống tâm lư của con người, đó là kinh nghiệm tu chứng của Phật và các bậc thánh. Giảng pháp là nói lên những vấn đề tâm lư phức tạp, cũng như những vấn đề tâm lư sâu xa hơn liên quan đến chỉ quán. Bởi v́ tâm lư là cái ǵ trừu tượng nên khi diễn đạt thành ngôn ngữ phải cho rơ ràng mạch lạc, ngay cả vào thời Đức Phật một phàm phu giảng pháp thông suốt vẫn được phật ca ngợi là có trí tuệ. Thường th́ những ư trong bài giảng chỉ là phần triển khai ư chính trong kinh điển, càng nghiên cứu nhiều sẽ cho những ư này, đây là những viên gạch cứng rắn để xây dựng  nền móng cho bài giảng. Khi thiếu nghiên cứu, không nắm được ư chính, chỉ diễn đạt vài ư nông cạn của ḿnh th́ bài giảng sẽ trở thành khô khan, phi tâm lư. Sự tinh tấn trong pháp hành cũng cần thiết cho bài giảng, một giảng sư măi đuổi theo những ngôn từ mà quên đi chính ḿnh th́ cũng như con diều giấy lên cao rồi để mặc cho gió cuốn đi. Trái lại bài giảng sẽ tăng phần giá trị khi người giảng có căn bản trong pháp hành. Đây là hai h́nh ảnh tương phản về phong cách một giảng sư do chính Đức Phật nêu ra :

 

                           Như bông hoa tươi đẹp,

                           Có sắc, nhưng không hương.

                           Cũng vậy, lời khéo nói,

                           Không làm không kết quả.

 

                                                                     Kinh pháp cú 51

 

                          Như bông hoa tươi đẹp,

                          Có sắc, lại có hương.

                          Cũng vậy lời khéo nói,

                         Có làm, có kết quả.

                                                               Kinh pháp cú 52

 

 Một thiền sư Thái Lan thông suốt giáo lư - Ngài Acharn Chah, trong những bài giảng của ngài ít nói về kinh điển, tại sao thu hút nhiều giới trí thức tây phương. Trường hợp này không có ǵ khó hiểu cả, chỉ v́ Ngài đă tiến vào cái cốt lơi của việc thuyết giảng, đó là kinh nghiệm tu chứng của ngài. Những vấn đề tâm lư mà Ngài nêu ra đều là những vấn đề dành cho ngài và những người đang lắng nghe, đó là những bài giảng của muôn đời. Một giảng sư chỉ cần hai mươi ư chính là đủ cho một bài giảng, c̣n các thiền sư như Ngài Acharn Chah có một kho tàng ư chính sống động tự  nhiên. Do đó nguyên tắc cơ bản của việc hoằng pháp lợi sanh xưa nay là giữa người giảng và người nghe có một sự giao cảm tâm linh mật thiết là cùng nhau hướng về sự thực hành. Chữ tu trong tiếng Việt dịch sang Őli văn là BŨvaŮ, nghĩa là tu tiến, phát triển. Khi nào tâm linh được phát triển là có sự tu tập. Trong phật giáo có hai cách tu : Tu tập hoặc phát triển tâm là SamathabŨvaŮ ( tu tập về chỉ ).Tu tập hoặc phát triển tuệ là VipassaŮbŨvaŮ ( tu tập về quán  ). Phật pháp sẽ thịnh hành và sáng chói ở  đời khi mọi người con Phật đều quư trọng pháp học lẫn pháp hành.   

  

Giảng pháp là một sứ mạng cao cả, nhưng sức người có hạn, tôi chỉ cố gắng theo khả năng của ḿnh. Hiện tại tôi đang sống trong một môi trường thuận lợi và những phật tử cũng vậy. Công việc giảng dạy của tôi sẽ cần thiết cho những phật tử vào giai đoạn này, đó là hành trang tâm linh dành cho những ai hoan hỷ trong pháp. Đến giai đoạn khác tôi sẽ có công việc của một sa môn phải hành tŕ và những phật tử hiện tại biết đâu cũng có phận sự  phải làm,cũng có một hướng đi như tôi. Dù phải hy sinh nhiều  thời gian và sức khỏe,  tôi vẫn có niềm vui trong việc lợi hành khi bên cạnh tôi là những phật tử đặt trọn ḷng tín thành nơi Tam Bảo. Những thành viên trong hàng chư Tăng cũng gợi nơi tôi sự kính trọng sâu đậm.Tinh thần trách nhiệm cao của các giảng sư trong room là một tấm gương phục vụ đầy hạnh vị tha. Đại Đức Siêu Minh, Đại Đức B́nh An là hai h́nh ảnh trong sáng về đức tính tận tụy ngay từ buổi giao thời  thành lập room. Tứ hải giai huynh đệ ( bốn biển đều là anh em ). Câu nói của người xưa đă thể hiện rơ nét trên paltalk, mổi ngày Tăng, Ni, phật tử VN trên toàn cầu gặp nhau trong room như trở về quê hương, từ những người xa lạ trở nên thân thiết như người nhà. Những mối liên hệ thân thương, đạo vị ấy theo tôi sẽ bền vững hơn nữa trên đà phát triển của room DDPGNT trong tương lai.

                                      

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT