TaI SAO TÔI THEO PHẬT GIÁO

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Những cuốn sách trong loạt bài Cam Kết Sống Đức Tin này, nhằm tạo cho bạn một cơ may khảo sát lại những tôn giáo cùng với những giáo phái (các nhóm trong phạm vi các tôn giáo đó) thông qua những suy tư cá nhân của những người sống cam kết với một tôn giáo nào đó.

Để viết những cuốn sách trên, chúng tôi đă thực hiện nhiều cuộc thăm viếng đến các cộng đoàn tôn giáo, thuộc nhiều địa phương khác nhau khắp Anh quốc. Chúng tôi đă tiếp chuyện với nhiều người, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, hy vọng giao tiếp được trong cộng đồng đó – như cha mẹ, con cái, ông bà, mục sư, công nhân, viên chức. Nghĩa là chúng tôi đă phỏng vấn nhiều người b́nh thường như bạn và gia đ́nh, các bạn bè của bạn, những người nơi bạn đang sống. Chúng tôi đặt ra cho họ một số câu hỏi chung  nhất cho mọi người và sử dụng lại những chủ đề đó làm tựa đề mỗi chương trong cuốn sách này.

Mỗi chương gồm nhiều trích đoạn trong các cuộc phỏng vấn đó.  Mỗi người làm sáng tỏ những vấn đề chúng tôi đặt ra cho họ tùy ư thích và theo cách suy nghĩ riêng.  Họ hoàn toàn tự do diễn đạt theo ngôn từ riêng của ḿnh, cộng với những quan điểm tôn giáo rất riêng tư của từng người, lồng với những kinh nghiệm cá nhân riêng tư nhất. Họ muốn nhấn mạnh ở điểm nào là tùy ở họ. Kết quả là chúng tôi thu lượm được một bộ, gồm nhiều trực giác rất riêng tư,  theo đó tôn giáo mang ư nghĩa ǵ đối với một số người c̣n theo đuổi tôn giáo riêng của ḿnh. Có rất nhiều trực giác siêu nhiên được phát hiện, v́ thế cho nên bạn cũng có thể rút ra được những suy tư và những cảm nghiệm cho chính bản thân tương tự như vậy. Có bao giờ ban tự coi ḿnh là một con người “đạo hạnh” hay chưa?

Các bạn sẽ gặp ở một số trang có những hộp thoại Sự kiện – Dẫn chứng (Fact-Finder). Những hộp thoại này, giúp nối kết những ǵ họ đề cập đến, nơi các trích đọan được thể hiện trên những trang giấy đó. Những hộp thoại đó nhằm cung cấp cho bạn những thông tin hỗ trợ, tỷ dụ như một định nghĩa hay kiếm đâu ra những tham khảo cho một bài Kinh hay một đoạn Kinh Phật nào đó, một điều cần nhớ là những sách đó không phải loại sách tham khảo. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ tự thực hiện được một vài tham khảo khi cần đến. Có rất nhiều nguồn tư liệu cần được tiếp cận và thầy giáo trong lớp có thể giúp bạn rất nhiều.

Chúng tôi có cho in một số h́nh ảnh rải rác trên các trang sách đó. Một số vật dụng bạn có thể thấy thể hiện trên các trang đó thuộc một số người chúng tôi phỏng vấn thường dùng. Đa số các vật dụng này mang một ư nghĩa cá nhân riêng tư. Một số lại mang ư nghĩa tôn giáo thuần túy. Những h́nh ảnh này rất đặc biệt đối với những ai cho chúng tôi mượn những vật dụng đó, giống hệt như những vật dụng cá nhân đặc biệt của bạn vậy.

Cam kết sống Phật Pháp:  Cộng thể Phật giáo sẽ giới thiệu với bạn bảy Phật tử là các vị Tăng Ni hiện đang trụ tŕ tại các Tăng già dành cho các nhà sư hay ni cô tại thiền viện Phật giáo Amaravati tại Great Gaddesden hay thuộc bộ phận đạo hữu “Amaravati” nghĩa là “lănh vực bất tử” theo tiếng Pàli (xin đọc tr. 9), nhằm nhắc nhớ cuộc hành tŕnh siêu nhiên của các Phật tử sẽ phải hướng tới. Thiền viện này hiện thuộc truyền thống Phật giáo nguyên thủy (Nam tông)

SYLVIA AND BARRY SUTCLIFE.

 

 

I

TỰ GIỚI THIỆU

Họ tên:  Tissa F

Nghề nghiệp:  Tôi hiện là sinh viên đang theo học Khoa Tâm lư, Sinh học, tiếng Đức và AISRE. Tôi đang nghiên cứu Tâm lư ngoại khóa.

Gia đ́nh:  Tôi có hai người chị. Một người là chị hai, c̣n chị ba là chị song sanh với tôi. Chị hai tôi mười chín tuổi, hiện đang theo học đại học tại Luân Đôn ngành khiêu vũ. Chị song sanh với tôi cũng đang học đại học như tôi, tuy nhiên chị tôi học chuyên ngành nghệ thuật. Chị tôi lấy pháp danh là Nimala, có nghĩa là “tinh tuyền”.

Sở thích đặc biệt của tôi:  Tôi tập luyện Judo rất thường xuyên. Cùng với  chị, tôi đă tham gia thi đấu vơ Kata giải quốc gia. Người theo môn vơ Kata không tấn công đối phương. Bạn chỉ di chuyển và tránh đ̣n thôi. Tôi đă đoạt giải năm trong cuộc thi, thành tích  không tồi lắm, có phải không. Nhưng hiện thời chúng tôi không có nhiều thời gian, rốt cuộc chúng tôi kết thúc không c̣n luyện vơ Kata nữa, chúng tôi cũng tham gia ban kèn đồng - Tôi chơi kèm Trôm bôn, c̣n chị tôi chơi kèn Trôm pét.

 

Xin giới thiệu thêm một số thông tin:

Từ hồi mới lên sáu người ta thường gọi tôi là Tissa. Khi cả hai chị em lên sáu tuổi, mẹ có hỏi xem hai đứa chúng tôi có thích lấy pháp danh hay không, trong khi đó cho đến lúc này cả hai chúng tôi đều chưa lấy pháp danh, và đồng thời mẹ cũng nhận pháp danh cùng với chúng tôi. Chẳng có quy định tuổi tác nào cho việc này cả. Một số cha mẹ đặt pháp danh cho con ngay từ lúc mới sanh, số khác lại tự  lấy pháp danh khi đến tuổi trưỏng thành.

Bạn có thể yêu cầu một vị sư đặt cho bạn một pháp danh. Tôi đă đến xin Thượng tọa Ajahn Sumedho, là Trưởng lăo trụ tŕ tại thiền viện Amaravati làm việc đó. Vị sư cũng ban “ngũ giới” cho bạn, ngài tụng từng bài kinh một cho bạn nghe và yêu cầu bạn nhắc lại theo ông. Ngũ giới là những nguyên tắc đạo đức do chính Đức Phật  đă đề ra. Ngũ giới chẳng phải là luật lệ hay giới răn thuần túy đâu. Đây chỉ là những cách sống bạn đồng ư theo đuổi mà thôi. Chúng ta chấp nhận không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, – và một số điều khác đại loại như vậy.

Lư do tôi ăn chay trường là v́ tôi đă chấp nhận không sát sanh. Mọi thành viên trong gia đ́nh tôi đều căn chay trường, chỉ trừ có ba tôi thôi, ông thích ăn món thịt! Không có vấn đề ǵ cả. Điều tôi không chấp nhận là một số người ăn chay lại diễn giải cho là:  “Mọi người đều phải ăn chay”. Tôi nhận thấy tự bản chất mọi người đều muốn ăn thịt, nhưng bản thân tôi không muốn dùng món đó.

***

Họ tên:  Medhina F. “Medhina” là một pháp danh có nghía là “người khôn ngoan”.

Nghề nghiệp:  Tôi 46 tuổi. Sinh họat chính của tôi là dạy học và nghiên cứu Phật giáo. Tôi dạy tại một trường tiểu học. Tôi đă theo đuổi nghề này cho đến nay đă được mười tám năm.

Hoàn cảnh gia đ́nh:  Cha tôi là một chàng trai Lancashire, c̣n mẹ tôi lại mang quốc tịch Bỉ. Họ gặp nhau ở thế chiến thứ hai. Mười sáu năm về trước tôi tập gia đ́nh và đă có ba cô công chúa..

Một vài sở thích:  Trong quá khứ sở thích của tôi thật đa dạng –  tôi theo đuổi nghề may vá thêu thùa, luyện tập thể thao và nhiều điều đại loại như thế. Nhưng bạn chẳng c̣n bao nhiêu thời gian khi đă có gia đ́nh với ba đứa con nhỏ dành cho một  công việc và một sở thích to lớn là theo đuổi Phật giáo như vậy.

Thêm một số thông tin:

Tôi đă khởi sự nghiên cứu Phật giáo ngay từ hồi mới 14 tuổi, tôi nghiền ngẫm suy tư và hành thiền một cách không chính thức. Trong nhiều năm liên tiếp tôi thực sự đă là một Phật tử lẻ loi và cô đơn. Nhưng rồi tôi quyết định t́m hiểu xem các Phật tử khác sống ra sao và đă đến xin gia nhập Giáo hội Phật giáo tại Luân Đôn. Tại đây họ giúp tôi tiếp cận với thiền viện Phật giáo nguyên thủy có cơ sở đặt tại Chithurst tỉnh Sussex, tôi phải đi một quăng đường khá xa mới có thể duy tŕ liên lạc được với thiền viện này. Thế rồi một vài năm sau thiền viện Phật giáo nguyên thủy thứ hai được mở tại Amaravati, rất gần chỗ tôi đang ở. Hiện thời tôi thường xuyên lui tới thiền viện này.

Tôi vô cùng cảm khích v́ đă có một Tăng già Phật giáo được thành lập tại Anh quốc này. Lúc đầu tôi chỉ tu luyện Phật giáo theo cảm hứng riêng, chỉ theo lư trí mách bảo mà thôi. Điều đó hoàn toàn khác biệt so với những Phật tử đang sống theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy trong cuộc sống đời thường của họ. Họ phải đối mặt với những vấn đề hết sức nhân bản trong cuộc sống, phải sống  chung đụng với nhau trong thế kỷ thứ hai mươi này. Họ đang phải tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại. Ấy thế mà họ lại theo một lối sống tuân thủ những Tông giới (vinaya) nghiêm ngặt đă được qui định hơn 2500 năm về trước. Tông giới và cả một hệ thống Phật pháp xem ra vẫn c̣n rất hợp thời! Chính v́ vậy mà Phật giáo luôn sống măi trong tôi. Chính v́ Phật giáo cũng thích hợp với nhiều người khác. Đây là điều đă được chứng minh qua thử thách.

****

Họ tên:  Gitindriya

Nghề nghiệp:  hiện tôi đă 30 tuổi. Khoảng năm năm về trước tôi đă được thọ đại giới thành ni cô tại thiền viện Amaravati. Đó cũng là lúc tôi nhận pháp danh Gitindriya, theo tiếng Pàli. “Jit” có nghĩa là “thắng vượt” c̣n Indriya có nghĩa là “giác quan” vậy tên tôi mang ư nghĩa một con người đă “thắng vượt giác quan” Trước đó tôi được thọ đại giới thành Sa di trong hai năm.

Gia cảnh:  Tôi xuất thân là người Úc. Mẹ tôi theo đạo Công giáo, c̣n cha tôi chẳng theo đạo nào cả. Mẹ tôi giáo dục con cái theo truyền thống Công giáo cho đến khi các con đến tuổi trưởng thành tự quyết định xem phải làm ǵ, liệu có nên tiếp tục đến nhà thờ nữa hay không. Đây là điều vô vùng ư nghĩa đối với chúng tôi.

Một số sở thích:  Chúng tôi theo đuổi cuộc  sống  “ly  tục” - có nghĩa là chúng tôi từ bỏ nhiều thứ, tiếng nhà Phật gọi “diệt dục”. Chúng tôi dành rất nhiều thời gian cho việc hành thiền trong tĩnh lặng, cầu nguyện và suy ngẫm riêng tư cá nhân. Đa phần những cuộc nghiền ngẫm đó đều liên quan đến tâm linh, và cách h́nh thành nhân cách mỗi người  như thế nào. Chính v́ thế hầu hết các sở thích của tôi đều gắn liền với những luyện tập siêu nhiên.

 

Thêm một số thông tin:

Lần đầu tiên tôi tới thiền viện này nhân tham gia một khóa huấn luyện.  Hồi đó tôi khoảng 23 tuổi. Tôi rời nước Úc và đi du lịch khắp vùng Đông Nam Á, cuối cùng tôi đă dừng chân tại Anh Quốc. Tôi cố gắng sắp xếp cái thế giới xô bồ nhỏ bé của tôi, cố gắng khám phá và t́m hiểu cái thế giới đó. Cuối cùng trong khóa huấn luyện, tất cả các miếng xếp trên bàn cờ xếp h́nh đă được xếp đúng vị trí. Ít nhất cứ tạm gọi là như vậy đi. Tôi đă tiếp cận với một truyền thống 2500 năm tuổi, chính truyền thống đó đă cung cấp cho tôi ư nghĩa chung cuộc cho mọi vấn đề của tôi. Đó chính là lư tưởng tôi t́m kiếm từ bấy lâu nay và cũng đem đến cho tôi những  phương cách hết sức thực tiễn để thực hiện điều đó. Tôi có thể tận dụng và hiên ngang tiến lên phía trước. Tôi đă phát hiện  ra cuộc t́m kiếm vô cùng giá trị.

Một điều chưa bao giờ xuất hiện nơi tôi, đó là tôi có thể tiến hành tu luyện để trở thành Ni cô. Tôi c̣n nhớ ḿnh đă liên tưởng, nh́n ngắm những Tăng Ni. “Họ thật sự là một cộng thể những con người hết sức đặc biệt, họ không giống như tôi… Rồi tôi suy nghĩ:  “Ḿnh cũng cần phải trở nên đặc biệt để có thể làm một người trong số họ”.

Cứ mỗi lần tôi trở lại thiền viện Amaravati, tôi lại hiểu thêm được một chút về cái cộng thể đó, về cơ cấu của cộng thể đó. Tôi phát hiện ra các Sư săi Tăng Ni cũng chỉ là những người b́nh thường như tôi, từ từ mặt trời soi chiếu trên tôi cho thấy chính tôi cũng có thể được thọ đại giới làm Ni cô, nếu tôi muốn thế. V́ những thứ tự ưu tiên của tôi đă thay đổi, điều này khiến tôi phải cân nhắc nghiêm túc hơn. Chỉ nội trong một năm, tôi hầu như đă muốn quyết định xin thọ giới. Tôi suy nghĩ tấm ḷng tôi, tôi đă quyết định thẳng tiến. Nhưng c̣n ư chí th́  sao, chắc c̣n phải cần một thời gian dài mới có thể b́nh ổn được.

Nghi thức thọ đại giới đầu tiên dành cho các Tăng Ni được gọi là “Tiến lên phía trước”. Bạn phải suy tư và theo truyền thống thời điểm này, có nghĩa là từ chỗ có nhà cửa, ta sẽ trở thành “người vô gia cư”.  Tiến lên phía trước, bạn phải từ bỏ không chỉ những tiện nghi trong cuộc sống gia đ́nh, nhưng c̣n có thể gọi đó là hành vi “diệt dục”, bạn phải loại bỏ những tham muốn trói buộc bạn vào một gia đ́nh đặc thù nào đó – đây không phải là cắt bỏ hết – nghĩa là chúng ta không chủ trương ngăn cản liên lạc b́nh thường với gia đ́nh. Nhưng một nhà Sư hay một Ni cô nào đó, phải biết thoát ra từ chỗ an toàn trong một gia đ́nh đặc thù duy nhất, đến chỗ tham gia vào một đại gia đ́nh rộng lớn hơn. Tôi suy nghĩ  điều có được, hiểu như là tham gia vào đại gia đ́nh nhân loại.

Để trở thành Ni cô, tôi cũng phải từ bỏ mọi liên quan đến tiền bạc. Loại bỏ tất cả những phương cách có thể tự hỗ trợ ḿnh trên b́nh diện tài chánh. Tôi không thể sở hữu tài sản riêng. Mọi người chúng tôi, Ni sư cũng như Sư săi đă được ban tặng, và mọi người đều có thể coi đó như là tài sản riêng của ḿnh, đó là điều chúng tôi gọi là Tứ trợ đạo pháp (four requisites) gồm:  b́nh bát khất thực, áo cà sa, thuốc men khi cần thiết và chỗ ở dành qua một đêm mà thôi. Ngay cả khi chúng tôi sống trong thiền viện, chúng tôi cũng phải nhớ là những tiện nghi đó cũng chỉ dành cho chúng tôi để qua một đêm mà tôi. Mọi người phải luôn ghi nhớ:  “Nơi đây chẳng phải là chỗ ở vĩnh viễn  của ḿnh. Chỗ ở này chỉ là nơi đă được ban tặng cho tôi”. Chính v́ thế toàn bộ những tiện nghi đó chỉ nhằm hỗ trợ chúng ta “diệt dục” mà thôi. Chúng tôi không thể tích trữ thực phẩm qua đêm với dụng ư nhằm sử dụng cho mục tiêu riêng tư cá nhân.

Khi Ḥa thượng Ajahn Chah, vị sáng lập ra thiền viện Amaravati  đưa bốn vị sư Phật giáo nam tông về Anh quốc. Ngài đă nhấn mạnh đến yêu cầu buộc họ phải tiếp tục sống bằng khất thực. Vào mỗi buổi sáng tại Thái Lan các nhà sư đều ra khỏi nhà mang theo b́nh bát khất thực và rảo qua khắp các làng mạc. Dân chúng trong làng cúng dường cho họ cơm ăn, hay bất kể những ǵ có thể ăn được, trịnh trọng đặt vào bát khất thực cho các nhà sư.  Sau đó các vị sư quay trở về chùa và chia sẻ với nhau những thực phẩm đă thu được. đó là bữa ăn trong ngày của họ.

Để tiếp tục thực hiện truyền thống đó tại Anh quốc này, chúng tôi cũng ra ngoài để khất thực mang theo bên ḿnh b́nh bát. Đôi khi những người trong nhà hay bạn bè mời chúng tôi lại nhà họ – có nghĩa là bạn bè nơi cộng đồng dân cư đó có thể mời chúng tôi đến thăm nhà họ, họ có thể là bạn bè hay những cư dân trong một cộng đồng nào đó. Cứ b́nh thường khi đưa chúng tôi trở lại thiền viện, họ đều đặt của bố thí vào tô khất thực chúng tôi. Một đôi lần khác,  chúng tôi đi khất thực quanh tất cả các làng mạc với mục đích tin tưởng dân chúng trong làng sẽ bố thí cho chúng tôi thức ăn để sống trong ngày hôm đó. Một điều lạ lùng là, người ta cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm, một số người khác v́ không am tường truyền thống của chúng tôi đă cho chúng tôi cả tiền nữa, nhưng chúng tôi chỉ có thể nhận thực phẩm đủ dùng trong ngày mà thôi. Chúng tôi không được phép ngỏ lời xin và chỉ được nhận mà thôi.

Ngay lúc đầu, tôi nghĩ chúng tôi sẽ chẳng nhận được chút thực phẩm nào, nhưng có điều chắc chắn là chúng tôi không phải nhịn đói bao giờ! Thực phẩm chúng tôi sử dụng trong thiền viện này là do dân chúng đem lại, và thực phẩm này đă giúp duy tŕ cuộc sống chúng tôi trong suốt hai mươi năm qua.

******

 

Họ tên:  Amaro

Nghề nghiệp:  Tôi là nhà sư thứ hai trụ tŕ tại thiền viện Amaravati này. Điều này có nghĩa là khi thiền viện trưởng, người lănh đạo cộng thể Tăng già này đi vắng hay trên đường hoằng đạo. Tôi sẽ phải điều hành Tăng già và là người đứng mũi chịu sào trong tất cả mọi việc.

Tôi sinh ra tại Anh quốc. Tôi đă đi tu được mười lăm năm và đă sống hầu hết thời gian mười lăm năm đó trên đất nước này, giống như đa số các vị Tăng Ni tại thiền viện Amaravati. Tôi được huấn luyện tại Thái Lan trong ṿng hai năm, rồi trở lại Anh quốc sau khi thiền viện Phật giáo nguyên thủy Chithwrst được mở tại  Sussex.

 

Hoàn cảnh gia đ́nh:

Đối với tôi, trở thành nhà sư Phật giáo tại Thái Lan là điều tiếp nối rất b́nh thường, sở thích của tôi trong quá tŕnh siêu nhiên tôi đă ấp ủ từ thời niên thiếu. Gia đ́nh tôi hoảng sợ. Đối với những thành viên trong gia đ́nh, tôi là thứ bỏ đi tiêu tan thành mây gió. Mọi người trong gia đ́nh coi tôi là kẻ lập dị và nổi loạn, một con người cực đoan, họ không bao giờ nghĩ rằng công việc tôi làm là một hành vi đạo đức.  Những ǵ tôi làm không thể tồn tại trong suy nghĩ của họ được. Ở một chừng mực nào đó, họ chỉ bâïn tâm đến việc sau một vài năm gieo cấy những đám yến mạch hoang dại đó, rồi thể nào tôi cũng sẽ lắng dịu trở lại, hớt tóc, lấy vợ, thế là xong. Mọi người đều rất dễ thương, nhưng họ rất bối rối hoang mang.

Đă có lần tôi quay trở lại Anh quốc. Gia đ́nh tôi đến thiền viện Chithurst để thăm tôi. Cho đến tận lúc này, họ mới bắt đầu phát hiện ra. Cho dù dưới con mặt mọi người, sống theo kiểu Phật giáo là điều rất kỳ cục, nhưng có điều ǵ rất tốt lành nơi cuộc sống đó.  Chúng tôi phải phấn đấu cật lực nhằm khôi phục lại một ṭa lâu đài đă đổ nát từ thời Nữ hoàng Victoria. Chúng tôi cố gắng dồn hết nỗ lực khôi phục lại vườn tược. Họ không nhận ra điều đó, nhưng ít nhất họ cũng đă thấy điều chúng tôi làm chẳng gây hại cho ai cả.

Cha mẹ rất cần được hănh diện v́ con cái. Trái tim luôn cố t́m kiếm thỏa măn nơi các thành viên trong gia đ́nh. Sau nhiều năm, tôi mới nhận ra điều này. Những cuộc hành thiền đi bộ đường dài là truyền thống lâu đời tại Tăng già của chúng tôi. Tôi đă thực hiện một trong những cuộc hành thiền kiểu đó trên đất nươc này vào năm 1983. Xuất phát từ thiền viện tại Sussex, chúng tôi đi tới một thiền viện khác tại Northumberland. Sau biến cố đó, tôi viết một cuốn sách về cuộc hành thiền này và tôi đă tặng cho cha mẹ tôi. Cho đến thời điểm này, tôi chưa làm được bất kỳ điều ǵ khiến cha mẹ tôi có thể hiểu ra điều đó, tôi chưa để lại cho họ điều ǵ khiến họ có thể đem kể lại cho bạn bè cả. Đột nhiên họ rất hănh diện v́ tôi, và tôi nhận ra trước đó họ đă phải đau khổ biết nhường nào.

V́ cha mẹ tôi ngày càng lớn tuổi, tôi cũng nhận ra điều Phật giáo chúng tôi thường gọi là những Sứ giả từ Trời cao - đó là tuổi già, bệnh tật, và sự chết – đă hiện rơ nơi họ đến mức độ nào trên cơi đời này. Cha tôi qua đời năm vừa rồi, và không hiểu tại sao vào những năm cuối đời, tự nhiên ông cụ bắt đầu rà soát lại cuộc đời của ḿnh và đă đặt cuộc đời của ông vào đúng vị trí của nó. Tôi thấy đây là điều ǵ đó rất tuyệt. Cha tôi là một người hết sức năng động, một con người bận bịu di chuyển khắp nơi trên thế giới để phán quyết những cuộc biểu diễn chó và viết không biết cơ man nào là sách nghiên cứu về các loại chó. Ông là một con người thực tiễn không thể tưởng tượng nổi, nhưng khi ông thấy cuộc đời gần đến hồi kết thúc lại phải đối mặt với câu hỏi “Tất cả những thứ đó nhằm để làm ǵ vậy?” Rồi cha tôi đă thay đổi một trăm tám mươi độ. Chắc hẳn là cha  tôi là đă đạt được tiến bộ về mặt đạo đức nào đó, bằng không chắc hẳn phải khiếp sợ trước những qui luật tự nhiên thôi. Điều này th́ cả cha lẫn mẹ tôi đều đă cảm nhận ra. Tôi nghĩ một phần cũng do sự hiện diện của tôi trong gia đ́nh này: những bức h́nh nhân vật đầu cạo trọc lóc  được treo khắp nơi trong nhà. Chính v́ thế cuối cùng,  kết quả và sự lựa chọn cuộc sống của tôi đă không c̣n gây đổ vỡ cho gia đ́nh nữa. Trái lại, tôi như đă cảm thấy ḿnh tạo ra nơi họ một nguồn sinh lực siêu nhiên to lớn.

******

 

Họ tên:  Maurice

Nghề nghiệp: Tôi hiện là giảng viên đại học về hưu. Tôi rất giỏi ngoại ngữ ở trường,  tôi đă từng giảng dạy tiếng Đức tại đại học Luân Đôn.

Nhiệm vụ trong cộng đồng tôn giáo:

Tôi rất hăng say truyền bá kiến thức Phật giáo khắp nơi v́  tôn giáo này rất có giá trị đối với tôi và tôi tin đây cũng là một điều ǵ đó rất có giá trị cho toàn thế giới. Chính v́ thế, tôi đă cố gắng đóng góp phần nhỏ bé của tôi trong việc diễn thuyết và giảng dạy, về đôi điều đó. Thực sự tôi không phải là một chuyên gia Phật giáo. Nhưng tôi rất thích có ai đó gọi tôi là Phật tử chuyên gia. Tôi không có bằng cấp ǵ về tiếng Phạn hay bất luận điều ǵ thuộc lănh vực này. Nhưng việc tu luyện văn hóa của tôi cộng với những kiến thức sẵn có đă giúp tôi hiểu được kha khá về tiếng Phạn và tiếng Pàli.

Những Kinh Phật cổ xưa nhất, đang được Phật giáo nguyên thủy tuân theo, đều viết bằng tiếng Pàli cả. Đây là một thứ ngôn ngữ Ấn Độ rất cổ xưa rơ ràng, rất phổ biến dưới thời Đức Phật, một dạng tiếng Phạn đă được đơn giản hóa. Có rất nhiều từ triết học và các từ đặc biệt khác trong tiếng Pàli bạn phải học để hiểu. Đối với những học giả phương Tây, ngôn ngữ này không đơn giản chút nào.

Các vị Tăng Ni trụ tŕ tại thiền viện Amaravati đều tụng kinh bằng tiếng Pàli và các đạo hũu cũng cố gắng hiểu được chút đỉnh. Tôi cố giúp họ hiểu được đôi chút - như đọc đúng và hiểu được ư nghĩa các từ đó. Trong lănh vực này, tôi được coi như là một học giả chuyên gia th́ hơn, không hiểu thực sự có phải vậy không.!!!

Tôi không sống xa thiền viện Amaravati là bao – tôi thường lui tới đó chủ yếu vào những ngày cuối tuần là chính.  Hiện trong ba tháng nay, tôi đă thử trở thành một nhà sư thực thụ. Vợ tôi qua đời vào năm 1988.  Năm tiếp theo tôi được mời tham gia Tăng già tại đây. Các vị Tăng Ni tại thiền viện cho tôi hay, xét thấy tôi đă làm công quả dài hạn và đă thu lượm được nhiều  kinh nghiệm cụ thể. Nên không cần phải qua hai năm làm Sa di nghiêm túc, tôi có thể tham gia trực tiếp ngay. Tôi cảm thấy đây là một đề nghị quá tử tế không thể nào từ chối được. Tôi nói, thôi được tôi sẽ theo đuổi đến cùng trong ṿng ba tháng nếu không bị loại khỏi Tăng già, thế rồi tôi lao vào công việc tập luyện, và có điều không ổn đă xẩy ra. Tôi cảm thấy ba tháng qua cả là một kinh nghiệm tuyệt vời. Hoàn toàn bổ ích về nhiều mặt. Sau ba tháng, tôi đă bỏ không theo và quay trở lại cuộc sống ngoài đời. Đây là điều b́nh thường không có ǵ trục trặc nơi Phật giáo cả. Nhất là nơi truyền thống Phật giáo nguyên thủy tại Thái Lan.

 

*********

Họ tên:  Ron

Nghề nghiệp: Tôi 42 tuổi, đang là Sa di tại thiền viện Amaravati với ước nguyện sẽ được thọ đại giới làm Tỳ kheo. Tôi đă tham gia Sa di được hai tháng và c̣n phải trải qua một thời gian dài gần  hai năm nữa.

Gia đ́nh:  Hoàn cảnh gia đ́nh tôi rất b́nh thường như bao gia đ́nh khác. Tôi xuất thân từ một gia đ́nh trung lưu và cũng được giáo dục ở trường một cách hết b́nh thường như mọi nguời khác. Tôi có được văn bằng Cử nhân hóa học và hiện đang làm công chức nhà nước  tại Sở Y tế và môi trường.

Cha mẹ tôi theo Anh giáo chỉ trên danh nghĩa mà thôi, nhưng không mấy đạo đức. Chúng tôi chỉ đến nhà thờ khi có người đến rửa tội, cưới hỏi hay ma chay. Thỉnh thoảng tôi có tham gia sinh hoạt tại  trường đạo vào những ngày Chúa nhật.

******

Họ tên:  Melissa

Nghề nghiệp:  Thực sự tôi có một cuộc sống hết sức b́nh dị. Tôi sinh trưởng và lớn lên tại Luân Đôn. Tôi sống trong một chung cư và theo đuổi một cách sống theo phong cách Luân Đôn đặc biệt.

Gia đ́nh:  Bà nội tôi vô cùng kinh hoàng khi được biết tôi theo Phật giáo. Bà tưởng tượng là tôi đă bị tẩy năo -  tuy nhiên tôi đă nhiều lần nói cho bà biết tôi không hề bị như vậy! Cha tôi không nghĩ có ǵ là đại họa trong việc này cả, nhưng ông cụ là một người chẳng c̣n chút xíu ư thức tôn giáo nào nữa. Thế nên đối với ông cụ ngu xuẩn tôi đang theo điều đó chẳng ăn nhập vào đâu cả. Số các thành viên c̣n lại trong gia đ́nh và chị tôi nữa đều cho là ổn cả. Tôi có một bà chị cũng đang theo đuổi bước đường siêu nhiên một kiểu khác.

Sở thích của tôi:  Tôi có nhiều bạn bè không theo Phật giáo và tôi thường xuyên đi coi phim. Nhưng tôi vẫn coi sở thích chân thành của tôi h́nh như lại có liên quan ngày càng mật thiết hơn đối với Phật giáo.

 

Vai tṛ của tôi trong cộng đồng Phật giáo:

Tôi rất quan tâm đến tổ chức Phật giáo Tây Tạng, đang tài trợ cho giáo dục và những họat  động  nhằm cỗ vũ cho văn hóa Tây Tạng tại Anh quốc. Tôi cũng trợ giúp điều hành một hệ thống tổ chức Phật giáo tại đây, đang cố gắng giúp đỡ cho các trung tâm Phật  giáo cũng như các tổ chức Phật giáo, không phân biệt bất kỳ truyền thống nào tại Anh quốc, nhích lại gần nhau để đối thoại và cùng hoạt động chung với nhau.

Tương quan của tôi với Phật giáo chủ yếu thông qua Phật giáo Tây Tạng. Tôi đă tu luyện theo tryền thống này trong ṿng chín tháng khi tôi đến Ấn Độ. Tôi đă lưu lại một thời gian ngắn tại một thiền viện Tây Tạng ở Nepal. Tôi cũng đă đến viếng thăm Bodh-Gaya là nơi Đức Phật đă giác ngộ, tại đó người ta tổ chức rất nhiều khóa học hỏi, khóa đào luyện (tĩnh tâm). Tôi cũng đến thăm Daramsala, trụ sở của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ở đó cũng có rất nhiều Phật tử Tây Tạng sống lưu vong. Tôi đến đó vào tháng Ba, là thời điểm Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu thuyết pháp, lưu lại đó để tham dự khóa huấn luyện thiền kéo dài trong ba tháng.

Lần đầu tiên đặt chân tới một thiền viện Phật giáo nguyên thủy - đă được thiết lập tại Chithurst  ở Sussex - khoảng ba bốn năm về trước. Tôi đến đó vào những ngày cuối tuần. Thực sự tôi rất thích lui tới nơi đó và cảm thấy lưu lại Thiền viện này là việc hết sức b́nh thường.

 

II

VỊ THẾ CỦA TÔI HIỆN Ở ĐÂU

Tôi chẳng biết ḿnh đang đứng ở vị thế nào. Tôi cũng chẳng biết ḿnh có chỗ đứng nào hay không. Tôi rất thích nghĩ ḿnh là một con người cởi mở, để có thể thâm nhập vào bất kỳ t́nh huống nào. Tôi không nghĩ ḿnh lại phải bố trí tại một nơi cố định, hay phải vướng víu với một niềm tin nhất định nào đó.

Tôi nhận ḿnh đă theo Phật giáo. V́ thế, nên tôi đoan chắc bạn sẽ coi tôi thuộc một nhóm Phật tử nào đó. Tất nhiên tôi thường xuyên lui tới thiền viện Amaravati, tôi không nhớ chính xác ḿnh đă đến đó lần đầu tiên vào lúc nào. Nhưng tôi coi đó như nhà của tôi, tôi thực sự nghĩ như vậy. Bầu không khí nơi đây không khác với bầu khí gia đ́nh là bao, chỉ có điều ở đây bạn thấy có bầu không khí thờ tự trang nghiêm, khác xa với những ǵ xẩy ra ở một nhà thờ. Chúng tôi có thể đến đó để cắm trại chẳng hạn. Mẹ tôi thường xuyên tổ chức nghỉ hè hàng năm cho gia đ́nh tại đây trong nhiều năm nay, có khoảng cả trăm người tham gia những trại hè như vậy.

Tôi thực sự cảm thấy tại thiền viện Amaravati bầu không khí cộng đồng thể hiện rất rơ. Cộng thể đó giống hệt như một gia đ́nh, và điều đó rất có ư nghĩa đối với tôi.  Bầu  không khí “từ tâm” và “nhân ái” lan tỏa khắp nơi, bạn thực sự cảm nhận được ngay điều đó. Chính v́ thế, tôi tin rằng ḿnh thật sự gắn bó với thiền viện này. Nhưng thật ḷng tôi không thích dùng từ “gắn bó”.

TISSA F.

 

Tôi cảm thấy gắn bó rất nhiều với cộng thể này tại thiền viện Amaravati. Một cảm nhận gắn bó hết sức hiển nhiên. Tôi đă sống y hệt như là nhà sư một thời gian – nghĩa là trong một thời gian tôi đă cống hiến phần lớn cuộc đời tôi cho phong trào Phật giáo trên đất nước này – tôi đă dành thời gian rảnh rỗi khi c̣n tham gia giảng dạy tại đại học và khi đă nghỉ hưu, tôi c̣n cống hiến nhiều thời giờ hơn nữa. Đây quả là một điều chính yếu trong cuộc đời tôi.

MAURICE.

 

Tôi chẳng thuộc về đâu cả. Tôi thiết nghĩ, rất có thể điều này xuất phát từ sự kiện tôi đă phải rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn ngoài ư muốn vào lúc mười sáu tuổi. Gia đ́nh chúng tôi sống tại Lancashire nhưng cha mẹ tôi lại muốn chuyển đến sống ở nơi khác. Sau cuộc di dời khỏi Lancashire, tôi cảm thấy như bị tước mất điều ǵ đó, tôi buồn chán v́ đă để mất nơi ḿnh sanh ra. Tôi chẳng bao giờ t́m thấy được nơi nào giúp khơi dậy chính ḿnh nữa.

Điều tôi đă phát hiện, chính là một cảm nhận sảng khoái thấy ḿnh gắn bó với tĩnh mịch và thinh lặng. Bất kỳ ở đâu và đang làm bất kỳ điều ǵ, có thể nói, tôi vô cùng thoải mái thấy ḿnh gắn bó với trỗng rỗng, với không gian vô tận. Xem ra điều đó có vẻ hơi đạo đức chăng, nhưng vào lúc này, tôi thực sự tôi cảm nhận được như vậy. Chẳng c̣n chỗ nào khiến tôi gắn bó hơn được nữa.

MEDHINA F.

 

Hăy bắt đầu ở lănh vực vật chất trước đă, tôi sanh ra tại Úc, nhưng thực sự tôi cảm thấy làm công dân Úc chẳng nhằm nḥ ǵ với tôi cả. Khi quay trở về thăm quê hương,  mặc dù tôi cảm nhận được: “Đây là vùng đất nơi tôi sinh ra”. Tôi vẫn thấy thoải mái được đi chu du đó đây. Bất kỳ tới nơi nào tôi đều cảm thấy rất thoải mái.

Ở mức độ siêu nhiên. Câu hỏi “Tôi gắn bó vào đâu?” đối với tôi là một vấn nạn rất đúng lúc và hàm chứa nhiều ư nghĩa với tư cách là một Phật tử. Phật giáo đề cập đến vô gia cư, thực sự Phật tử không nên gắn bó với bất kỳ nơi nào. Theo truyền thống, mục tiêu và thành quả việc tập luyện này chỉ nhằm giúp có được sự măn nguyện và khoan khoái ngay vào thời diểm hiện tại cũng như bất kỳ nơi đâu ta khám phá ra chính ḿnh, để có được thanh thản và  an b́nh trong mọi t́nh huống. Đó là có được thoải mái hay ngược lại.

JITINDRIYA.

 

Đối với một Phật tử, vấn đề nêu ra “tôi gắn bó với nơi nào” thực sự là một vấn đề rất tế nhị. Điều đó chỉ ra bản chất đích thực của bản ngă và giáo lư Phật giáo đề cập đến vấn đề cơ bản này. Phật tử tiếp cận vấn đề này ở hai lănh vực:  lănh vực tuyệt đối hay tối thượng và lănh vực qui ước. Trên lănh vực tuyệt đối, người Phật tử có thể nói “tôi chẳng thuộc về nơi đâu cả”. Bằng cách xác định rơ “cái tôi” hay “bản ngă” trong ta – nghĩa là tự biến ḿnh thành một “cá nhân riêng rẽ” và gọi đó là “cái Tôi” mang tính cá nhân. Làm thế chúng ta đă tạo ra rào cản giữa chúng ta và người khác, giữa vũ trụ và siêu nhiên.

Giáo lư Đức Phật đă xác định được ư nghĩa “bản ngă” hay “cái tôi” này là vấn đề chính.  Nhưng đă đưa ra được những cách thức rất thực tiễn để xử lư vấn đề này.  Chúng ta có thể sống một cách đạo đức. Chúng ta có thể luyện tập trí tuệ để có thể nhận ra tận đáy ḷng ḿnh cái “tôi” (bản ngă) của chúng ta, nh́n xuyên suốt cái tôi đó và không nghĩ đến mối bận tâm tự cho ḿnh là cái “rốn của vũ trụ” nữa. Đang khi tiến hành công việc này, chúng ta cần đến một số bảo đảm nào đó. Chính v́ thế trong lănh vực qui ước, người Phật tử gọi đó là chúng ta t́m đến nương tựa nơi Tam Bảo (cửa Phật). Tam Bảo đó là Đức Phật, Phật Pháp (giáo lư của Đức Phật) và Tăng Già (là cộng đoàn siêu nhiên gồm các nhà Sư , Ni cô và thiện nam tín nữ).  Hay họ có thể coi đó là Tuệ giác, Chân đế và Nhân đức.

Chính v́ thế, về mặt “sở hữu” nếu thấy có “cái tôi” và nếu chúng ta thấy gắn bó với bất kỳ nơi nào, th́ tôi chỉ nên gắn bó với Tam Bảo mà thôi.

AMARO.

 

Phật giáo giúp tôi cảm nhận được mọi người đều b́nh đẳng – không phân biệt  chủng tộc, màu da, tôn giáo, nơi cư trú - những thứ đó không hề hấn (nhằm nḥ) ǵ cả. Đây không thể là cơ sở để chúng ta chia rẽ nhau. Chính v́ thế, sự phân định ranh giới quốc gia chỉ là điều hết sức mong manh. Khi tôi ra nước ngoài, tôi vẫn là công dân nước Anh - điều này thể hiện trên hộ chiếu của tôi - nhưng thực sự điều này lại là điểm đặc trưng đối với những mục tiêu thực tiễn.

Chính v́ thế, tôi không gắn bó với bất kỳ nơi nào về mặt địa lư cả.  Nếu tôi có gắn bó với nơi nào đi nữa, th́ đó chính là nơi tấm ḷng thiền sư của tôi mà thôi. Bất kỳ ở nơi đâu, thực hiện bất kỳ điều ǵ đi chăng nữa, trong thâm tâm tôi chỉ một mực nghĩ tới những gương sáng thiền sư đă để lại cho tôi noi theo. Thiền sư của tôi, ngài Đạt Lai Lạt Ma, thể hiện mọi điều tốt lành cũng như tất cả những ǵ tôi thường khao khát. Nếu tôi luôn chiêm ngưỡng những gương sáng đó trong thâm tâm. Tôi cảm thấy được người chăm sóc, theo dơi và nuôi dưỡng thông qua tương quan với ngài. Chúng ta không có được  thầy ḿnh ở bên cạnh thường xuyên. Nhưng thông qua kinh nguyện và tu luyện thánh đức mà những cảm nhận được nuôi dưỡng và chăm sóc đă xuất hiện.

MALISSA.

 

 

III

ĐIỀU TÔI CẢM NHẬN MẠNH MẼ NHẤT

Tự đáy ḷng, tôi đoán ra được điều ǵ xảy đến cho tôi trong cuộc sống với tư cách là một Ni cô, đó là những cảm nhận mạnh mẽ nhất tôi có được về những đau khổ của bá tánh. Điều đó không nhất thiết là do ta đă phải chịu quá nhiều đau khổ. Chúng ta đă tạo ra quá nhiều đau khổ chỉ v́ đă không hiểu biết nhau, không hiểu biết chính ḿnh, không am tường những tâm tư nguyện vọng của chính chúng ta. Chúng ta tạo ra đau khổ do nhầm lẫn và tham lam. Không phải lúc nào tham lam cũng là thủ phạm gây ra đau khổ, nhưng tham lam xuất hiện do không am hiểu những sức mạnh họat động nơi ta với tư cách là những con người với nhau. Chúng ta đă tạo ra đau khổ, không chỉ trong phạm vi cá nhân riêng rẽ nhưng c̣n cả trên b́nh diện hoàn vũ nữa - thí dụ như đau khổ gây ra do chiến tranh và lập trường chính trị vô cùng phức tạp.

Diệu Đế đầu tiên được nhắc đến đó là Đau Khổ (dukkha) và bài giảng đầu tiên của Đức Phật đă đề cập đến vấn đề này. ‘Dukkha’ được dịch sang tiếng Việt là ‘đau khổ’ nhưng nó c̣n hàm chứa nhiều ư nghĩa hơn chỉ là đau khổ thể xác hay đau khổ tinh thần. Dukkha bao gồm toàn bộ cảm thức bất b́nh hay không thỏa măn  xuất hiện do được sinh ra trên cơi đời này như là một hữu thể riêng rẽ. Có nghĩa là bị tách rời khỏi t́nh yêu, phải chết, hay gặp phải những kinh nghiệm sảng khoái lẫn khó chịu do bởi ta đang phải tồn tại trên cơi đời này.

Đức Phật đă nói:  ‘Thầy chỉ dạy có hai điều:  dukkha và chấm dứt dukkha”. Chính v́ thế, điều đầu tiên chúng ta phải đối mặt là một thực tế hiển nhiên, đó là đau khổ đă hiện hữu. Đây chính là điều đa số trong chúng ta đều muốn xa lánh. Chúng ta không muốn nhận lănh trách nhiện về những đau khổ chúng ta gây ra. Nhưng một khi chúng ta bắt đầu đối phó với những đau khổ đó, chúng ta sẽ bắt đầu hiểu được nguyên do đau khổ từ đâu mà ra.

Về nguyên nhân đau khổ, Đức Phật đă nói rơ, là thèm khát, tham lam, hiện tại ở chỗ chúng ta tưởng rằng có được điều đó sẽ khiến chúng ta thoải mái và cứu ta khỏi đau khổ. Chấm dứt đau khổ hiện tại ở chỗ loại bỏ được thèm khát đó. Để đạt được điểm này, chúng ta phải hiểu rơ tuệ giác tạo ra thèm khát  ra sao, hành động như vậy và đâu là đối tượng của thèm muốn. Một khi chúng ta hiểu ra được qui tŕnh đó, chúng ta có thể không nghĩ đến thèm muốn nữa. Đức Phật đă đề ra một phương cách đạt đến đó là Bát Chánh đạo. Đây là một đường lối dựa trên cách sống đạo đức, và tu luyện tuệ giác, sự tập trung (concentration), ư thức và tự giác - với hiểu biết phát triển tuẹâ giác, chúng ta có thể tu luyện trí tuệ và với trí tuệ ta có thể nh́n rơ hơn  đường lối để giải thóat khỏi đau khổ. Điều này không mấy dễ dàng! Chính v́ thế, khi các nhà sư được thọ Đại giới  thường bảo:  “Tôi hoàn toàn cam kết thực hiện chánh đạo này”. Chính v́ thế, về điểm đó chúng ta phải từ bỏ rất nhiều v́ không có điểm nào để chúng ta thực hiện điều đó một cách nửa vời đâu.  Nhưng điều này chắc có thể làm được.

JITINDRIYA.

 

Một trong những cảm nghĩ mạnh mẽ muốn trở lại liên tục, đó chính là cảm nghĩ buồn chán.  Khi tôi nh́n quanh cơi đời này. Tôi thấy vô cùng buồn chán v́ biết bao cuộc sống của con người trên hành tinh này lại quá trống rỗng đến như vậy.

Tôi tin là mọi vật trong vũ trụ đều có bản chất riêng, kể cả cuộc sống lẫn tinh thần của con người nữa. Bản chất con người thật thánh thiện. Tôi cảm thấy buồn chán v́ đă được nuôi lớn lên, giống y hệt mọi người khác bằng nhiều cách đă lợi dụng bản chất tốt đẹp đó. Không chủ tâm tôi đă lạm dụng chính bản chất của tôi. Tôi đă lạm dụng bản chất của người khác. Kể cả người tôi yêu nữa. Tôi cảm thấy thật buồn chán về một số sự việc tôi đă làm khi không ư thức đầy đủ là ḿnh không được làm điều đó. Tôi cảm thấy buồn phiền về một số điều người khác đă làm cho tôi. Cũng chỉ v́ thiếu hiểu biết người khác mà ra. Một trong số những cảm nghĩ buồn chán nhất đó là: “Chẳng phải là điều xấu hổ biết bao khi mọi người không thể nhận ra được những ǵ y như tôi nhận ra”.

Đó là những cảm nghĩ không hạp với tôi.  Tôi không cho là những ǵ tôi nghĩ đều đúng cả.  Nhưng ngay lúc này, tại nơi đây tất cả đều hệ tại ở chỗ tôi cảm nhận như thế nào mà thôi.

RON

 

Tôi thâm tín mạnh mẽ rằng, chúng ta phải cộng tác để cùng làm việc chung với nhau. Không ai trong chúng ta là những ốc đảo. Nếu ta tự rút vào vỏ ốc chính ḿnh, tự cô lập và chỉ t́m kiếm những khoái cảm trong riêng tư của cuộc sống, lúc đó mọi sự – như thế gian này, tính gắn bó với nhau rồi cả những điều tốt lành nữa – tất cả sẽ sụp đổ. Theo thiển ư của tôi, chúng ta có trách nhiệm về sự sụp đổ đó, v́ chúng ta vẫn c̣n sống và tồn tại trên thế gian này và vẫn c̣n khả năng cùng nhau giải quyết được đôi điều đó. Tôi thiết nghĩ cộng đồng chúng ta đang sống trong đó đóng một vai tṛ rất quan trọng. Chính v́ vậy, tương tự như một gia đ́nh, chúng ta cùng tồn tại và cùng làm việc chung với nhiều người khác , đây là điều vô cùng căn bản.

Trong Phật giáo chúng ta có các Tăng già, là cộng thể gồm toàn những vị Tôn giả. Đức Phật gọi đó là Tăng già gồm bốn thành phần, được h́nh thành gồm những người đă được thọ đại giới thành các nhà sư, một cộng thể thứ nh́ gồm các Ni cô đă được đại thọ giới, cộng thể các đạo hữu nam giới và cuối cùng là cộng thể gồm các đạo hữu nữ giới. Các cộng đoàn này thực sự được ví như chiếc bàn bốn chân. Cả bốn phần đều phụ thuộc lẫn nhau và tạo ra một Tăng già Phật giáo.

Sự liên đới giữa những người đă được thọ đại giới và những thiện nam tín nữ là điều đă hấp dẫn tôi gia nhập lối sống Phật giáo nguyên thủy. Đức Phật đă thành lập Tăng già gồm bốn thành phần để không một bộ phận nào trong Tăng già có thể sống tách biệt được. Trên cơ sở đó, chúng ta phải có mặt tại thiền viện Amaravati này để cung cấp nhu cầu ăn uống cho các vị Tăng Ni tại thiền viện đồng thời chúng ta có cơ hội nhận được nơi họ những trợ giúp siêu nhiên. Các vị Tăng Ni cần ḥa nhập với các đạo hữu để được nuôi dưỡng, và điều đó cho họ nhận thấy được chúng ta cần ǵ nơi họ và những ǵ đang xảy ra trên cơi đời này. Mối tương quan này giữ cho những người được thọ đại giới có dịp giao tiếp với thế giới bên ngoài và giúp chúng ta là những nguời đạo hữu  b́nh thường có được tầm nh́n vượt quá ranh giới đời thường của chúng ta.

MEDHINA F.

 

Tại Anh quốc có một số tổ chức Phật tử, một số có tổ chữc rất tốt, một số khác kém hơn. Nhưng tôi thâm tín mạnh mẽ rằng Tăng già Phật giáo, một tổ chức tu tŕ lại chính là cột trụ của Phật giáo. Có người cho là, “bạn không thể bứng trồng thứ tôn giáo đó sang phương Tây được”. Tôi thiết nghĩ chúng ta đă chứng tỏ ḿnh thực hiện điều đó rất thành công tại Anh quốc.

Tại Anh quốc đây không những chỉ có các Tăng già theo trường phái Phật giáo nguyên thủy, bản thân tôi và thiền viện Amaravati đang thuộc trường phái này, nhưng c̣n có nhiều thiền sư chính thốâng, nghiêm túc và rất tốt thuộc Phật giáo Tây Tạng nữa. Thật vậy, tuần tới đây lần đầu tiên tôi sẽ tới một trung tâm Phật giáo Tây Tạng tại Scotland.  Hiện giờ c̣n có cả Phật giáo Zen tại Anh quốc nữa. Tại đây, c̣n có một số gọi là Phật tử Zen hơi tinh ranh khi lần đầu tiên có người luyện thiền Zen một vài năm về trước. Hiện nay có  một số kha khá những Thiền sư thiền Zen được đào luyện kỹ lưỡng tại Nhật bản, cũng như một số Thiền sư Zen được đào luyện trên đất nước này.

Phật giáo Tây Tạng đối với tôi cũng hơi phức tạp một chút, nhưng chúng ta đă t́m hiểu đủ để tỏ ḷng ngưỡng mộ. Tôi cũng thấy một thời Phật giáo Zen khá hấp dẫn. Tôi đă đến thăm Nhật Bản và lưu lại tại một số thiền viện Zen. Yêu sách chính của Phật giáo nguyên thủy, chính họ thể hiện Phật Pháp chính cống của Đức Phật, và tính đơn giản trong giáo lư đó là điều lôi cuốn tôi rất nhiều, lấy thí dụ, các vị Tăng Ni, cho dù họ nắm bất kỳ chức vụ nào trong Tăng già đi chăng nữa, họ cũng vẫn vận một loại áo cà sa giống nhau. Ngay cả các vị Trưởng lăo cũng vậy. Nhưng Phật giáo Zen không phải như vậy đâu, các thầy Roshi và các vị lănh đạo cao cấp ăn mặc những thứ áo cà sa mầu đỏ tươi rất đẹp, đôi khi c̣n cẩn cả vàng nữa. Phải công nhận lần đầu tiên nh́n thấy họ tôi cảm thấy hơi ngạc nhiên, không ngờ họ lại phân biệt như vậy.

MAURICE

 

Tôi cảm nhận mạnh mẽ thấy tính ngạo mạn của con người đối với thế giới này, tính tàn bạo giữa con người với nhau và với các thụ tạo khác. Tôi rất quan tâm đến sự trổi dậy của tội phạm diệt chủng cả trên đất nước này lẫn ở nhiều nơi khác trên hành t́nh. Về t́nh trạng vi phạm nhân quyền, về những ǵ Trung quốc đang thực hiện tại Tây Tạng, về những chuyện diệt chủng và những tra tấn đang diễn ra tại Bosnia, về những thức gia súc đang bị vận chuyển hàng quăng đường dài quanh Châu Âu.

Tôi thấy ḿnh choáng ngợp trước điều đó. Tôi luôn lúc nào cũng cảm thấy bị choáng ngợp. Tôi rất buồn và chán nản trước những sự việc đang diễn ra. Thế rồi, tôi tự hỏi xem ḿnh có nên tiếp tục hành động thêm nữa hay thôi. Những vụ việc đang liên tục diễn ra ảnh hưởng nhiều đến xă hội hơn là đối với mạng lưới tổ chức Phật giáo, lấy ví dụ, đâu là điều hiện thời tôi đang tác động đến. Tôi bắt đầu suy nghĩ không hiểu ḿnh có nên dính líu đến chính trị nhiều hơn và tích cực hơn chăng. Nhưng rồi tôi lại tự hỏi, liệu chính trị có thể giải quyết được ǵ khi c̣n có quá nhiều điều ngu ngốc, hận thù và thiếu khoan dung với nhau đang diễn ra trên thế giới này.

Tôi thường xuyên lui vào suy tưởng rằng chỉ c̣n cách tu luyện siêu nhiên th́ họa may mới có thể thay đổi được cục diện thế giới này, đổi thay phải được thấy xuất hiện ngay trong tuệ giác con người trước khi ta có thể thấy được bất kỳ thay đổi nào trên thế giới này. Nhưng chẳng phải chuyện dễ dàng nếu ta cứ cố bám lấy điều đó. Đó là điều mâu thuẫn thực sự đang diễn ra trong tôi.

MELISSA

 

Điều tôi cảm nhận mạnh mẽ lại tùy vào vị thế tôi đang có hiện nay - bạn chẳng bao giờ có được lời giải đáp thẳng thắn từ phía Phật giáo đâu! Điểm nổi bật nhất nơi Phật giáo chính là t́m hiểu ứng phó với thực tế bạn thấy. Lấy ví dụ, bạn bỗng xuất hiện trước mặt tôi nước mắt đầm đ́a lai láng nói rằng “Tôi chẳng làm được ǵ tốt cả. Cha mẹ tôi luôn đổ lỗi cho tôi về mọi khó khăn họ mắc phải, tôi chẳng biết làm ǵ để làm vui ḷng họ được. Tôi phải làm ǵ đây?” Có một lúc nào đó, điều này thực sự là mối bận tâm quan trọng nhất trên đời này xảy đến với tôi. Tôi chẳng nghĩ ǵ đến Bosnia, hay Ruanda, hay nghĩ đến mẹ tôi, bà cụ chẳng c̣n nh́n thấy ǵ nữa. Nhưng tôi chỉ c̣n nghĩ  đến bạn mà thôi.

Rơ ràng Phật giáo quan tâm nhiều đến thế giới nhân loại. Chúng tôi quan tâm đến môi trường và muốn cuộc chiến đến hồi kết thúc đồng thời tăng thêm hiểu biết với mọi người trên thế giới này. Nhưng để thực hiện điều đó, cách duy nhất  chúng tôi có thể làm được đó là thực hiện lời cam kết ngay tại chỗ và với ngay những con người đang sống chung quanh ta. Điều quan trọng là đáp ứng được những nhu cầu ngay tại chỗ và đừng bỏ qua bất kỳ điều nhỏ mọn nào cả. Tôi có thể nói chuyện với dăm ba trăm người tại một buổi hội thảo, và cả trăm em nhỏ tại một trường tiểu học, hay tâm sự với một Sa di ngay tại đây về việc rửa chén sau bữa ăn. Đôi khi những ǵ chúng ta tŕnh bày và các biến cố xảy ra có thể rất mănh liệt. Nhưng bạn không đưa ra được phương cách thực hiện những sự việc đó. Nếu bạn lúc nào cũng tỏ ra thực tế, sẵn ḷng với tất cả những ǵ bạn đang thực hiện, th́ chắc chắn lúc thời điểm thuận tiện xảy ra bạn sẽ có thể nói và hành động một cách đúng đắn. Điều này tùy thuộc ở chất lượng ḷng trung thực và mối cam kết bạn thể hiện đối với những người bạn đang phục vụ.

Bạn không phát hiện ra nhiều Phật tử thành tâm tại Anh quốc đâu. Điều khiến người phương Tây quan tâm đến Phật giáo chẳng qua họ cho là Phật giáo cung cấp cho họ một các chiêm niệm (contemplation) và tự rèn luyện bản thân mà thôi. Tuy nhiên,  tự giải thoát khỏi tham lam, ích kỷ, lừa dối và bực dọc đă có thể đem lại ảnh hưởng tác động đến con cái ta, bạn bè ta, cả môi trường xung quanh chúng ta đang sống, ngay cả khi chúng ta không nói một lời nào cả. Tôi được quen biết một người vừa mới được tấn phong làm Tỳ kheo Ni chỉ đơn giản v́ người này nh́n thấy một vị sư bước đi dọc theo con đường lộ vào một buổi sáng sớm tinh sương. Quá cảm kích trước cảnh nhà sư  tiến bước như vậy, bà ta đă nhận thức rơ được:  “bất kỳ điều ǵ xảy ra tôi không quan tâm, đó chính là điều tôi muốn thực hiện. Đó là cách tôi thể hiện.”

AMORO

 

Tôi suy nghĩ rất nhiều đến tôn giáo tôi đang theo đuổi, có thể nói chẳng c̣n điều ǵ trong đầu óc tôi khác hơn là tôn giáo tôi đang theo đuổi. Tôi đă quyết định sống quăng đời c̣n lại trong đời tôi là người Phật tử. Nhưng lúc này tôi không thể nhận ra, chính ḿnh lại đang theo đuổi một thứ tôn giáo hoàn toàn khác lạ.

Tôi rất thích giáo lư của Đức Phật đề cập đến nhân sinh quan và về luân lư. Giáo lư của ngài rất thực tế, dễ hiểu và dễ chấp nhận. Ngài không bao giờ dùng từ “phải” nhưng hoàn toàn tùy ở bạn có muốn theo những hướng dẫn của ngài hay không.

Tôi đă theo học đôi chút về Phật pháp, tức giáo lư của Đức Phật, một phần qua mẹ tôi và một phần nữa do tôi thường xuyên đến đây, tiếp chuyện với các vị Tăng Ni tại thiền viện này, vào kỳ nghỉ hè đi cắm trại đúng như mẹ tôi đă sắp xếp. Chúng tôi đă tham gia những lớp học Phật Pháp.

Tại trường, một số người nghĩ việc tôi theo Phật giáo xem ra hơi kỳ quặc. Đa số họ chấp nhận sự thật đó, tuy nhiên có một số lại cho là “tốt hơn cứ để mặc cho cô ấy muốn làm ǵ th́ làm”. Tôi nghĩ điều đó đă khiến họ không mấy thoải mái. Tỷ dụ như, tất cả các học sinh theo lớp học Tôn giáo (Re) tôi đang theo đều là các Kitô giáo ngoan đạo. Thực chất, khóa học hoàn toàn dựa trên giáo lư Kitô giáo. Chúng tôi tổ chức một buổi thảo luận về cuộc sống sau khi chết, nhưng chủ yếu chỉ bàn về thiên đàng và hoả ngục mà thôi. Có học sinh phát biểu:  “Kẻ nào không tin vào Thiên Chúa, không biết hối cải sẽ xuống hỏa ngục”. Tôi dư biết người đó ám chỉ ai!

Một người bạn học rất thân của tôi ngay từ năm đầu học trường cấp hai, hiện giờ cũng gia nhập thiền viện Amaravati. Cô ta đến tham dự trại hè ở đây. Cô rất thận trọng lúc mới bắt đầu theo khóa Phật Pháp. Nhưng khi chúng tôi đă vượt qua được rào cản, cô cảm thấy hoàn toàn khác với những ǵ cô suy nghĩ trong đầu, thực sự cô thấy rất thích cách sống của các Phật tử. Có rất nhiều người sẵn sàng chấp nhận Phật Pháp hơn là bạn tưởng tượng đó. Nhưng sẽ luôn có những người không thể chấp được điều họ nghĩ  là “kỳ quặc”.

TISSA F

  

 

IV

LỄ HỘI TÔI YÊU THÍCH

Một lễ hội rất quan trọng, rất có thể đó là lễ Phật đản, diễn ra vào ngày rằm tháng thứ Năm âm lịch. là ngày hội quan trọng nhất. Theo Kinh Phật th́ Đức Phật giáng lâm, viên tịch và được giác ngộ tất cả các sự kiện này đều diễn ra vào ngày rằm tháng Năm âm lịch cả. Chính v́ thế chúng tôi mừng những sự kiện này vào cùng một ngày.

Chúng tôi mời rất nhiều người tới thiền viện - đây là một ngày lễ rất lớn đối với các đạo hữu. Chúng tôi thường tổ chức các buổi nói chuyện về Phật Pháp thật lớn và lễ bố thí. Tương tự như có nhiều bè bạn đến tham dự một buổi liên hoan Phật đản vậy. Mọi người đều mang theo chút ít đồ ăn. Chúng tôi dùng bữa trưa chung với nhau, rồi vị sư trụ tŕ hay vị Trưởng lăo thuyết pháp một bài dành cho nhiều người tham dự. Chúng tôi cùng hành thiền và thường thường rước quanh ngôi Bảo Tháp. Rồi khi trời tối chúng tôi thắp nến lên và tổ chức một buổi thiền canh thức (vigil) suốt đêm.

Ngay từ thời xa xưa, Bảo Tháp (stupas) là nơi chôn cất một số vị Thánh đức hay các vị Tôn Giả. Đôi khi bạn c̣n thấy có di hài đặt trong các bảo tháp đó. Cứ sự  thường, bảo tháp là nơi gợi nhớ cho bạn mục tiêu cuộc sống  tu tŕ của bạn.  Khi chúng tôi đi ṿng quanh – đi ṿng Bảo Tháp, chúng tôi thường thực hiện ba ṿng. Đó là lúc mọi người suy ngẫm đến Tam Bảo chí thánh.  Đó là Đức Phật  Phật Pháp và Tăng già.

JITINDRIYA

 

Tôi không thực không thích những buổi lễ lớn và ồn ào. Tôi chỉ thích những buổi lễ tĩnh lặng. Những đối với những buổi lễ như Phật đản (Vaisakha) lễ dâng cúng Áo công đức (kathina)) và Đại cúng lễ (Maha Puja), lễ tôi thích nhất là Đại cúng lễ (lễ Vu lan).

Đại cúng lễ chưa được phổ biến rộng răi mấy nơi những đạo hữu phương Tây. Điều diễn ra tại thiền viện Amaravati chính là vào ngày đầu tiên Đại cúng lễ, đó là tất cả các Tỳ kheo, những người thọ đại giới, từ khắp các thiền viện Phật giáo nguyên thủy tại Devon. Northumberland và Sussex đều qui tụ lại để tỏ ḷng tôn kính Luang Por, ngài là lănh đạo tại Anh quốc. Giống như toàn bộ các thành viên trong một gia đ́nh qui tụ lại với nhau.

Hiện thời một số các đạo hữu đă thấy buổi lễ này là dịp họ có thể tham gia được. Năm nay, thư mời được gửi đi cho các cộng đồng đạo hữu, vào ngày Đại cúng lễ thứ hai, chúng tôi tổ chức một buổi họp mặt cho các đạo hữu và mừng lễ tôn kính các Thiền sư. Có khoảng hơn một trăm Phật tử đến tham gia, một nghi lễ Bố thí thực phẩm được tổ chức, kèm theo là một nghi thức dâng cúng. Rồi Trưởng lăo Luang Por thuyết pháp. Được tham gia ngày lễ với Trưởng lăo, chúng tôi có thể tỏ ḷng tôn kính Tam Bảo, tức là tôn kính Đức Phật,  Phật Pháp và Tăng già.

Đại cúng lễ chính thức là một buổi canh thức (vigil) suốt đêm rằm và như vậy thực sự không có ngày lễ thứ hai. Thường th́ chúng ta không thể gộp tất cả các hoạt động của một ngày lễ lớn chỉ trong hai mươi bốn giờ. Khi qui tụ được rất đông các Phật tử từ khắp mọi miền đất nước, và khi các bạn dự tính tổ chức một buổi họp mặt lớn, gồm rất nhiều đạo hữu và các vị Tăng Ni, bạn không thể thực hiện được nội trong một ngày. Tại thiền viện Amaravati, các đạo hữu tham dự Đại cúng lễ thường đến trước một vài ngày, các sinh hoạt lễ hội diễn tiến tùy vào số lượng và nhu cầu của cộng đoàn.

MEDHINA F.

 

Tôi coi Đại cúng lễ là lễ hội tưng bừng nhất so với các lễ hội có nhiều sinh họat nhất, có cờ xí trang hoàng khắp nơi và các lễ nghi được tiến hành liên tục. Lễ được tổ chức vào tháng Hai âm lịch. Ngày lễ không cố định v́ tùy vào ngày âm lịch. Cá nhân tôi, tôi rất thích lễ rơi vào ngày Rằm.

Vào ngày Rằm, các đạo hữu kéo đến thiền viện Amaravati rất đông, họ ngồi hành thiền cho đến tận đêm khuya, tôi không thể hành thiền được suốt đêm, cùng lắm tôi chỉ ngồi thiền được một vài giờ mà thôi. Nhưng tôi rất thích sinh hoạt kiểu này- ít lễ lạc ồn ào. Bạn chủ yếu thưởng thức được nhiều hơn.

Tháng nào chúng tôi cũng  có ngày Rằm, hay ít nhất vào mỗi tháng theo âm lịch. Ngày Rằm vào thứ năm vừa rồi, mẹ tôi đến và tham gia hành thiền suốt đêm, những việc như thế này không thể diễn ra vào những ngày thường trong tháng được.

Chúng tôi không tổ chức lễ hội Phật giáo nào tại tư gia, chúng tôi thường đến và tổ chức lễ hội tại thiền viện Amaravati. Chúng tôi có tổ chức lễ Giáng sinh (Christmas) tại gia đ́nh. Vâng, chúng tôi không mừng lễ Giáng sinh như là một lễ tôn giáo, thay vào đó, chúng tôi tận dụng thời gian này để bày tỏ t́nh yêu, và ngưỡng mộ đối với bạn bè và họ hàng bằng cách tặng quà. Chúng tôi không trang hoàng nhà cửa hay cây Noel hoặc bất kỳ điều ǵ giống thế. Chúng tôi chỉ tặng quà và gửi các bưu thiếp cho bạn bè, tuy nhiên không phải là các bưu thiếp Giáng sinh đâu.

TISSA F.

 

Tôi sống cách xa thiền viện gần nhất khoảng vài ba trăm dặm, thế nên rất ít  khi được tham dự các tổ chức lễ lạc Phật giáo. Tuy vậy tôi vẫn lưu ư đến một số nghi lễ Phật giáo. Nghi thức có nhiều ư nghĩa nhất đối với tôi là nghi lễ thọ Đại giới Sa di tổ chức cho các đạo hữu quyết định gia nhập Tăng già tại thiện viện Amaravati.

Đây quả là một biến cố khá đặc biệt, một phần v́ ba chúng tôi được tấn phong cùng một lúc- con số ba là số tốt đối với Phật giáo- và một phần v́  cả ba chúng tôi đều khá trưởng thành về mặt siêu nhiên. Tôi nghĩ, mọi người đều cảm thấy có điều ǵ đó rất đặc biệt xảy ra cho từng người hiện diện tại đây, cho cả Tăng già và những đạo hữu tham gia nghi thức. Tôi cảm nghiệm được thiện ư to lớn của các đạo hữu, tôi đă cùng tham gia với họ trước kia. Chúng tôi đă hỗ trợ các vị Tăng Ni ở chùa trong suốt  mùa đông huấn luyện và đă tạo được mối tương quan gần gũi. Tôi cảm thấy như ḿnh đă nhận được một điểm phát xuất rất thuận lợi, đó là được đón nhận vào Tăng già một cách đặc biệt.

Có một số nghi thức như:  cạo đầu và cởi bỏ trang phục ngoài đời, nhận áo cà sa trắng tinh của một Sa di. Nhưng chính nghi thức thọ Đại giới mới để lại nơi tôi một ấn tượng lâu dài. Ngay trong nghi thức ngày, thầy Sa di được nhận “Bát giới”, được tụng lên cho nhiều người nghe. Cứ b́nh thường nghi thức bắt đầu vào ngày lễ kỷ niệm nào đó, toàn bộ Tăng già nhận Bát giới. Rồi các Sa di cùng tụng chung với các thành viên c̣n lại trong Tăng già. Nhưng lần này, không nhằm vào ngày kỷ niệm nào cả, ba chúng tôi được nhận Luật giới từng người một, trong khi đó Tăng già tụng những lời chúc tụng bằng tiếng Pàli, một hàng rào các vị sư đứng một bên.  C̣n bên kia là các Ni cô đứng thành hàng dài. Thật tuyệt vời biết bao khi bạn hiện giữa một đoàn những người đầy thiện ư như vậy.

Bát giới giúp kiềm chế không sát sanh, không lấy của người, kiềm chế những hành vi dâm dục. Kiềm chế vọng ngữ, không ăn uống say sưa hay dùng chất kích thích, không hát xướng, nhẩy nhót hoặc chơi bời, không ăn uống ngoài giờ qui định, không nằm nghỉ nơi cao sang hay xa hoa lăng phí. Ngũ giới cũng được áp dụng cho cả các đạo hữu người đời. Tuy nhiên luật giới cấm những hành vi dâm dục được đổi thành kiềm chế không ngoại t́nh. Ba giới luật c̣n lại được gọi là luật giới diệt dục. Các luật giới này không phải những ǵ thuộc luân lư, mà chính là những kiềm chế bạn tự nguyện nhận thực hiện như là một phần cam kết tiến tới trong cuộc sống thánh đức. Cấm dùng bữa ngoài giờ qui định, cấm không được ăn của ǵ nữa sau bữa ăn trưa.

Các nhà sư được nhận Đại thọ giới đầy đủ phải nắm giữ hai trăm hai mươi bảy luật. Để không vi phạm những luật giới này cần đ̣i  hỏi phải có một mức độ ư thức cao hơn.

RON

 

Tôi không hiểu ḿnh có ưa thích một lễ hội nào hay không, nhưng tương tự như đa số các Phật tử khác. Cách này hay cách khác, tôi cố gắng giữ ngày Phật đản. Chúng tôi đón tiếp rất đông người đến thiền viện Amaravati vào dịp đó.

Một thời điểm quan trọng nữa đối với các vị Tăng Ni, đó là tham gia khóa huấn luyện mùa mưa (tĩnh tâm). Tại Á Châu mùa mưa rơi vào khoảng giữa tháng Bảy và tháng Mười, đại khái khi mùa mưa tại Ấn Độ bắt đầu. Trời ẩm ướt và đi lại cực kỳ khó khăn, và như vậy theo truyền thống vào mùa mưa các Tăng Ni thường qui tụ vào một nơi, dùng thời giờ vào viện hành thiền và nghiên cứu Phật pháp.

Tại phương Tây, cho dù khí hậu có phần khác biệt. Cuộc huấn luyện (tĩnh tâm) mùa mưa cũng vẫn được tuân thủ. Đây cũng là dịp các nghi lễ Đại thọ giới được diễn ra. Tỷ dụ như tôi được tấn phong vào ngay lúc bắt đầu cuộc tĩnh tâm ba tháng này. Các Tăng Ni ở đây vẫn tiếp tục nắm giữ những hạn chế cơ bản đă qui định cho khóa huấn luyện mùa mưa này, như chỉ đi ra ngoài khi nào có việc cần thiết. Nhưng tại Anh quốc vào khoảng giữa đến cuối kỳ nghỉ hè  cũng là lúc các đạo hữu muốn đến thăm thiền viện:  chúng tôi tổ chức các lớp hè và những lễ lạc tương tự như vậy. Thế nên các Tăng Ni thường tham gia các khóa tĩnh tâm vào tháng Giêng và tháng Hai là thời gian thích hợp hơn tại Anh quốc. Lúc đó, họ giới  hạn không đi ra ngoài và thực sự cùng nhau hành thiền và chăm lo việc học hành nghiên cứu nhiều hơn.

MAURICE.

 

Đối với tôi, đây là câu hỏi khó thể trả lời trọn vẹn được, v́ tôi đang sống tại Anh quốc.

Tôi cũng đă tham dự một số lễ lạc tại Ấn Độ, là quốc gia có đa số người theo đạo Phật, lễ hội tại đây rất đặc biệt. Tôi cũng đă có mặt tại Bodh-Gaya vào ngày Rằm tháng Giêng và thật là tuyệt vời. Có một ngôi chùa lớn được xây cất sát gần cây Bồ đề, là nơi Đức Phật đă ngồi thiền và đă đạt đến giác ngộ. Người ta thắp hàng ngàn hàng vạn ngọn nến lớn nhỏ lung linh, giống như những ngọn đèn ngủ thành từng tầng chung quanh một ngôi chùa khác gần đó. Nơi đó rực sáng lên với nhiều ngọn lửa nhỏ. Một nguồn năng lượng vô tận. Thực sự bạn cảm thấy có ǵ đặc biệt đang diễn ra tại đó, rơ ràng là một cảm giác lễ hội.

Tại Anh quốc, bạn cũng có được cảm nhận đại loại như vậy khi bạn đến tham dự lễ hội với các Phật tử diễn ra tại thiền viện Amaravati,  cảm nhận cùng tụ tập lại với nhau và qua với nhau một ngày hội tốt lành là một điều vô cùng quan trọng. Nếu bạn thực hiện một công việc tốt hành nào đó hay chỉ một phần nhỏ thôi vào ngày lành tháng tốt, th́ coi như bạn sẽ nhận được sức mạnh và năng lực tuyệt vời  dẫn đến nhiều thành quả tốt lành. Lấy thí dụ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă đến Tây Ban Nha thuyết pháp vào cuối năm nay, và điều này phải diễn ra vào ngày Rằm.

MAULISSA.