TỪ LƯ TRÍ TỚI T̀NH YÊU

 

Lee Yu Ban

Petaling Jaya, Malaysia.

 Nguyễn Văn Sáu biên dịch

 

So với bất kỳ tiêu chuẩn nào, tôi phải công nhận là ḿnh đă trải qua một cuộc sống thật hạnh phúc. Ở vào tuổi bốn mươi, tôi chưa bao giờ phải cảm nghiệm bất kỳ giai đoạn đau khổ hoặc bất hạnh kéo dài nào cả. Chắc chắn, ở tuổi thiếu niên luôn có những đau đớn thông thường phải đối mặt với những thất bại thường t́nh trong nghề nghiệp, những vấn đề kỳ quặc trong đời. Nhưng cuộc sống của tôi cho đến giờ phút này vẫn thuận buồm xuôi gió không có bất kỳ nỗi thất vọng to lớn nào xảy ra hay những thời điểm phải chịu bất hạnh ê chề.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh trung lưu tại Kuala Lumpur, thủ đô nước Mă Lai. Cha mẹ tôi lúc nào cũng rất hạnh phúc và đáng yêu vô cùng;  hai người rất yêu nhau và đồng thời cũng hết ḷng yêu mến con cái. Cha mẹ tôi giáo dục con cái dựa trên nền tảng những nguyên tắc luân lư vững vàng, t́nh thương mến thương, quan tâm đến người khác và kính trọng để tăng cường những mối liên lạc trong gia đ́nh.

Kư ức tuổi ấu thơ thường vẫn là những ngày nghỉ lễ dài ngày và nhàn hạ nơi băi biển, những cuộc tụ họp gia đ́nh và nhiều dịp khác nữa. Chúng tôi không thuộc hạng người mộ đạo cá biệt và mặc dù là người Trung quốc, chúng tôi cũng không nắm giữ nhiều tục lệ lễ lạy cùng nhiều thông lệ rườm rà khác. Ông ngoại tôi theo Phật giáo nguyên thủy (Nam tông) từ thời c̣n trẻ và đă truyền lại cho mẹ tôi ḷng yêu mến truyền thống này. Tôi c̣n nhớ những lần theo mẹ đi chùa vào những ngày Rằm, mang theo của bố thí và hoa trái, được lắng nghe những vị sư người Sri Lanka mặc áo cà sa màu vàng tụng những bài Kinh Phật tại thiền sảnh đường với hoa nến trên bàn thờ và một tượng Phật to tướng lúc nào cũng mỉm cười một cách nhân hậu. Họ tụng những bài kinh bằng tiếng Pàli, một ngôn ngữ xưa rất phổ biến trong các bản văn Nam tông và cho dù không hiểu được một chữ nào, tôi vẫn c̣n nhớ rơ vẻ đẹp và thanh thản nơi những tiếng tụng kinh đó, những tiếng thần kỳ vang trong đêm oi bức nơi ḷng nhân ái và bỉnh thản của các nhà sư . 

Chủ yếu thông qua cách làm quen như vậy nên tôi đă tiếp cận được với  giáo lư cơ bản Phật giáo hay chính xác hơn là tiếp cận được với Phật  pháp. Chỉ cần niềm tin tốt như vậy, giáo lư Phật giáo đă có sức hấp dẫn tôi, bởi v́ những điều giảng dạy đó rất hợp lư. Ngay cả ở độ tuổi c̣n nhỏ, tôi rất tán thành Tứ diệu đế Đức Phật đă dạy. Những giáo lư dạy về nghiệp chướng và tái sanh cần đến một chút động năo để có thể hiểu được, nhưng tôi vẫn có thể xoay xở để đạt đến một số hiểu biết hợp lư nhất định. Đằng khác, những giáo lư bàn về những đặc tính cơ bản trong cuộc sống; đó là vô thường, trống rỗng, và bất măn triền miên nơi con người h́nh như đă quá hiển nhiên. Nhưng có điều chúng ta không thấy Phật Pháp đả động ǵ đến đức tin (niềm tin=faith) đó là một điểm tuyệt vời nhất, thay vào yếu tố đó bằng một lời hứa cho bất kỳ ai thực hành Phật Pháp sẽ t́m được niềm xác tín mạnh mẽ, nơi những thành quả họ cảm nghiệm được ngay trong cuộc sống trên cơi đời này.

Khi bước vào trường trung học, lần đầu tiên các học sinh được giới thiệu về môn học các tôn giáo trên thế giới, tôi đă được chọn tŕnh bày quan điểm của Phật giáo. Sau này, tôi rất thích thú tranh luận với những người thuộc các tôn giáo khác, châm chọc những điểm yếu nơi hệ thống tín lư của họ và gây khó xử cho họ bằng những lư lẽ khôn ngoan, bằng suy luận và hiểu biết mà nhiều người không ngờ tôi đă đắc thủ được. Đó là tất cả những ǵ về tôn giáo tôi có được ở vào thời điểm đó, một cuộc tập dợt tri thức, sự hiểu biết hỗ trợ cho quan điểm của chính bản thân tôi. Quan điểm đó thật mănh liệt trong lư luận nhưng lại quá yếu nơi tấm ḷng.

Nhưng t́nh trạng đó đă phải thay đổi vào một buổi sáng sớm năm 1980 lúc đó tôi mới 21 tuổi. Băng qua khu phố nơi chúng tôi đang ở, gia đ́nh chúng tôi có một người hàng xóm là bạn thân với cha tôi từ hồi c̣n nhỏ. Ông ta đang bị ung thư phổi và chúng tôi thấy ông ngày càng gầy yếu đi rơ rệt. Bà vợ ông ta đă đến gặp cha tôi, cho biết bà không hy vọng cuộc sống chồng bà sẽ c̣n kéo dài lâu hơn nữa. Bà đánh giá cao sự giúp đỡ của cha tôi vào lúc ông chồng bà qua đời. Một buổi sáng nọ, trời c̣n rất sớm, điện thoại trong nhà chúng tôi reo liên tục. Ít giây sau khi cha tôi nghe điện thoại, ông vội vàng chạy ngược trở lại pḥng ngủ, vơ vội chiếc áo và băng ra khỏi cửa đến nhà người hàng xóm.

Khoảng độ mười phút sau, bà vợ của bệnh nhân vội vàng chạy sang nhà chúng tôi, thở không ra hơi, bà cho hay có điều ǵ đó đă xẩy đến cho cha tôi. Tất cả chúng tôi chạy vội băng qua căn phố.  Tôi bước vội lên bậc thang tối mù và chạy vào căn pḥng ngay lối cửa chính, mẹ tôi theo sau tôi sát nút. Cảnh tượng đang diễn ra trước mắt tôi hết sức kỳ quặc. Trong một căn pḥng trống trơn có một chiếc giường bệnh nhân nằm trên đó, gầy ốm đang mặc bộ đồ ngủ (pyjamas); mắt ông chẳng c̣n chút sinh khí nào. Lập tức tôi biết ông đă chết. Nằm thượt ra ngay dưới chân giường là cha tôi, chiếc áo ông vội mặc sáng nay vẫn chưa cài hết nút. Mắt ông mở to, nh́n chằm chằm lên trần nhà. Khi đó, tôi qú xụp xuống cạnh cha tôi, tôi tưởng tượng nhận ra cặp mắt cha tôi đang cố tập trung nh́n vào đâu đó nhưng đă nhanh chóng mất hết sinh khí, cho đến lúc những giây phút cuối cùng của cuộc sống lóe khỏi cặp mắt đó. Ngay sau đó, mẹ tôi bước vào trong pḥng. Mẹ tôi lưỡng lự trong giây lát và rồi vội quỳ thụp xuống cạnh tôi và bà gọi tên cha tôi. Tôi c̣n nhớ giọng của mẹ tôi thật lạ lùng. Giống như thể ba tôi đang giỡn chơi và mẹ tôi đang lúng túng gọi cha tôi hăy ngừng lại. Ngay thời điểm đó, tôi b́nh tĩnh một cách lạ lùng. Tôi nh́n xuống ngực cha tôi. Không thấy trồi lên thụt xuống. Lúc này th́ tôi hoảng sợ thật rồi, tôi la toáng lên “Cha tắt thở rồi”. Giống hệt như tôi biết con người bạc nhược nằm trên giường kia cũng đă chết. Thế rồi tôi chỉ biết rằng cha tôi, một người có sức khỏe dồi dào đến thế, ngay ngày hôm trước c̣n hạnh phúc đến vậy, cũng đă vĩnh viễn  qua đi.

Trong nhiều tháng liên tiếp. Tôi luôn ngẫm nghĩ đến biến cố này. Thế rồi thực sự giáo lư của Đức Phật đă gây ấn tượng cho tôi. Làm sao mà tất cả cuộc sống trên thế gian này, cho dù là của một con chim se sẻ, của đứa trẻ nít, của cả những người già cả, lại quá mỏng manh đến thế, cuộc sống đó có thể tan biến đi giống như ảnh lửa ngọn nến. Làm sao tất cả chúng ta trên thế gian này, cho dù là người mù hay kẻ dốt nát hàng ngày lại phải cực nhọc đến vậy mới nhận ra chân đế cơ bản này. Chính biến cố đặc thù này đă dẫn tôi khám phá ra những lời giảng dạy của Đức Phật sâu xa hơn, và càng ngẫm nghĩ về chân lư tôi đă học hỏi, tôi càng thâm tín về những ǵ liên quan đến chính cuộc sống của tôi. Đối với tôi h́nh như những ǵ chúng ta chủ trương từ xưa đến giờ đều chẳng nhằm nḥ ǵ. Ngay cả nhăn mác tôn giáo nào chúng ta chọn để tự khẳng định ḿnh, cho dù chúng ta nghèo hay giàu có, thành công hay thất bại. Có một điều chắc chắn là tất cả chúng ta phải chịu cùng một căn bệnh giống nhau đó là “sự Chết”. Và v́ không thể t́m được phương cách chữa trị, chúng ta hay bị rối trí, thường là do quá ham mê thú vui giác quan, nhưng thật đáng buồn thay, đôi khi chúng ta lại giải quyết những bất đồng của chúng ta bằng tranh chấp và chiến tranh.

Nhiều năm sau khi cha tôi đă qua đời. Tôi có tham gia một cuộc hành hương ba lô đeo vai sang thung lũng sông Hằng bên Ấn Độ. Đến thăm nhiều thắng cảnh linh thiêng nơi chính Đức Phật đă hiện diện. Tại Nepal, tôi đă chứng kiến cảnh mặt trời mọc trên cánh rừng Lumbini, nơi Đức Phật sinh ra và đến thăm những tàn tích của hoàng cung nơi ngài đă sinh sống khi c̣n là hoàng tử. Tại Ấn Độ tôi đă lội qua sông Neranjara và lê bước lên ngọn đồi nơi Đức Phật đă hành thiền và đến thăm căn hầm nơi ngài tu luyện khổ hạnh. Tôi đă đến thăm thị trấn Bodh-Gaya tấp nập nhộn nhịp, và ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề tại địa điểm Đức Phật đă đạt đến giác ngộ. Tại Sarnath, tôi sung sướng khi dạo bước quanh Bảo Tháp ghi dấu ấn nơi ngài thực hiện bài giảng đầu tiên. Và cuối cùng tại Kusinarra, một ngôi làng nhỏ buồn tẻ nằm ngay dưới chân núi Hy mă lạp sơn, tôi quỳ phục lạy tại ngôi chùa có hàng ngàn ngọn nến thắp sáng nơi Đức Phật nằm xuống và đă qua đi về nơi thiên cổ hơn hai ngàn bốn trăm năm về trước.

Thật là một chuyến đi thần kỳ. Không phải chuyến đi chỉ khơi dậy sự hiện diện của Đức Phật, nhưng chính đất nước Ấn Độ đă khơi dậy nơi tôi một bài học lớn lao trong cuộc sống. Mỗi bước tiến tới đều chứa đựng tiềm năng thôi thúc chúng ta nh́n lại cuộc sống từ nhiều góc độ khác nhau. Đứa bé gái mắt nâu sáng quắc đang ch́a tay xin một vài rupee nơi du khách. Một bà già trần trụi, bị biến dạng do tuổi già và bệnh tật đang nằm bên lề đường. Làn khói c̣n sót lại của cuộc hỏa táng vừa mới thực hiện trên bờ sông, cách đó một vài mét bà con thân thiết của người chết c̣n đang trao đổi và uống trà với nhau. Những người hành hương thuộc giáo phái thần bí đang đốt lửa cung kính ngay trên cây cầu bắc ngang sông. Một người ăn mặc sang trọng ngồi chễm chệ trên chiếc “síc-lo”â đang vẫy tay ra hiệu xin đường khi băng qua đàn ḅ đông đúc. Và cách thành phố không xa, cảnh người và súc vật lao nhọc triền miên trên cánh đồng trồng mù tạc và cây dhal, một cảnh cổ xưa mà đă được lịch sử ghi lại. Biết bao nhiêu thế hệ con người đă trải qua cuộc sống nơi đây?

Tôi trở về nhà sau chuyến đi và rồi tôi lại thực hiện thêm một chuyến đi khác nữa chỉ ít năm sau với niềm kính trọng sâu xa đến với những di tích thánh địa.  Nhưng điều quan trọng hơn cả là những lời dạy của Đức Phật tôi coi như ḿnh đă am hiểu được cho đến lúc này, đă di chuyển từ lư trí tôi sang tấm ḷng của tôi.

Và điều ǵ đem đến cho tôi khi đă hiểu và thực hiện những lời dạy đó? Đây vẫn luôn là một câu hỏi khó t́m ra câu trả lời. V́ thực hành Phật Pháp không phải là chuyện thực hiện được trong một vài tuần. Ảnh hưởng của những lời giảng dạy đó đă thâm nhập vào suy nghĩ của tôi và dẫn dắt tôi trong mọi hành động hàng ngày. Nếu tôi là người hạnh phúc trong suốt thời gian qua, th́ giờ đây tôi chẳng c̣n lư do ǵ mà rơi vào cảnh bất hạnh cả. Tôi cảm thầy dễ dàng chấp nhận người khác hơn, v́ hiểu rằng tất cả chúng ta đều giống nhau, và toàn bộ hành động của chúng ta đều xuất phát do cùng một ước muốn chung thôi thúc đó là hạnh phúc hoặc là tránh đau khổ. Tôi sẵn sàng chấp nhận những ǵ cuộc sống đem lại cho tôi. Dẹp sang một bên những nỗi thất vọng. Mặc dù tôi tích cực tận hưởng vui thú trong cuộc sống, tôi vẫn ư thức rằng tất cả những điều đó tuyệt đối chỉ trống rỗng và ngắn ngủi. Nhưng trên cơ sở tất cả những điều vừa đề cập đến ở trên, có một điều chắc chắn là cho dù thế giới này có chuyển động như thế nào đi chăng nữa và đem lại niềm tin như thế nào đối với tôi, chẳng có hoàn cảnh nào có thể khiến tôi bối rối nghi nghờ ǵ nữa.

Điều này h́nh như có thể gây thất vọng với một số người  v́ tôi không đả động ǵ đến trạng thái phấn chấn ngây ngất do tôn giáo mang lại. Ấy vậy, đây mới chính là điều tôi thán phục nhất về Phật Pháp; đó chính là Phật Pháp chẳng nung nấu trí tuệ tôi bằng những niềm tin mù quáng, nhưng lấp đầy trí tuệ tôi thông cảm và ḷng nhân ái. Nhưng Phật Pháp c̣n hơn hẳn một bản thiết kế giúp chúng ta thóat khỏi đau khổ rong cuộc sống. Trong số các bè bạn của tôi, một số đă được Phật Pháp cảm hứng. Họ đă nghiêm chỉnh chấp nhận thách thức hầu đạt đến giác ngộ. Một số ít đă chấp nhận được thọ đại giới Tỳ kheo nhưng đa số họ vẫn theo đuổi mực tiêu đó trong cuộc sống đời thường; những ai không đăng kư tham dự vào những kỳ vọng “b́nh thường” nơi xă hội chúng ta hay mưu toan đạt đến thành công. Họ cũng như tôi, chúng ta đều chia sẻ một thâm tín cho “Níp bàn” là có thực. Niết bàn không phải là thiên đường, là chúng ta chỉ đến được sau khi đă qua khỏi cơi đời này nhưng là một kinh nghiệm mỗi người chúng ta có thể đạt đến được ngay trên cơi đời này, một thành đạt biểu hiện cho đỉnh cao thành tựu của con người, khiến cho chúng ta vĩnh viễn thoát khỏi cái thực tại tri thức chúng ta thường gọi là hiện hữu từ bấy lâu nay. Giống như tất cả mọi người, ư tưởng này cũng gây ra trong tôi niềm cảm hứng nhưng hiện thời lư tưởng đó vẫn chỉ là một niềm mơ ước nơi chân trời tôi phải ngước mắt nhắm tới để giảm thiểu những bận tâm lo lắng trong cuộc sống đời thường hàng ngày.

Và như vậy, cuộc sống này sẽ trôi qua một cách b́nh thản và êm đềm. Chớ ǵ điều này vẫn tồn tại như vậy cho đến phút chót.

Tháng năm, 2000.