John D. Ireland.
Nguyễn Văn Sáu biên dịch
Nguyễn Văn Sáu biên dịchNguyễn Văn Sáu biên dịch
Giới thiệu: John D. Ireland sanh tại Anh quốc vào năm 1932. Ông theo học tại đại học Orange Hill Grammar Scholl và là một nhân viên thí nghiệm khoa học y tế. Ông Ireland đă đóng góp nhiều bài viết cho tạp chí Phật giáo và hiện đang sửa soạn bản dịch hai Kinh Phật đó là Kinh Phật Tự Thuyết (Udana) và Như Thị Thuyết Kinh (Itivuttaka)
Người ta nói tôi được rửa tội theo Đạo Thiên Chúa. Nhưng khi đó tôi mới là đứa trẻ một tháng tuổi. Tôi c̣n quá nhỏ để ư thức được bất kỳ điều ǵ xảy đến với tôi. Ngoài việc thực hiện điều này cho tôi, cha mẹ tôi không dạy cho tôi thêm bất kỳ điều ǵ về tôn giáo. Cha mẹ tôi chỉ theo Thiên Chúa giáo trên danh nghĩa và họ theo Anh giáo, tôi chưa bao giờ thấy họ đến nhà thờ hay tham dự bất lỳ lễ nghi nào ở đó, ngoại trừ một số trường hợp như lễ cưới hay đám tang là điều mang tính xă hội nhiều hơn là tôn giáo. Trong vấn đề này, họ giống như bất kỳ người dân trong xă hội ngoại vi thành phố Luân Đôn. Nếu được hỏi về đạo, họ chỉ có thể chấp nhận một vài điều phải tin rất mơ hồ nơi “Thiên Chúa và Kinh thánh,” nhưng những điều đó không ăn nhập ǵ tới cuộc sống hàng ngày cả. Nếu có người nào muốn chứng tỏ một điều ǵ đó hơn là mối quan tâm qua loa về tôn giáo. Họ tỏ vẻ nghi ngờ hơn “b́nh thường”. Đây là một thái độ rất phổ biến nơi xă hội Anh quốc vào thời đó. Như vậy, khi c̣n là đứa nhỏ, tôi không bao giờ bị thúc dục đi đến nhà thờ hay có bất kỳ quan tâm nào đến những sinh hoạt kiểu đó.
Tương quan đầu tiên tôi có được với tôn giáo là khi tôi đến trường. Vào buổi họp mặt buổi sáng chúng tôi phải hát một bài Thánh Vịnh (hymn) và phải đọc một kinh trước khi vào lớp và rồi c̣n có một buổi về tôn giáo, chúng tôi được nghe kể về những câu chuyện trong Kinh Thánh và đọc một số đoạn trong đó. Đây là lúc tôi theo học trung học. Tôi cảm thấy tất cả những điều đó là vô nghĩa và gây bối rối. Đương nhiên tôi rất hiểu đạo đức luân lư là điều rất tốt, tôi cũng hiểu ăn cắp và nói láo là hành vi phản xă hội, biến chúng ta trở thành kỳ quặc với bạn bè và bầu bạn cùng lớp. Nhưng một số điều khác, thí dụ như Phép Lạ th́ tôi hoàn toàn không hiểu ǵ cả và h́nh như đi ngược lại với trật tự tự nhiên làm sao những điều đó lại xảy ra trên thế gian này. Tôi nghi ngờ cả về sự hiện hữu của Thiên Chúa như thể ngài ở khắp mọi nơi, và câu chuyện tạo dựng xem ra không thích hợp với điều tôi đang bắt đầu học môn khoa học. Nếu có điều ǵ đó tôi học rất nhanh ở trường, đó chính là đọc sách và tôi đă đọc bất cứ điều ǵ tôi có trong tay. Thú đọc sách và sách vở đă lưu lại nơi tôi trong suốt cả cuộc đời.
Một ngày nọ khi tôi đang theo học ở trường cấp III, thầy hiệu trưởng kể cho chúng tôi một câu chuyện nhỏ nhằm chứng minh sự “hiện hữu của Thiên Chúa” – và ông phải biết là có cơ sở để cho ta nghi ngờ. Ông nói, ông đă cẩn thận trồng những hạt giống hoa trong vườn. Ấy thế mà chúng thường không nẩy mầm, trong khi đó cỏ dại lại mọc và phát triển giữa kẽ nứt trên lối đi và ngay cả trên đất sỏi. Điều này chứng tỏ có bàn tay của Thiên Chúa làm việc, giúp cho cả một tạo vật nhỏ mọn như cỏ dại mọc lên. Tôi nhớ suy nghĩ về điều này và kết luận điều đó chẳng chứng minh chút ǵ về Thiên Chúa cả. Nếu có một số hạt giống mọc lên và một số th́ không, điều đó dứt khoát là do có một số hạt giống tốt c̣n số khác th́ không và những điều kiện cho sự phát triển có đúng đắn hay không. Thế rồi tôi suy nghĩ về toàn bộ vấn đề về Thiên Chúa và đi đến kết luận rằng không có Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ là điều bịa đặt tưởng tượng mà thôi. Lúc đó tôi mới có tám tuổi, có điều hấp dẫn là những tư tưởng của tôi về nguyên nhân và điều kiện cần thiết để cho một hại giống nảy mầm lại rất gần gũi với lời dạy của đức Phật về thuyết nhân quả. Nhưng tôi chỉ khám phá ra được điều này nhiều năm sau đó.
Khi tôi rời trường trung học, tôi lại theo học tại trường phổ thông. Tôi đă học nhiều hơn về Thiên Chúa giáo, và thực tế, tôi đă thi đậu với điểm tối đa môn kiến thức tôn giáo. Tuy nhiên, điều đó không nghĩa lư ǵ đối với tôi cả; môn học này cũng chỉ là một môn học b́nh thừơng như các môn học khác. Trong vấn đề này, tôi không có ǵ khác biệt so với các bạn học cùng lớp. Trong những ngày đó, cho đến những năm 1949 khi tôi ra trường, chúng tôi không được dạy thêm bất kỳ điều ǵ khác hơn là Thiên Chúa giáo. Chúng tôi đă học Cựu Ước (Old Testament) v́ thế tôi khó ḷng biết được ǵ về các tôn giáo khác như Phật giáo có tồn tại không chẳng hạn. Đương nhiên là có các học sinh Do Thái trong trường tôi học, nhưng Do Thái giáo không khác mấy so với Thiên Chúa giáo, họ chỉ học có Cựu Ước mà thôi và không tin vào Đức Giê su. Tôn giáo học về Thiên Chúa, là đấng không tồn tại trong tôi. Ngày nay, tôi được biết trẻ em được dạy cho biết về các tôn giáo khác nữa và không bị nhồi nhét chỉ có Thiên Chúa giáo mà thôi .
Mặc dù tôi không quan tâm đến tôn giáo như đă được tŕnh bày. Tôi vẫn cảm thấy có nhu cầu t́nh cảm cần phải có điều ǵ đó để mà tin tưởng. Tôi nghĩ, nhờ quan tâm đến khoa học và đặc biệt là lịch sử tự nhiên, tôi có thể nghĩ ra được một thứ tôn giáo cho riêng ḿnh. Tôi có thể vun xới ḷng kính trọng với thiên nhiên và tôn thờ cây cối, sông ng̣i cũng như những kỳ quan và vẻ đẹp thiên nhiên như những tổ tiên ngoại đạo của chúng ta đă làm trước khi Thiên Chúa giáo xuất hiện. Tôi cũng là một người ngoại đạo vậy. Tôi cảm thấy có nhiều điều khoa học không thể giải thích được. Đôi điều ǵ đó siêu nhiên trong thế giới tự nhiên này. Điều này đă được tăng cường do một sự việc khác thường xảy ra khi tôi ở vào tuổi mười hai. Một ngày kia, tôi đi dạo trong một cánh rừng gần nhà lúc đó trong đầu tôi xuất hiện một ư tưởng là ở một gốc cây nọ, cách xa chỗ này một chút có một đồng bạc của Cu rôn, một đồng bạc trị giá khoảng hơn số tiền túi tôi nhận được đi học trong ṿng một tháng vào thời đó. Tôi t́m thấy đồng tiền đó qua trí tưởng tượng. Một đồng tiền cũ kỹ và đă biến thành màu vàng bám đầy bụi bặm. Qua thâm tín và thúc ép trong tâm trí khiến tôi tiến tới gần t́m kiếm gốc cây đó, tôi cào lá phủ đầy gốc cây và t́m thấy đồng xu. Đúng hệt như tôi đă nh́n thấy trong ư nghĩ, cũ kỹ và bụi bám đầy và đă ngả sang màu vàng. Kinh nghiệm này khiến tôi kinh hoàng và rất ngạc nhiên. Tôi nhớ tôi nắm chặt lấy đồng xu trong tay, pḥng trường hợp nó biến mất một cách khó hiểu như thể đồng xu đă xuất hiện. Tôi đă ra đi và tiêu ngay đồng tiền đó mua liền chút ǵ để ăn ngay trên đựng về nhà.
Tôi kể lại biến cố kỳ lạ này không phải v́ biến cố đă gây cho tôi một ấn tượng mạnh - làm sao điều này có thể xảy ra? Nhưng v́ có một vài điểm tương đồng với biến cố sau này, tức là việc tôi trở lại Phật giáo, một kinh nghiệm hoàn toàn sống động, tôi sắp sửa kể ra đây.
Tôi rất sung sướng trong thời gian đến trường và rất thích có nhiều bè bạn cũng như học được nhiều môn học. Tôi rất thích tiếp tục học và lên đại học nữa, nhưng điều này đă không xảy ra. Cha mẹ tôi không mấy sung túc c̣n cha tôi lại bệnh hoạn liên tục - là di chứng những ngày ông phải tham gia chiến tranh năm 1914-1918. Chính v́ thế tôi phải nghỉ học và đi làm sớm để kiếm tiền phụ giúp cho gia đ́nh. Quả thực đây là một giai đoạn tuyệt vọng đối với tôi. H́nh như bất ngờ tôi bị ném vào thế giới của người lớn mà chẳng được sửa soạn ǵ cả, cùng lúc đó tôi nhớ bạn bè cùng lớp vô cùng. Tôi không thể quyết định ḿnh muốn làm ǵ trong cuộc sống. Nghề nào hấp dẫn. Đó là một giai đoạn vô cùng nản trí và tôi cảm thấy cuộc đời thật vô nghĩa và vô vọng. Tương lai th́ đen tối và bất ổn. Có lẽ đây là kinh nghiệm chung của nhiều thanh thiếu niên và chắc chắn tôi đă cảm thấy chán nản và bất măn vô cùng. Tôi chẳng biết phải làm ǵ hơn.
Mùa hè năm 1951, tôi được đi nghỉ một chút khỏi công việc tôi đă chán ngấy. Tôi không thể đi đâu xa v́ cha tôi th́nh ĺnh trở bệnh lại và trong bất kỳ t́nh huống nào, tôi không có đủ tiền để đi đâu cả cho dù tôi rất thích. Chính v́ vậy tôi chỉ biết giết thời gian bằng đọc sách, làm công việc nhà và đi lang thang dưới phố. Tôi không biết trước được điều ǵ, nhưng đây là lần cuối cha tôi ngă bệnh. Ông cụ cứ chết dần chết ṃn đi. Tuy vậy cha tôi vẫn cứ sống nấn ná được gần hai năm nữa trước khi vĩnh viễn ra đi. Đương nhiên tôi rất lo lắng cho ông cụ và như vậy nỗi lo lắng và nản ḷng cứ gia tăng thêm.
Một hôm, cũng trong kỳ nghỉ này, tôi vào một tiệm bán sách với ư định kiếm mua một vài cuốn sách để làm dịu bớt nỗi buồn bực và vợi đi những khó khăn và lo lắng. Và t́nh cờ tôi thấy một cuốn sách b́a giấy mềm mang tựa đề là Phật giáo do tác giả Christmas Humprey viết. Cho đến lúc này, như tôi đă nói, tôi không hề có một chút kiến thức nào về Phật giáo cả. Tôi chỉ biết lờ mờ là có một tôn giáo phương Đông, nhưng tôi lại nghĩ Đức Phật là một vị thần Trung Hoa. Nh́n thấy cuốn sách, xem ra thật hấp dẫn, tôi quyết định đọc thử xem có kiếm được đôi điều ǵ đó liên quan đến những ǵ từ xưa nay hay ít ra cũng giúp tôi quên đi những khó khăn trong giây lát. Và thế là tôi móc túi mua ngay cuốn sách đó.
Ngay hôm sau, tôi bắt đầu đọc và nghĩ cuốn sách hay thật. Tôi đă học biết về cuộc đời Đức Phật, ngài sinh ra là một hoàng tử Ấn Độ rồi đạt đến Giác ngộ và nhiều điều khác nữa. Và rồi, ngay khi tôi chưa đọc hết cuốn sách, tôi đă t́nh cờ đọc được bài viết về Tứ diệu đế: chân đế đau khổ, nguồn gốc tham lam, cách chấm dứt đau khổ và Bát chánh đạo. Tôi đọc miệt mài điều đó và khi đau khổ xuất hiện tôi liên tưởng đến những tuyên bố của Đức Phật về đau khổ, dukkha, liên hệ vào chính những kinh nghiệm ngay thời điểm tôi gặp bồn chồn lo lắng cả những suy tư về sự phù phiếm của cuộc đời. Th́nh ĺnh tôi hiểu ra sự thật về đau khổ và tự nhủ “Đúng thật, đây chính là sự thật rành rành.” Tôi cảm thấy quá phấn chấn về khám phá đó và như trong giấc mơ tôi như đang bị treo lơ lửng trên không, dưới tôi là trái đất trải rộng như một tấm bản đồ, với Ấn Độ làm trung tâm điểm, tôi thấy con người ta di chuyển duới đó đông như kiến. Một h́nh ảnh thật sống động và chi tiết và tôi c̣n nhớ được cảnh một người đang chậm răi và mỏi mệt lê bước bên cạnh chiếc xe ḅ. Tại sao tôi lại nh́n thấy điều này cách đặc biệt như vậy, hoặc giả điều đó mang ư nghĩa ǵ, nếu vậy, tôi chẳng hiểu ǵ cả. Đang lúc nh́n xuống cảnh tượng đó tôi tự nhủ trong ḷng “Tất cả chỉ là đau khổ do tham lam mà ra.”
Tôi đă thoát khỏi t́nh trạng này, có lẽ chỉ tồn tại trong giây lát ngắn ngủi, tôi thấy ḿnh đang ngồi trong căn pḥng của tôi tay c̣n cầm cuốn sách, một cảm giác vô cùng hạnh phúc và hồi hộp xâm chiếm ḷng tôi. Khi tôi hồi tâm suy nghĩ, tự nhiên tôi thấy xuất hiện trong đầu một số từ, đối với tôi tựa như là lời tuyên bố long trọng “Tôi hiện là Phật tử, tôi luôn đă và sẽ măi măi là Phật tử!” nghĩa là như thể Đức Phật đă dạy chân lư này, tôi biết đó là lời tuyên bố về một thực tại đă được xác minh bằng chính kinh nghiệm của tôi, Đức Phật hẳn đă phải biết chân đế đó. Những lời đó chính là cách diễn đạt đức tin lớn lao và ḷng kính trọng vô bờ tôi cảm nhận được đối với Đức Phật, hiện đă trở thành Thiền sư của tôi. Tiếng nói tôi đă luôn là một Phật tử có nghĩa là tôi luôn hiểu rơ Chân đế về đau khổ, dẫu cho trước đó tôi đă không ư thức được một cách rơ ràng. Đau khổ là điều luôn hiện hữu. Nhưng tôi đă suy nghĩ về đau khổ có phần hơi ích kỷ, như thể đau khổ đó chỉ xảy đến cho riêng tôi mà thôi. Trước đó, những người khác xem ra rất hạnh phúc và hài ḷng với cuộc sống, và h́nh như chỉ có tôi là bị gạt ra khỏi số những người sống trên thế gian này. Nhưng hiện nay tôi hiểu được đau khổ là một chân đế phổ quát, áp đúng với hết mọi người, cho dù họ có nhận ra sự thật đó hay không. Bằng cách nào tôi biết được ḿnh luôn là Phật tử lại là một vấn đề thuộc đức tin và thân tín rằng chân đế đau khổ sẽ không bao giờ tan biến. Tuy nhiên sự phấn chấn do khám phá đó lại mang đậm vẻ thất vọng. Tôi chấp nhận tuyên bố của Đức Phật cho là nguồn gốc mọi đau khổ là do than lam và thèm muốn mà ra, nhưng tôi chưa thấm nhuần được sự thật đó giống như thể chính đau khổ đó là của tôi. Cho dù tôi đă cố thử thực hiện như vậy xem sao, giây phút ảo tưởng đó đă trôi qua. Như vậy tôi hiểu ra rằng vẫn c̣n nhiều điều phải làm và phải học hỏi thêm. Tôi đă tiến hành t́m hiểu nhiều hơn về Phật giáo càng sớm càng tốt.
Tôi tiếp tục đọc thêm và nghiên cứu sâu xa hơn về đề tài đó và cố bằng nhiều cách khác nữa khám phá nhiều hơn về Phật giáo. Tôi cũng được biết hiện có Hội Phật giáo do Christmas Humphreys thiết lập có cơ sở đặt gần kế với viện bảo tàng Anh quốc tại Luân Đôn. Khoảng một tuần sau, tôi đă đến t́m kiếm và cuối cùng lần đầu tiên tôi đă đến tham dự nhiều cuộc hội họp cũng như gặp được rất nhiều Phật tử tại đó. Tôi đă suy gẫm về bài nói chuyện đầu tiên tôi tham dự do ông William Purfurst giảng thuyết về Tạng Luật, kỷ luật và những qui định các vị Tăng Ni cần nắm giữ. Ba năm sau, tôi đă gặp lại giảng viên và lúc đó ông đă trở thành Tỳ kheo Kapilavaddho. Nhưng trước khi điều này xảy ra, tôi phải trải qua một số đau khổ trong suốt hai năm đi nghĩa vụ quân sự khiến tôi phải ngưng công việc nghiên cứu trong một thời gian.
Ngay sau khi xuất ngũ, tôi chính thức trở thành thành viên Hội Phật giáo và được giới thiệu làm quen với Tỳ kheo Kapilavaddho. Ông là nhà sư đầu tiên tôi gặp và cũng là người đầu tiên dẫn tôi đến nương nhờ cửa Phật và nhận Luật Giới. Hiện giờ tôi đă chính thức là người Phật tử. Ít lâu sau đó tôi đă tham dự một số bài nói chuyện do ông tổ chức và bắt đầu t́m hiểu nghiêm túc những bài thuyết pháp của Đức Phật ghi lại trong Kinh Pàli để có thể học những giáo lư cơ bản về Phật giáo. Tỳ kheo Kapilavaddho rất truyền cảm với nghị lực phi thường trong việc đẩy lùi nhiều quan điểm sai lạc về Phật giáo vào thời đó. Tôi hướng về ông v́ những ǵ tôi học ở ông có liên quan mật thiết đến việc luyện tập ư thức và những điều Phật dạy về nhân quả và về duyên khởi tính (paratantra) đây là hai điều cơ bản trong luyện tập và hiểu biết.
Sau này tôi lại gặp được một số Tỳ kheo và Thiền sư khác nữa, ngoài số người theo phái Nam tông tôi c̣n nhận được sự chỉ dẫn quí báu và lời giảng dạy của Rinpoche Trungpa, là thầy Lạt ma thuộc trường phái Kagyud Tây Tạng. Ông đă sống tại Anh quốc trước khi sang Ḥa Kỳ. Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục học hỏi giáo lư của Đức Phật bằng tiếng Pàli để khám phá Tam Tạng, và tự học tiếng Pàli để có thể đọc những bản gốc Kinh Phật. Trước kia tôi tham gia nhiều tổ chức Phật giáo, ngoài Hội Phật giáo, và gặp rất nhiều đạo hữu Phật tử khác. Nhưng hiện nay tôi lại có ư định theo đuổi một vài khóa thiền tĩnh lặng, tu luyện học hỏi và luyện dịch các tài liệu Kinh Phật, giảm bớt tiếp xúc với quá nhiều Phật tử khác, hay tham gia nhiều tổ chức. Tôi chẳng bao giờ lập gia đ́nh. Hiện nay cha mẹ tôi đă qua đời, tôi chẳng có họ hàng thân thiết v́ thế tôi đă cống hiện hết nghị lực theo đuổi những mục tiêu toàn cầu – đó là thể hiện cho được giáo lư của Đức Phật.
Tôi trở lại Phật giáo như thế nào? Đây là một câu hỏi khó trả lời. Kinh nghiệm đầu tiên tôi tiếp cận với Phật giáo đă xua tan nỗi chản nản của tôi vào thời đó và cũng đă chữa trị khuynh hướng dễ nổi nóng của tôi. Việc tôi khám phá ra Phật giáo đă đem lại cho tôi điều cốt lơi, đó là hạnh phúc và hy vọng và kể từ ngày đó mục đích trong cuộc sống chưa bao giờ rời khỏi tôi. Nếu như nay tôi chưa trở thành một Phật tử th́ hiện giời tôi sẽ ra sao? Một vấn nạn vô ích để mà nghĩ đến.
Thời điểm trở lại Phật giáo của tôi xem ra rất đặc biệt và đầy kinh ngạc. Nhưng vào lúc này, nh́n lại biến cố đó cộng với hiểu biết tôi đă có được kể từ đó, h́nh như c̣n là điều đặc biệt hơn biết mấy. Tôi khó ḷng tin ở mắt ḿnh làm sao tôi lại được may mắn đến thế. Tôi đă ghi lại hai biến cố khi tôi nhập vàp cơi thiền định (samadhi) một cách hết sức tự nhiên. T́m thấy đồng bạc cắc là biến cố thứ nhất. Biến cố đó cũng đă để lộ ra sức mạnh luyện tập thần thông (iddhi), đó là một sức mạnh thần bí do luyện tập trung trí tuệ mà ra. Biến cố thứ hai là vào thời điểm tôi trở lại đạo Phật là lúc tôi đă có thể tập trung vào “thiền chỉ”, vào tâm nhất cảnh tính (định), chỉ tập trung suy nghĩ vào một tư tưởng mà thôi, liên tục phấn chấn và hân hoan. V́ tất cả những sự kiện này chỉ có thể xảy đến sau một thời gian cố gắng hành thiền kéo dài. Tôi nghĩ ḿnh đă thực hiện được những điều trên nơi kiếp trước và thu lượm được thành quả những việc công đức đó trên cơi đời này. Đang khi Thiên Chúa giáo luôn luôn tỏ ra lạc lơng và xa lạ với tôi vào thời điểm tôi khám phá ra Phật giáo, h́nh như đây là điều hết sức tự nhiên, như thể tôi “trở về nhà ḿnh vậy” và chính v́ vậy tôi tin là tôi đă trở thành đệ tử của Đức Phật nơi kiếp trước, cho dù tôi không c̣n nhớ được điều ǵ cả. Đức Phật nói: “Kẻ nào nhận ra Phật Pháp (chân đế) th́ cũng nhận ra ta, c̣n kẻ nào đă nhận ra ta th́ cũng nhận ra được Phật Pháp vậy”. Và cái nh́n phớt qua Phật Pháp, khi tôi đi sâu vào bản chất đau khổ và bất măn như thể tôi đă gặp được Đức Phật trực diện và trực tiếp nhận được giáo lư do chính ngài truyền dạy cho tôi. Cuốn sách tôi đọc đă tạo tin tưởng tiềm tàng trong tôi và ḷng trông cậy nơi Đức Phật mới vào thời điểm đó đă nâng đỡ và hướng dẫn tôi bằng nhiều cách. Thiếu điều đó tôi cũng giống như nhiều người khác, họ đă theo đuổi tu luyện Phật giáo trong một thời gian và rồi lại quay trở lại với nhiều điều khác. Hoặc giả tôi cũng giống như những người đă đặt niềm tin vào những Thiền sư người đời và rồi quay đi và khám phá ra họ cũng có những sai lầm và không thể tin tưởng vào những ǵ họ suy nhĩ. Tôi chưa bao giờ gặp một Thiền sư là người tôi có thể chấp nhận vô điều kiện. Tôi chỉ t́m thấy được hướng dẫn không sai lạc trong cuộc sống và nơi những lời dạy của chính Đức Phật mà thôi. Tuy nhiên tôi đă học hỏi rất nhiều nơi kẻ khác, nhưng khi nghe những ǵ họ nói tôi cần cân nhắc nhưng lời của họ và nghiền ngẫm. Giống như Queen Mallika tự hỏi: “Đức Phật có nói điều đó hay không?” Hoặc giả, ngài có nên nói như vậy không? Và rồi, “Nếu Đức Phật nói như vậy, chắc là phải nên vậy thôi.”
Đây là “lư lịch nội tâm” ngắn gọn của tôi. Một số biến cố và suy nghĩ đă ghi dấu ấn trên toàn bộ cuộc sống của tôi và đă khiến tôi có thể tự cho ḿnh gọi là một Phật tử.