TÔI VẪN TIẾP TỤC CUỘC HÀNH TR̀NH TÂM LINH
Ang Siew Mun
Mă Lai
Nguyễn Văn Sáu biên dịch
Tôi đă bắt đầu cuộc hành tŕnh tâm linh ngay từ hồi c̣n là đứa bé nhỏ xíu, khi tôi t́m đọc cuốn sách nhỏ mang ḍng chữ “Ngũ giới” ngay bên bàn thờ Phật. Mặc dù tôi không c̣n nhớ tên tác giả viết cuốn sách đó, nhưng nội dung cuốn sách vẫn c̣n ghi đậm trong tâm trí tôi suốt nhiều năm qua. Tác giả cuốn sách đă thách thức tôi cũng như tất cả mọi người là hăy đem áp dụng “ngũ giới” vào cuộc sống một người Phật tử b́nh thường. Là đứa trẻ tinh nghịch và khó trị tôi đă chấp nhận thách thức đó; và cố gằng tuân giữ “ngũ giới” đă khiến tôi bận bịu suốt từ bấy lâu nay. Vào thời điểm đó, Phật giáo đối với tôi chỉ là “ngũ giới”, Pháp Cú Kinh (Dhammapada) và một số lư tưởng Phật giáo, ngoài ra tôi chẳng biết thêm điều ǵ nữa.
Rồi đến năm 1988, tôi bắt đầu làm quen nhiều hơn với giáo lư Phật giáo tại đại học. Những giáo điều tôi nhớ nhiều nhất chính là những điều quan trọng để nắm giữ “ngũ giới” của chúng ta. – tại sao chúng ta cần đến “ngũ giới”, thiền tâm từ (do Thượng tọa Tiến sĩ K. Sri Dhammananda), và ba nét đặc thù của cuộc sống – đau khổ (dukkha), vô thường (anicca) và vô ngă (anitta). Tôi cũng học tụng ngũ giới trích trong Kinh Pàli lần đầu tiên. Ba năm sau tôi được giới thiệu theo học Thiền quán với một người bạn trong Phật giáo. Tôi tham dự một khóa huấn luyện mười ngày tại Kota Tinggi, Johor. Khóa huấn luyện đă tràn ngập tâm trí tôi với một ḷng biết ơn sâu đậm với Thiền sư của tôi, là Thượng tọa Vijuva, v́ ngài đă dạy cho tôi đôi điều mang nhiều ư nghĩa cho cuộc sống. Thế là tôi đă có thể gạt sang một bên nhiều rối rắm và đau khổ tôi đă cảm nhận được trước khi tham gia khóa huấn luyện hành thiền này. Sau đó tôi đă tham gia Trung tâm trí tuệ (Buddhist Wisdom) và Buddhist Gem Fellowship.
Năm 1992, tôi sang Anh quốc để hoàn tất bằng cử nhân triết học. Tôi đă may mắn gặp một cặp vợ chồng người Việt Nam. Bác sĩ Hồ Hồng Phước và vợ ông ta. Chúng tôi đi tham dự một buổi nói chuyện vào ngày Phật đản do Ni cô Ajahn Sundara tại chùa Amaravati. Nhiều trích đoạn đề cập đến đêm Đức Phật đạt đến giác ngộ trích trong tác phẩn “Old Path White Clouds” do Thượng tọa Thích Nhất Hạnh viết. Ôi! vô cùng ấn tượng! bác sĩ Hồ Hồng Phước đă giới thiệu với tôi nhiều tác phẩm khác nữa của vị Ḥa Thượng này. Thực chất, ngay thời điểm tôi đang viết mấy ḍng này, tôi vẫn đang huy động tài chánh để xây một ngôi chùa. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi chùa Amaravati trong một thời gian ngắn. Ở đó tôi được gặp Thượng tọa Ahahn Sunedho và vô cùng sung sướng được nghe một số bài nói chuyện của ông và tôi cũng đă xung phong làm công quả phục vụ Tăng già vài ngày. Chính tại ngôi chùa Amaravati này, tôi đă học biết được kinh Phật Pàli. Cũng chính tại Amaravati, tôi cũng nhận ra người Anh hạnh phúc biết chừng nào khi họ có được một số Tăng già lúc nào cũng hiện diện nơi họ. Theo như tôi được biết, ngay ở Mă Lai chúng tôi cũng không có nhiều nhà sư đến thế. Họ cũng không thường xuyên sống bên cạnh chúng tôi đến như vậy. Tại Âu Châu tôi đă gặp Thượng tọa Ajahn Chandapalo (Tỳ kheo Santacittarama, người Ư) và Ajahn Tiradhammo (là Hộ pháp tại Thụy Sĩ Dhammapala) cho dù tôi chỉ lưu lại một số ngày ngắn ngủi tại các thiền viện đó, tôi đă học được rất nhiều điều vô cùng quan trọng trong khóa huấn luyện. Tôi cũng đến thăm ngôi làng Plum tại Pháp, đến thăm thiền viện của Thượng tọa Thích Nhất Hạnh. (ông đang thăm Hoa Kỳ vào ngay thời điểm tôi đến) nhưng tôi đă gặp được ông trước đó tại Luân Đôn. Hồi đó, ông đang diễn thuyết cho một nhóm bác sĩ trị liệu pháp. Tôi không là người thuộc nhóm họï, nhưng tôi cũng được mời đến tham dự v́ tôi là bạn của bác sĩ Hồ Hồng Phước và gia đ́nh ông ta. Cũng chính trong buổi thuyết pháp đó, tôi đă học được cách “hành thiền bách bộ mỉm cười” vô cùng hữu hiệu của Thượng tọa Thích Nhất Hạnh.
Trở về Mă Lai, tôi tiếp tục tu luyện với Thượng tọa Sujiva cho măi đến cuối năm 1995, lúc đó tôi bị bệnh nặng. Tôi quay trở về Ipoh (từ Kula lampur) để phục hồi lại sức khỏe. Rồi Thượng tọa Sayadaw U Pandita đến thăm Kula Lampur. Tôi cũng may mắn có mặt tại đó ngay vào lúc dân chúng thực hiện bố thí và bầy tỏ kính trọng với ngài. Sau này một danh sách Phật Pháp được thiết lập. Tôi “chộp” ngay lấy cơ hội quay trở về lại với sức khỏe tâm thần. Kể từ ngày đó, sức khỏe của tôi hồi phục đáng kể. Nh́n lại, tôi cảm thấy ḿnh thật may mắn biết bao v́ đă được gặp gỡ, học hỏi và tỏ ḷng tôn kính biết bao nhiêu Thiền sư dạy dỗ tôi hành thiền. Bạn có thể thắc mắc tại sao tôi lại không đến thăm bất kỳ thiền viện Phật giáo nào theo truyền thống Đại thừa (Mahàyana) tại phương Tây. Lư do là v́ tôi đă để mất cuốn sổ điện thoại tôi đă ghi trong đó những địa chỉ của hai thiền viện!!! Tôi vô cùng biết ơn tất cả những Thiền sư của tôi, một số điều tôi đă đề cập đến ở đây, một vài người khác th́ không kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Chớ ǵ Đức Phật, giáo Pháp và Tăng già bảo vệ che chở và chỉ lối vẽ đường cho họ luôn và như vậy cuộc hành tŕnh tâm linh của tôi vẫn tiếp tục.
Tháng 10, 1999.
[Trở Lại Trang chuyên đề]