TÔI ĐĂ TRỞ THÀNH PHẬT TỬ NHƯ THẾ NÀO
Amadeo Sole-Leris
Nguyễn Văn Sáu biên dịch
Giới thiệu: Tác giả Amadeo Sole-Leris người Anglo Catalan sanh tại Tây Ban Nha năm 1927. Ông tốt nghiệp khoa tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức tại đại học Luân Đôn. Sau đó ông tiếp tục giảng dạy tiếng Tây Ban Nha và văn chương tại đại học King’s College. Năm 1961 ông làm nhân viên quốc tế tại cơ quan Lương Nông Thế Giới (FAO) thuộc Liên Hiệp Quốc trụ sở đặt tại Roma. Từ khi về hưu ông tiếp tục làm thông dịch viên cho các cuộc hội nghị quốc tế trên cơ sở là một nghề tự do.
Từ điển Oxford định nghĩa tôn giáo như sau: “Tôn giáo là việc con người thừa nhận một thế lực vô h́nh cao siêu hơn có khả năng nắm quyền định đoạt số phận con người và được quyền bắt con người phải tuân phục kính trọng và phụng tự”. Tôi đă trở thành Phật tử ngay khi hiểu được Phật giáo, hay nói đúng hơn, Phật Pháp không phải là thứ tôn giáo theo định nghĩa nêu trên. Hoặc, quả thực Phật giáo không hàm chứa một đức tin có một đấng Tối cao, một vị thần thánh tuyệt đối cũng như t́m hiểu ư nghĩa sự hiện diện của con người có tương quan với vị thần thánh đó như thế nào.
Năm 1972, lần thứ hai tôi đến thăm Sri Lanka. Nhân cơ hội này tôi đă có tương quan mật thiết hơn với một số Phật tử tại đây. Tôi bắt đầu phát hiện ra giáo lư của Đức Phật có thể được diễn tả cách chính xác hơn, theo cách diễn đạt của người phương Tây. Phật giáo là một chủ thuyết nhân văn, có nghĩa là, một hệ thống kỷ luật đạo đức và một cách luyện tập siêu nhiên (loại bỏ ra ngoài những khái niệm siêu h́nh và thần học vô ích) đă cống hiến cho mọi người một lối sống, ngay tại đây vào lúc này. Cho phép ta đạt đến việc thể hiện trọn vẹn nhất tiềm năng nhân loại được mô tả như là một hiện tượng giác ngộ vậy.
Khi tôi hiểu ra Đức Phật, Đấng Giác ngộ, chưa bao giờ tự cho ḿnh là Thiên Chúa, hoặc là con Thiên Chúa, hoặc giả một Tiên tri có nhiệm vụ công bố chân lư của Thiên Chúa, mà Đức Phật chỉ đơn giản là một gương sáng siêu phàm cho bá tánh, bất kỳ ai cũng có thể bắt chước, tôi tự nhủ với ḷng ḿnh: “Thật có lư - Đấng Giác ngộ đă chỉ vẽ cho chúng ta phương cách làm sao để thức tỉnh được lương tri chúng ta”. Nhưng để làm được điều này cần phải có thời gian, nhiều năm trước khi tôi nhận ra được đây là vấn đề. Cần thiết phải có thời gian, v́ khi ta cố gắng khám phá ra thông điệp của Đức Phật thực sự truyền tải nội dung ǵ, chúng ta phải đối mặt với nhiều cách giải thích hết sức đa dạng khiến ta phải bối rối. Bên phương Tây, có hai quan niêm sai lầm thông thường nhất (ngay cả nơi các học giả tài ba nhất) cho là Phật Pháp, hay giáo lư của Đức Phật chỉ là một triết thuyết thuộc phái hư vô (nihilistic) (Niết bàn chỉ đơn giản là sự hủy diệt), hoặc giả chỉ là một loại chủ thuyết bất diệt nào đó (Niết bàn là một loại thiên đàng không hơn không kém), nhóm kể trên c̣n thêm vào một số biến thể hữu thần nữa (Đức Phật là Thiên Chúa, hay là đại diện hoặc thể hiện cho một vị Thượng đế nào đó). Bên phương Đông, giáo lư nguyên thủy của Đức Phật trải qua nhiều thế kỷ, đă chịu những ảnh hưởng (khó tránh khỏi về mặt lịch sử) của các nền văn hóa và tôn giáo trong quá tŕnh tương quan và lan truyền sang vùng Đông Nam Á như Tây Tạng, Trung Quốc, Đại Hàn và Nhật Bản và như vậy ít nhất bề ngoài mà nói, đă tiếp thu được rất nhiều phát triển dần về mặt tri thức, t́nh cảm và nghi thức không nhằm nḥ ǵ tới Phật Pháp cả. Hơn thế nữa, c̣n có và tiếp tục phải chịu những áp lực về phía những truyền thống Ấn Độ giáo (đặc biệt là những h́nh thức tôn giáo Phệ Đà và Upna) buộc phải quay trở lại với giáo lư nguyên thủy của nhiều tín lư lạc giáo cho là Brahman (Thiên Chủ)/Atman (Ngă) chỉ là ảo giác thuộc trí tuệ không được giác ngộ. Chính v́ vậy, ngay cả hiện nay, chúng ta vẫn nghe thấy Đức Phật là một vị thần Vishnu giáng trần, và Niết bàn đơn giản chỉ là sự thể hiện danh tánh của Brahman và Atman không hơn không kém.
Đây là lư do tại sao, ngay cả mối quan tâm của tôi về tư tưởng và văn hóa phương Đông quay trở lại từ thời tôi c̣n rất trẻ (tôi đă đọc Yoga Sutras của nhà văn Patanjali – bản dịch tiếng Anh, ngay từ hồi mới hai mươi tuổi, vào năm 1949 và luyện Hatha yoga rất mănh liệt trong hai thập kỷ qua). Trong nhiều năm, tôi vẫn tin Phật giáo chỉ là một h́nh thức Ấn Độ giáo chính thống, và là một phương cách t́m kiếm sự kết hợp mầu nhiệm với một loại thế giơi siêu nhiên nào đó, hoặc giả thể hiện được danh tánh cơ bản giữa linh hồn chúng ta, một Ngă (atman) bất kỳ và một thực tại siêu h́nh mặc nhiên được coi như là một thực thể duy nhất, vĩnh cửu và chỉ là một thực tại duy nhất mà thôi.
Qua bản chất và giáo dục, hiện nay cũng vẫn vậy, tôi đă có rất ít khuynh hướng thiên về một nền thần học duy mộ đạo, cho dù tôi được sinh ra tại Tây Ban Nha, một quốc gia Công giáo. Tôi đă lớn lên trong một môi trường bất khả tri (agnostic), tôi chưa bao giờ được gia nhập và tiếp cận với các trường phái và đại học độc lập tư tưởng tại Thụy Sĩ và Anh quốc. Tuy nhiên tôi hoàn ư thức được sự quan trọng của nền văn hóa Thiên Chúa giáo như là mầm mống quan trọng của nềm văn minh Châu Âu mà tôi đang theo đuổi và đang cố gắng hành động một cách thích đáng để tự trang bị cho ḿnh những nguyên lư, thực hiện và thành quả lịch sử và cả những thảm họa đi kèm, nhưng tôi chưa bao giờ chấp nhận điều đó như là một chân lư sai lạc, hoặc giả như là một nghệ thuật diễn đạt hữu ích, cho là đức tin Thiên Chúa giáo là điều ǵ đó duy nhất và trổi vượt hơn hẳn, hay là một mặc khải thần thánh, thể hóa và c̣n nhiều điều khác nữa. Đây là lư do tại sao, khi c̣n là sinh viên trẻ tuổi, tôi đă quay sang triết học Đông Phương. Nhưng ở đó, như tôi đă đề cập đến ở trên, tôi lại bắt gặp những điều khẳng định về siêu h́nh, thần học, sùng đạo và nghi thức h́nh thức hoàn toàn khác với những ǵ của phương Tây, nhưng theo tôi, về bản chất hoàn toàn không thuyết phục.
Từ giữa những năm 1950, tôi đi du lịch rất nhiều nơi, v́ những lư do chuyên môn tôi đă đến nhiều nơi trên thế giới kể cả Ấn Độ và miền Viễn Đông, tận dụng bất kỳ cơ hội nào để t́m hiểu thêm. Nhưng thời gian không cho phép cũng như không thỏa măn những cam kết chuyên nghiệp của tôi. Chính v́ thế mà những tương quan hoàn toàn mang tính hời hợt và chứa đựng một ư tưởng sai lạc cho Phật giáo chỉ là “một tôn giáo nữa” cho đến khi tôi thực hiện một chuyến đi sang Sri Lanka cách đây mười sáu năm, khi người ta cho tôi một văn bản nhân chủng học Phật giáo dịch từ Kinh Phật Pàli. Đó là tác phẩm về lời của Đức Phật do Thượng tọa Nyanatiloka viết (the Word of the Buddha), một cuốn cách ngay từ lúc đầu được xuất bản vào những năm đầu thế kỷ trước đă trở thành một tài liệu cổ điển và người ta nói về nó: không tài nào ước lượng được biết bao nhiêu người đă được tiếp cận với giáo lư của Đức Phật và đạt đuợc hiểu biết rơ ràng về giáo lư đó nhờ đọc cuốn sách này(1) Chắc hẳn tôi là một trong số những người đó. Khi đọc những lời khẳng định đơn sơ, nhạy cảm, được tŕnh bày bằng một ngôn từ điềm tĩnh và thẳng thắn. Ngay lập tức, tôi như bị cảm kích bởi sự thẳng thắn tuyệt vời v́ tính chất thực tiễn cụ thể nơi giáo lư của Đức Phật. Bằng những ngôn từ cổ xưa, nơi biết bao nhiêu bài thuyết pháp của ngài, thật sự như thể có ai đó lật ngược lại những ǵ đă bị lật úp, vén mở ra những ǵ đă được che dấu từ bấy lâu nay, chỉ đường cho những ai xưa nay đă bị lạc lối, hay đem ngọn đèn soi chiếu vào nơi tối tăm. Để cho những ai có mắt có thể nh́n thấy.
Song song với tác phẩm Lời dạy của Đức Phật, tôi c̣n nhận được một lời khuyên tuyệt vời để đọc tác phẩm: “Trung tâm điểm Thiền Phật giáo” (the Heart of Buddhist Meditation), một tác phẩm Phật giáo cổ điển khác nữa thuộc văn chương Phật giáo thế kỷ hai mươi. Cuốn này chứng tỏ vô cùng quí giá bằng hai cách: trước tiên, qua nội dung cuốn sách, đă làm rơ sự quan trọng trong vấn để tu luyện Phật Pháp (trước tiên và trên hết vẫn là hiểu biết tri thức) trong việc theo đuổi chánh đạo của Đức Phật, và đặc biệt là nhu cầu tối thượng phải luyện tập và phát triển trí tuệ chúng ta thông qua tu luyện có phương pháp về chánh niệm (right mindfulness); thứ đến, thông qua sắc thái và phong cách – trong sáng, không khoa trương mà lại rơ ràng mạch lạc, hoàn toàn không mang tính cách đối đầu, được minh họa bằng những phẩm chất như điềm đạm và ân cần đầy yêu thương, đă gây cho tôi thật cảm kích khi đọc những lời của Đức Phật. Đây là những minh chứng sống động, ngay cả sau biết bao nhiêu thế kỷ về những phẩm chất Phật Pháp đă đem lại cho những ai sống theo Phật Pháp đó. Những phẩm chất đó đă được chứng tỏ hết sức hùng hồn liên quan đến việc soạn ra câu trả lời cho việc nghiên cứu của tôi, giúp tôi đă viết ra những tác phẩm đầu tay và vẫn c̣n tiếp tục t́m kiếm cho đến ngày hôm nay (thêm vào những quan hệ cá nhân) như là những hướng dẫn và chỉ dạy luôn mới mẻ. Tôi cũng xin nói thêm, một vài năm trở đây, những phẩm chất này lại được minh họa cách rơ ràng nơi Thiền sư S.N. Goenka, người đă dạy tôi tất cả những kỷ xảo hành thiền tôi hiện có.
Như vậy đó, các bạn có thể nói, đây là việc “trở lại đạo” của tôi. Tôi chẳng cảm thấy có ǵ mang kịch tính đặc biệt cả. Đây chỉ là một thể hiện lần đầu tiên hàm chứa đôi điều ǵ đó vô cùng kiệt xuất đáng theo đuổi, đôi điều ǵ đó mang ư nghĩa hướng dẫn và tiềm năng thực sự rơ ràng cũng đ̣i hỏi một sự chuyên tâm nghiêm túc. Chính v́ thế tôi đă theo đuổi Phật giáo, tôi đă chạy lại nương nhờ cửa Phật và chuyên tâm lao vào nghiên cứu những điều cơ bản nơi Phật Pháp, đặc biệt là nghiên cứu văn chương Phật giáo nguyên thủy, về điểm này tôi tận dụng được rất nhiều nơi Hội Xuất bản Kinh Phật, cả về nguồn xuất bản hết sức phong phú và những lời khuyên riêng tư mang tính cá nhân vô cùng khả kính của ngài Richard Abeyasekarra quá cố, thư kư danh dự của Hội, tôi vô cùng cảm kích tưởng nhớ đến ngài. Tôi cũng bắt đầu học tiếng Pàli (một ngôn ngữ chuyên môn). Tôi cũng đặc biệt ư thức phải đọc được những nguồn văn bản chính thức (nếu có thể). Từ năm 1975 trở lại đây, tôi bắt đầu theo đuổi những khóa học thiền quán Vipassana dành cho những đạo hữu theo trường phái Miến Điện do ngài U Ba Khin phụ trách(2).
Những hướng dẫn của ngài Ḥa thượng S.N. Goenka tỏ ra hết sức khai sáng, chính nhờ tu luyện thiền quán dưới sự hướng dẫn đầy cảm hứng của ngài, tôi đă bắt đầu sống Phật Pháp hết sức thực tiễn, có nghĩa là tôi bắt đầu tiến từ nhận thức tri thức sang cảm nhận sống động. Chính nhờ vào kinh nghiệm sống đó tôi tiếp tục tiến triển một cách ư nghĩa trong những năm qua và rồi tạo ra nhiều sinh hoạt đầy cảm hứng. Tôi đă cống hiến nhiều thời gian vào đó tuy vẫn tiếp tục nghiên cứu, nhưng cũng đem lại cho tôi nhiều cơ hội để cố gắng truyền đạt cho người khác những ǵ Đức Phật đă giảng dạy, cả bằng viết lách (bài báo, tiểu luận và đôi ba đầu sách) đến tổ chức diễn thuyết và hội thảo. Toàn bộ điều này mới chỉ ở mức độ sơ đẳng, ở bước nhập môn, tôi nói chuyện với tư cách là người đạo hữu nói với những đạo hữu và đặc biệt nói với những người ít kiến thức như tôi trước đó – là những người chỉ cho được một kiến thức không mấy chính xác về giáo lư của Đức Phật, chỉ nhằm giúp họ nhận ra những tương quan sống động của giáo lư đó đối với tất cả chúng ta hiện nay, kể cả ở Đông phương lẫn Tây phương. và những lợi ích vô giá ngay hiện tại này.
Và những lợi ích này xem ra hiển nhiên ngay từ lúc đầu với điều kiện chúng ta cố gắng một cách trung thực, không tự dối ḿnh và với sự kính trọng tối thiểu. Phát xuất từ kinh nghiệm c̣n hạn chế của ḿnh, tôi có thể chứng minh rằng thực hành thiền quán – trung tâm điểm giáo lư của Đức Phật đă giúp ích rất nhiều trong việc phát triển một số phẩm chất tích cực, như thể có được sự thông cảm tốt hơn với chính ḿnh và với người khác, một thái độ cởi mở to lớn hơn và cân bằng hơn – cộng thêm vào giá trị nội tại - thường giúp ích rất nhiều trong mọi t́nh huống hàng ngày. Và trên hết, nó c̣n giúp khởi sắc nền an b́nh nội tâm. Đương nhiên, vẫn c̣n rất nhiều điều phải làm; đặc biệt là nhiều bất kiên nhẫn và giao động cần phải loại bỏ. Nhưng kết quả thật rất đáng khích lệ như thể đôi ba lần tôi nói với vợ tôi khi bà xin tôi hăy b́nh tâm trở lại: “Anh đâu có biết em c̣n bị giao động đến chừng nào nếu em không thực hiện hành thiền!”
Lẽ đương nhiên, một điều hết sức cơ bản lúc nào cũng cần phải ghi nhớ: hành thiền chẳng phải là điều chúng ta thực hành trên không. Chỉ một số lần cụ thể nào đó, không liên quan ǵ tới điều chúng ta thực hiện trong những thời gian c̣n lại, hay chúng ta thực hiện như thế nào. Như tôi đă viết ở đâu đó, ba lănh vực chính thuộc Bát Chánh Đạo đă tạo thành phương thuốc chữa trị đau khổ, đó là kỷ luật, thiền giục thần túc (concentration) và luyện tuệ giác có liên hệ mật thiết với nhau và cùng hành động đồng thời với nhau. Ta không thể đắc thủ được Tuệ giác nếu thiếu hành thiền. Tuy nhiên thiền đôi khi c̣n tỏ ra vô hiệu (hoặc đôi khi c̣n gây hại rành rành) nếu không đi kèm theo với kỷ luật đạo hạnh. Quả thật, đây là ba khía cạnh của cùng một vấn đề: v́ đối với Đấng Giác ngộ, hành động, hành thiền và tuệ giác chỉ là một và cùng một thứ mà thôi. Những kiểu cách khác nhau thể hiện một lương tâm hợp chung lại mà không mâu thuẫn nhau…. tiển triển xuất hiện thông qua tương tác qua lại của cả ba yếu tố đó: hành thiền, tu luyện đúng cách, trau dồi hiểu biết hay là tuệ giác - mỗi yếu tố không ngừng ư thức được bản chất vô thường và khách quan nơi tất cả mọi sự. Khía cạnh ư thức to lớn này lẽ đương nhiên có ảnh hưởng lớn đến hành vi của ta, đến lượt nó, sự tinh khiết to lớn nơi hành vi con người, nơi bất kỳ điều ǵ con người ấy thực hiện, ăn nói, suy nghĩ đều tạo ra một nền tảng tốt đẹp hơn cho hành thiền. Như vậy sự tăng triển tiệm tiến được thiết lập trong đó đạo đức, hành thiền và tuệ giác tăng triển ngày càng hoàn hảo hơn và càng ḥa nhập tốt hơn, cho đến một thời điểm nào đó sẽ ḥa nhập vào đạt đến giác ngộ(3).
Đối với đa số chúng ta, sự ḥa nhập toàn bộ vào giác ngộ không diễn ra suông sẻ chính xác đâu. Nhưng bất kỳ cố gắng khiêm tốn nhất hướng về vấn đề đó kèm theo với hiểu biết thích hợp và thận trọng cần thiết, đều đem lại những hiệu quả rất có lợi cho hành vi của mỗi người chúng ta và do đó cũng mang lại lợi ích cho nhiều người khác nữa, chắc hẳn sẽ không c̣n một viễn tượng nhạy cảm và phấn khởi hơn dưới ánh sáng mặt trời này hơn là theo đuổi Phật Pháp vậy.
Ghi chú:
1. “Đại Ḥa thượng Nyanatiloka. Cuộc đời và sự nghiệp” (Nyanatiloka Mahathera. His Life and Work) do Ḥa Thượng Nyanaponika viết trong tác phẩm Byanatiloka Centenary Volume (do Hội Xuất Bản Phật Giáo, Kandy phát hành, 1987, tr. 15)
2. Viện Thiền Quán Quốc Tế, Dhammagiri, Igatpuri 422. 403 (Dist. Nasik) Maharastra, India. Đây là trung tân thế giới. Lại có các trung tâm quốc gia hay chỗ quan hệ tại Úc, và nhiều quốc gia Âu Châu, Anh quốc và Hoa Kỳ.
Tranquility and Insight, Do Sole-Leris (nhà xuất bản Century Hutchinson, Lodon. Và Shambhala, Boston, 1986) các tr. 19-20