PHẬT TỬ CÓ CẦN ĂN CHAY KHÔNG?
Nguyên tác : "Are all Buddhists vegetarians?",
Tác giả:John Kahila
Dịch giả: Tỳ Kheo Thiện Minh
Giới thiệu: Ông John Kahila là một cư sĩ người Mỹ. Ông là một trong những người đầu tiên sáng lập diễn đàn Phật giáo "talk religion buddhism" trên mạng Internet.
Tất cả các Phật tử đều "ăn chay trường" có phải không?
Không phải thế. Giới luật đầu tiên chỉ khuyên chúng ta kiềm chế đừng sát sanh, nhưng ăn thịt không xem là sát sanh, và kinh Phật không cấm chúng ta ăn thịt (Ở đây, chủ yếu là chúng ta đề cập đến kinh điển Pali. Một số kinh Bắc tông, nhất là Kinh Lăng Già- Lankavatara Sutra, lại hết sức ủng hộ thực hành việc ăn chay. Xin xem phần ghi chú ở cuối bài).
Theo như ghi chép trong kinh tạng Pàli, Đức Phật không cấm sử dụng thịt, kể cả các vị Tăng Ni nữa. Thực vậy, Ngài đă dứt khoát bác bỏ lời đề nghị của Devadatta (Đề bà đạt đa) bắt buộc chư tăng ni phải "ăn chay trường". Nơi các xă hội thuộc hệ phái Phật giáo Nam Tông hiện nay, một vị tỳ kheo nào bám víu lấy việc ăn chay để gây uy tín nơi người khác là ḿnh có tinh thần siêu nhiên vượt trội hơn người khác th́ xem như vi phạm giới luật tu sĩ.
Mặt khác, Đức Phật đă nghiêm cấm thẳng thừng việc sử dụng các loại thịt của bất kỳ con vật nào đă được mắt thấy, tai nghe và không nghi ngờ ǵ con vật đó được giết mổ rơ ràng là để thết đăi các vị Tăng Ni (Kinh Jivata, Trung Bộ 55). Giới luật này chỉ áp dụng cho các vị tăng ni mà thôi, nhưng cũng được xem như là một hướng dẫn hợp lư cho các cư sĩ sùng đạo.
Để hiểu rơ cách tiếp cận "lư Trung đạo" này về việc ăn thịt, chúng ta cần phải nhớ là vào thời Phật Thích Ca chưa có các "Phật tử". Lúc đó, chỉ có các khất sĩ chia thành nhiều loại khác nhau (kể cả các môn đệ của Đức Phật), cộng với những người cư sĩ là những người bố thí cúng dường mà không quan tâm đến nhăn hiệu của các loại giáo lư.
Nếu người chủ nhà cố ư chọn thịt là thực phẩm để bố thí, th́ các vị khất sĩ đó cũng phải nhận, không được phân biệt hay tỏ vẻ không hài ḷng ǵ cả. Từ bỏ của bố thí như vậy có thể xúc phạm đến ḷng mến khách và có thể làm mất đi cơ hội cho người chủ nhà được tạo phước và cũng không mang lại lợi ích ǵ cho con vật v́ nó đă chết. Ngay cả những người Kỳ na giáo có lẽ cũng đă có cùng một quan điểm tương tự như vậy ở cùng một thời kỳ lịch sử, mặc dù giáo lư Vô hại (Ahimsa) rất nghiêm khắc.
Ăn chay không phải là nguồn gốc những bất đồng nghiêm trọng trong Tăng đoàn (Sangha), cho đến khi có xuất hiện các cộng đồng tu sĩ trú ngụ tại những nơi cố định và họ không c̣n thực hiện việc đi khất thực tŕ b́nh. Tại các cộng đồng đó, bất kỳ loại thịt nào do các Phật tử mang cúng cho Tăng Ni, rất có thể là từ thú vật bị giết, đặc biệt cho mục đích đó. Đó là một lư do của sự khác biệt trong quan điểm giữa hai phái Bắc Tông và Nam Tông về việc ăn thịt - sự phát triển của các cộng đồng tu sĩ thường trú tại một nơi cố định, chính yếu xảy ra trong Bắc Tông.
Vấn đề ăn thịt đưa đến các câu hỏi khó khăn về đạo đức. Phải chăng thịt bày bán ở các siêu thị và các nhà hàng được giết mổ "nhằm" phục vụ chúng ta? Phải chăng ăn thịt là gián tiếp giết hại?
Rất ít người trong chúng ta có đủ tư cách để phán quyết những người ăn thịt hoặc bất kỳ người nào khác v́ tội "ủy nhiệm sát sanh" (killing by proxy). Bởi v́ chúng ta đang dự phần trong nền kinh tế toàn cầu, và điều này đưa đến "ủy nhiệm sát sinh" trong mọi tác động tiêu thụ của chúng ta. Điện khí chúng ta dùng để chạy máy vi tính là bắt nguồn từ những phương tiện đang làm hủy hoại môi trường. Những cuốn sách về kinh điển Phật được in trên giấy do một công nghệ đang phá hủy môi trường sống của thú rừng. Sâu bọ, côn trùng, các loài gặm nhấm và nhiều động vật khác đă bị giết một cách đều đặn, hàng loạt trong quá tŕnh sản xuất những nguyên liệu cho các loại thực phẩm chay. Đối với đa số trong chúng ta, thật không thể nào thoát ra khỏi mạng lưới này. Chúng ta chỉ có thể cố gắng có ư thức về những vướng mắc này mà thôi. Chỉ có một cách thực hiện điều này, đó là suy gẫm về sự đau khổ và chết chóc của các sinh vật đang phải cống hiến cho các tiện nghi của chúng ta. Điều đó có thể giúp chúng ta bớt thiên về sự tiêu thụ lăng phí đơn thuần do ḷng tham lam thúc đẩy.
Ngoài tất cả những ǵ đă được nói ở trên, một điều không thể chối căi được là cỗ máy kinh tế sản xuất ra thịt cũng đă gây ra biết bao nhiêu sợ hăi và đau khổ cho một số lớn các súc vật. Thật ích lợi biết bao nếu ta ghi nhớ điều đó ngay cả khi chúng ta sử dụng thịt, để chống lại sự phát triển của tinh lănh đạm, chai ĺ trong tâm chúng ta. Nhiều Phật tử (đặc biệt những người theo phái Bắc Tông) hành tŕ "ăn chay trường" như là một phương thế để vun bồi ḷng bi mẫn. Kinh Jivaka có gợi ư chúng ta có thể thực hành "ăn chay" bắt đầu bằng một trong bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả). Một điều đáng chú ư là ḷng từ ái, không phải ḷng bi mẫn, đă được đề cập đến trước tiên trong kinh Jivaka đó.
Nếu bạn đang quan tâm thực tập "ăn chay" lần đầu tiên, chúng tôi đề nghị bạn hăy bàn thảo với một vài người đă có kinh nghiệm trong lănh vực này. Có nhiều vấn đề cần phải được xem xét, liên quan đến sự cân bằng trong dinh dưỡng, v.v...
Ghi chú:
Kinh Lăng Già-Lankavatara Sutra, mặc dù đă ghi lại những lời dạy của Đức Phật tại đảo Lanka (Sri Lanka), chủ yếu là một tác phẩm thuộc giai đoạn phát triển trường phái Bắc tông sau này. Theo giáo sư H. Nakamura (Indian Buddhism, 1987), có nhiều phiên bản của bộ kinh này, và nội dung các phiên bản có phần khác nhau. Đa số các học giả đều kết luận rằng có lẽ kinh này được biên soạn vào những năm 350-400 Tây lịch. Thêm vào đó, theo nhà thiền sư nổi tiếng của Thiền tông Nhật Bản, ông D.T. Suzuki (trong cuốn "The Lankavatara Sutra - A Mahayana Text", 1931), chương đề cập đến "Ăn Thịt" trong bản kinh có lẽ mới được thêm vào sau này trong các phiên bản kế tiếp. Ông cũng đồng ư rằng bộ kinh này không phải là những lời do chính Đức Phật nói ra, nhưng được biên soạn về sau bởi các tác giả vô danh, dựa theo triết lư Bắc tông.