phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Gương Tăng Ni

Hòa thượng Thiền sư Kim Triệu

Ngày đăng tin: 7 năm trước
(26/5)
Tôi sinh năm 1930 tại làng Phương Thạnh, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình Phật tử thuần thành. Do cha mẹ mất sớm và được duyên may tiếp cận với các sư nên tôi xuất gia Sa di lúc 17 tuổi
Hòa thượng Thiền sư  Kim Triệu
PV: Xin Thiền sư giới thiệu về bản thân và những thành tựu của bản thân Hòa thượng trong quá trình tu tập và học hỏi giáo pháp của đức Phật?
Hòa thượng Kim Triệu: Tôi sinh năm 1930 tại làng Phương Thạnh, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình Phật tử thuần thành. Do cha mẹ mất sớm và được duyên may tiếp cận với các sư nên tôi xuất gia Sa di lúc 17 tuổi, kể từ khi xuất gia tôi có ý thích tìm hiểu và học tiếng Pāli. Năm 1949 thọ Cụ túc giới, xuất gia tỳ khưu tại Cao Quý Tự, làng Phương Thạnh, tỉnh Trà Vinh với pháp danh là Khippapañño (có nghĩa là Thiện Trí) nhưng phật tử thường gọi là Sư Pañño, hoặc sư Kim Triệu.
Năm 1950-1955, tôi lên học đạo tại chùa Giác Quang, bến Bình Đông, Chợ Lớn.
Năm 1957-1958 nhận bằng cấp danh dự sơ đẳng Pāli và bằng Trung cấp Phật học, cũng trong thời gian đó tôi có tham gia dạy giáo lý tại Bình Định và tại Gia Định, thành lập đoàn thiếu nhi phật tử để dạy kinh điển và giáo lý cho các em. 
Năm 1962-1964, tôi lên tu học tại chùa Bửu Quang quận Thủ Đức.
Năm 1964 tôi lên đường sang Ấn Độ tu học với phần học bổng của Viện Đại học     Nalanda .
Năm 1970 đỗ bằng Pāli Acharya (giáo sư dạy môn Pāli), bằng B.A. Phật Học, và bằng M.A. Pāli. Sau đó, tôi theo học tiếp lớp Cổ sử Ấn Độ tại Đại Học Maghadha.
Năm 1974 tôi sang Thái Lan hành thiền 6 tháng
Năm 1975-1979 tôi sang Nepal, gần thành phố Kathmandu, thời gian này tôi làm phụ tá cho Tổng Thư ký Trung tâm Thiền định Quốc tế tại Bồ Đề Đạo Tràng. Ở đây tôi được theo học với nhiều vị Thiền sư nổi tiếng tại Ấn Độ.
Năm 1980, tôi sang Miến Điện thực hành pháp Tứ niệm xứ dưới sự hướng dẫn của Ngài Đại đức Mahasi Sāyadaw .
Năm 1981 được mời sang hoằng pháp tại Hoa Kỳ và từ năm 1982 đến nay theo sự thỉnh mời của các tự viện tại Hoa Kỳ tôi thường xuyên tổ chức các khóa thiền 10 ngày.
Năm 1990-1992 tôi sang Pháp mở những khóa thiền tại Thích Ca Thiền viện và các vùng phụ cận. Năm 1994 theo lời thỉnh cầu của Thượng tọa Bửu Chánh trụ trì Thiền viện Phước Sơn, tỉnh Đồng Nai, tôi đã về lại Việt Nam và hướng dẫn nhiều khóa thiền tại đây.
PV: Xin Thiền sư cho biết trong quá trình tu tập và hoằng pháp tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài Hòa thượng đã xây dựng bao nhiêu chùa và thành lập bao nhiêu đạo tràng?
Hòa thượng Kim Triệu: Thời gian tu học tại Việt Nam, tôi đã tham gia xây dựng chùa Giác quang, bến Bình Đông quận 8. Tại Ấn Độ phụ giúp việc xây cất Trung tâm Thiền định Quốc tế tại Bồ Đề Đạo Tràng và thiết lập nhiều đạo tràng tu tập khác tại Ấn Độ, Pháp và Hoa Kỳ, riêng tại California từ năm 1988-1997 tôi tham gia sáng lập ngôi chùa Thích Ca Thiền viện và mỗi mùa đều có tổ chức một khóa thiền.
PV: Thưa Hòa thượng Ngài được duyên may học hỏi phương pháp Thiền định với nhiều thiền sư nổi tiếng tại Thái Lan, Ấn Độ và Miến Điện vậy Hòa thượng chọn theo phương pháp thiền nào?
Hòa thượng Kim Triệu: Thiền của Phật giáo thì có 2 loại đó là thiền chỉ và thiền quán xoay quanh hai chủ đề chính là Danh và Sắc trên 4 đối tượng Thân, Thọ, Tâm và Pháp. Mỗi vị thiền sư trong nước cũng như nước ngoài đều sở trường về một phương pháp thiền. Chẳng hạn Hòa thượng thiền sư Ledi Sayadaw chuyên về niệm thân, Ngài Goenka chuyên về niệm thọ, Hòa thượng Sewmin chuyên niệm tâm v.v...Theo tôi khi hướng dẫn hành thiền thì tôi thường phối hợp các phương pháp như niệm thân trước, khi nào tâm phóng thì niệm tâm, nghe đau nhức thì niệm thọ v.v... Với phương pháp này thì không nhất thiết bám sát 4 đối tượng mà tùy lúc vì bốn đối tượng này thuộc dạng vô thường, thay đổi liên tục và phương pháp này còn được áp dụng trong các đại oai nghi và các tiểu oai nghi.
PV: Hòa thượng có những nhận xét gì về phong trào hành thiền tại Việt Nam và sinh hoạt về thiền của Phật tử Việt Nam?
Hòa thượng Kim Triệu: Ở Việt Nam thiền Tứ niệm xứ được phổ biến rộng rãi trong những năm gần đây, qua việc giao lưu văn hóa Phật giáo thế giới và theo sự thỉnh mời một số nhà sư Việt Nam đang là du học tăng ở nước ngoài như Ấn Độ, Myanmar và Srilanka hay Thái Lan, một số thiền sư nước ngoài được mời về Việt Nam để tổ chức các khóa dạy thiền ngắn ngày cho phật tử khắp 3 miền có cơ hội tu tập, cũng như các hành giả thiền sinh Việt Nam sang các nước quốc giáo để tu tập và học thiền Tứ niệm xứ tại các trường thiền nổi tiếng. Tôi nhận thấy phật tử Việt Nam có một tầm hiểu biết rộng hơn, biết tìm hiểu, biết khám phá so với phật tử nước khác thì có phần trội hơn. Phật tử Việt Nam muốn học cả 4 phương pháp trong Thiền minh sát chứ không riêng một phương pháp nào do vậy phương pháp phối hợp mà tôi áp dụng rất khế hợp với nhu cầu tầm đạo của phật tử Việt Nam.
PV: Xin Hòa thượng cho biết tác dụng của Thiền đối với cuộc sống của mọi người trong xã hội hiện nay?
Hòa thượng Kim Triệu: Thiền do đức Phật chỉ dạy không phải chỉ dành riêng cho giới tu sĩ mà là cho tất cả mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội. Đây là một phương pháp để sống và phát triển trí nhớ trong chánh niệm. Theo tôi thì có 4 loại trí nhớ
1. Trí nhớ bình thường.
2. Trí nhớ phân biệt rõ: tóc, răng, da, lông, móng v.v...
3. Trí nhớ ghi nhận điều gì xảy ra trong hiện tại.
4. Trí nhớ ghi nhận và theo dõi sự suy nghĩ của mình.
Đức Phật dạy chúng ta sống sao cho chính xác, mà con người thường nhầm lẫn và hay đánh giá qua hiện tượng, màu sắc và không chấp nhận hiện tại, hình thành một nếp sống thiếu thực tế. Thiền tập có khả năng giúp mọi người tránh được những biến đổi tâm lý sâu xa trong cuộc sống, biết bình tĩnh đối phó và vượt qua nghịch cảnh.   
PV: Xin Hòa thượng cho một vài lời khuyên đối với giới trẻ ngày nay để đối phó với cuộc sống hiện đại dưới ánh sáng Phật pháp?
Hòa thượng Kim Triệu: Mọi người sống trong xã hội thường sống bằng hai con mắt: mắt đời và mắt đạo. Khoa học tiến bộ dần dần chứng minh lời dạy của đức Phật thành thực tế. Con người chúng ta sống cần có 2 loại trí tuệ
- Trí tuệ đời: để sáng suốt nhận định và điều chỉnh mình giữa những xa hoa phù phiếm và cám dỗ của thế giới vật chất, không sa đà và không bị hòa tan trong thế giới đó.
- Trí tuệ đạo: là biết chọn cho mình một đời sống tâm linh thuần khiết để sống thuận theo lẽ tự nhiên của vũ trụ vận hành.
Sự sống của một cá nhân là biết kết hợp hài hòa giữa tâm linh và vật chất, giữa đời và đạo thì rất tốt, vì tâm mà không cần vật chất thì vẫn đau khổ, vẫn bị dằn vặt và xốn xang, trái lại vật chất mà không có tâm cũng rất đau khổ đôi lúc trở thành bất nhân như ta thấy tình hình thế giới ngày nay.
Con người ở thành phố luôn luôn ra ngoại thành vào những ngày cuối tuần để thư giãn, tham quan, vãn cảnh chùa để giải phóng tâm mình khỏi những bức xúc của cuộc sống đô thị. Giới trẻ cần nên tìm hiểu lời Phật dạy qua Kinh Pháp cú chẳng hạn để biết cách thanh lọc tâm mình, tự sửa đổi và sống cho thanh thản trước những biến đổi của thế giới vật chất đến chóng mặt này.
PV: Xin cám ơn Hòa thượng Thiền sư đã dành chút thời gian qúy báu để chia sẻ cùng độc giả về lĩnh vực tu thiền. Kính chúc Hòa thượng nhiều sức khỏe để xiển dương giáo pháp của Đức Thế Tôn được viên mãn.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang