" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Q-R-S-T

Trầm luân

Ngày đăng tin: 5 tháng trước
(5/1)
Tôi xin giới thiệu cuốn The Four Cankers trong đó Đại Đức T.H. Perera đã trình bày rõ ràng những nguyên nhân lôi cuốn chúng sanh đắm chìm trong biển khổ TRẦM LUÂN, điều mà hầu hết chúng ta đang thắc mắc, tìm kiếm.
Trầm luân



 

PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ

THERAVĀDA”

-------

 

 

 

TRẦM LUÂN

(ĀSAVA)

 

 

T.H. PERERA

 

T.H. PERERA

 

 

 

 

NAMO TASSA BHAGAVATO

ARAHATO

SAMMASAMBUDDHASSA

 

Tôi xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn Ứng Cúng, Chánh Biến Tri

 

Người dịch: Tỳ Khưu VIÊN MINH

 

Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thuỷ V.N

Trưởng Ban Phiên Dịch

THITASILO Mahā Thero


LỜI NÓI ĐẦU

________

 

Là chúng sanh ai cũng chịu đắm chìm trong đau khổ, nhưng mỗi người có một thái độ khác nhau trước cùng một hoàn cảnh: “Có người chấp nhận khổ đau như một điều kiện bất khả kháng, nên “cũng liều nhắm mắt đưa chân” trước cái mà họ cho là thiên mệnh. Như thế vẫn còn hơn một số người khác chịu quá nhiều bất hạnh đã từ lo âu, sợ sệt đâm ra bất mãn xã hội, oán thù những kẻ sống quanh mình. Trong khi các bậc thiện trí thức có thái độ khác hẳn, họ dùng chính đau khổ làm bàn đạp để vươn lên, làm chất liệu để rèn luyện những đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Tích cực hơn ai hết, người Phật tử không phó mặt cho định mệnh, mà cố gắng tìm xem mối liên quan nhân quả của những khổ đau để diệt trừ mầm mống đau khổ; không than van, oán trách vì biết rằng hạnh phúc hay đau khổ đều bởi chính ta gây nên (C’est par soi qu’on esiheureux, c’est par soi qu’ on est malheureux).

Thái độ khác nhau như thế dĩ nhiên đưa đến kết quả khác nhau, đúng như H.D. Balzac nói: “Cảnh khổ là nấc thang của bậc anh tài, một kho tàng cho người khôn khéo, nhưng là một vực thẳm cho kẻ yếu đuối”.

Tôi xin giới thiệu cuốn The Four Cankers trong đó Đại Đức T.H. Perera đã trình bày rõ ràng những nguyên nhân lôi cuốn chúng sanh đắm chìm trong biển khổ TRẦM LUÂN, điều mà hầu hết chúng ta đang thắc mắc, tìm kiếm.

Kỳ Viên Tự, mùa An Cư 2513

Tỳ Khưu VIÊN MINH

                                                                                   

           


 

“Từ bỏ tham lam - sân hận - si mê, các bậc A La Hán không còn bị nhiễm hại nữa”[1]

- Samyutta Nikaya, Sakka Samyutta XI, 2, 9

 

Vào canh ba đêm trăng tròn tháng Vesak, Đức Phật đã giác ngộ được rằng: “Đây là hoặc lậu…đây nguyên nhân gây ra các hoặc lậu…đây là sự dập tắt các hoặc lậu…đây phương pháp dập tắt các hoặc lậu. Nhận thức như thế, liễu ngộ như thế, tâm Như Lai đã giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Đang giải thoát, Như Lai biết mình giải thoát…Đời sống phạm hạnh (Brahmacariya) đã viên mãn rồi, những gì phải làm Như Lai đã làm rồi, không còn kiếp sống nào sau kiếp này nữa…” (Maha saccaka sutta, majjhiman No 36).

Trong đoạn kinh trên cho ta thấy ba pháp trầm luân là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Ở đây hữu lậu bao hàm cả kiến lậu.

Từ ngữ “đang giải thoát” có nghĩa là liễu đạo và “đã giải thoát” là đắc đạo. Hai ý nghĩa khác nhau đó đưa đến sự phân biệt giữa hai bậc Thánh: bậc hữu học (Sekha) và vô học (Asekha).

Hữu học là những bậc đã thuần thục trong giới (sīla), định (samādhi), huệ (paññā) và đã đắc Tu Đà Hoàn đạo, Tu Đà Hoàn quả (Sotapana); Tư Đà Hàm đạo, Tư Đà Hàm quả (Sakadāgāmi); A Na Hàm đạo, A Na Hàm quả (Anāgāmi); và A La Hán đạo (Arahattamagga). Vô học là bậc đã hoàn toàn thanh tịnh trong quả vị A La Hán (Arahattaphala).

Tám bậc Thánh này đã được Đức Phật tán dương trong kinh Ratana sutta: “Ye puggalā aṭṭhasatam pasatthā cattāri etaṃ yugāni honti te dakkhineyyā sugatassa sāvakā, etesu dinnāni mahapphalāni, idam pi Sarighe ratanaṃ paṇītaṃ”.

“Đó là tám bậc đã được các hàng thiện trí ca ngợi, bậc xứng đáng thọ lãnh vật cúng dường, bậc thinh văn đệ tử của Như Lai. Những sự cúng dường đến các Ngài sẽ được nhiều quả phúc. Trong hàng Tăng chúng, các Ngài là trân châu quí báu”.

Không ai trong chúng ta có hy vọng vượt khỏi những dòng nước xoáy nguy hiểm trong biển trầm luân sinh tử, trừ phi và cho tới khi nào chúng ta an trú trong chín pháp xuất thế (Nava lokuttara dhamma) tức là tám bậc Thánh và Niết Bàn.

Trong kinh Mahā Mangala Sutta tri ân (Kataññutā) được coi như một trong những điều hạnh phúc cao thượng. Đức Phật nổi bật hơn tất cả những ai đáng cho ta đặt lòng tri ân và tôn kính. Hình thức cao nhất của lòng biết ơn đối với Ngài là thực hành Bát Chánh Đạo để đạt đến Niết Bàn. A La Hán là chiến thắng vẻ vang cuối cùng của những hành giả đã từng dày công phấn đấu để đạt đến mục đích tối hậu trên con đường Bát Chánh.

Cũng cần ghi nhận ở đây một điểm là A La Hán hay giải thoát sinh tử đồng nghĩa với Niết Bàn, và quả vị A La Hán chỉ chứng đạt được khi nào các hoặc lậu đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Không phải không có lý do để quả quyết như vậy; trong kinh Dhammapada (93), Đức Phật dạy:

Yassāsavā parikkhīnā – Āhāre anssito

Suññato anmitto ca – Vimokkha yassa gocara

Ākāse’va sakuntānaṃ – Pādaṃ tassa durannayaṃ.

“Người nào đã dứt bỏ các hoặc lậu, không tham đắm uống ăn và an trú trong cảnh giới “Không, vô tướng, giải thoát”[2] bước chân người không để lại dấu vết như chim bay trên hư không”.

Ai đang miệt mài tìm cách thoát ly dòng khổ não triền miên của bể sinh tử, luân hồi sớm muộn gì cũng phải vượt qua những dòng nước lũ đang lôi cuốn chúng sinh chìm đắm trong hố sâu thăm thẳm của cuộc đời. Những dòng nước lũ đó chính là bốn pháp trầm luân[3].

1/- Dục lậu (Kāmāsava)

2/- Hữu lậu (Bhavāsava)

3/- Kiến lậu (Diṭṭhāsava)

4/- Vô minh lậu (Avijjāsava)

 


 

THẾ NÀO LÀ HOẶC LẬU

            Hoặc lậu là những điều ô nhiễm trong tâm làm trở ngại bước tiến của chính tâm hồn trên đường đi đến giải thoát. Về phương diện cảnh giới, chúng ảnh hưởng đến cả cõi Phạm Thiên cao nhất, tức là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (N’eva saññā – N’āsaññā yatassa). Về phương diện tâm lý, chúng chế phục được mọi hiện tượng nội giới ngoại trừ Thánh Tuệ (Gotrabhū ñāna).

            Theo nguyên ngữ Āsaya (A*Su*A) có nghĩa là chảy, rỉ ra (lậu) như nước rỉ ra ở những vết rạn nứt của bình chứa. Hình ảnh cụ thể đó cho ta hình dung được những ô nhiễm, mê loạn trong tâm (hoặc) đang rỉ ra từ lục căn bất tịnh.

            Một người say rượu, mất hết tư cách đã làm nhiều điều có phương hại đến xã hội, thì tế nhị hơn, người bị các hoặc lậu chi phối không còn biết ghê sợ và hỗ thẹn tội lỗi. Họ làm hại không những hạnh phúc của tha nhân mà còn hạnh phúc của chính mình nữa.

            Tóm lại, hoặc lậu có khả năng kéo dài vòng luân hồi khổ não mà muốn chấm dứt mỗi cá nhân chứ không ai khác phải tự mình cố gắng tiêu diệt những ô nhiễm ấy. Đức Phật chỉ là người vạch cho ta phương pháp mà thôi. Tin ở sự cứu rỗi của một Đấng Tạo Hoá siêu nhiên nào đó hay bím tóc, mặc da cọp, đày thân đọa thể cũng chẳng ít gì. Đức Phật dạy rất minh bạch trong kinh Dhammapada (394) rằng:

            Kim te jatāhi dummedha?

            Kim te ajina sātiyā?

            Abbhantaraṃ te gahanam

            Bahiraṃ parimajjasi?

            “Người ngu bím tóc, mặc áo da thú [4] nhưng trong lòng dẫy đầy tham đắm thì dáng bề ngoài ấy nào có lợi ích gì?”

 

DỤC LẬU (KÀMÀSAVA)

-   Ái dục sinh ra phiền muộn, ái dục sinh ra lo sợ xa lìa hết ái dục tức không còn phiền muộn, lo sợ nữa.

Dhammapada 216

-   Dòng ái dục tuôn chảy như loài cỏ dại nảy mầm và lan tràn khắp nơi. Người hãy xem giống cỏ ấy nảy nở mà dùng trí tuệ đoạn trừ mầm mống ái dục.

Dhammapada 340

 

Dục lậu là lòng tham muốn những khoái lạc nhục dục. Tham dục có hai khía cạnh: Muốn hưởng thụ những khoái lạc thuộc phạm vi giác quan (căn) và đam mê theo những cám dỗ của trần cảnh như sắc, thinh, hương, vị, xúc. Chúng sanh say sưa theo trần cảnh để rồi không còn giữ gìn được các căn của mình và hành động như những kẻ điên cuồng để mặc cho các căn đắm chìm trong trần cảnh. Lòng ái dục không bao giờ chán nản, nay đây mai đó cố tìm cho được khoái lạc trong những môi trường mới. Khi chết, tâm của họ mê loạn trong những tham muốn ấy và hẳn nhiên tâm mê loạn này sẽ chuyển sang một tâm thức thích nghi trong bốn đường ác đạo. Ở đây, không còn biết ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi, họ sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, dối trá…không một chút ăn năn hối hận.

Nguyên nhân sinh ra dục lậu là nhận thức sai lầm trên đối tượng của các căn; xem vô thường là vĩnh cửu, đau khổ là hạnh phúc và vô ngã là ngã. Do đó dục lậu chỉ bị tẩy trừ khi ta biết nhận thức chân chánh, nghĩa là nhìn thẳng vào chân tướng của sự vật cũng như kiểm soát giác quan để xem đâu là xấu xa, đâu là tội lỗi.

 

Đức Phật dạy: “Điều kiện để ngăn chặn những dục vọng chưa phát sanh và diệt trừ các dục vọng đã phát sanh là chánh tư duy về tính chất nguy hại của căn và trần”. Đó là công tác khó khăn dành cho Thiền định, vì Thiền định (Jhāna) có nghĩa là lánh xa dục vọng (Vicceva kāmehi).

Trong một đoạn kinh khác, Đức Phật khuyên:

Jhāna Bhikkhumàca panādo

Mā te kmagàuṇe bhamassu cittaṃ

Mā lohaguḷaṃ gili pamatto

Mā kandi dukkhaṃ idaṃ ti ḍayhamāno

Này các thầy Tỳ Khưu, hãy hành thiền định, đừng buông lung, đừng đắm say theo ái dục. Đừng đợi đến khi nuốt hòn sắt nóng (địa ngục) mới kêu than đau khổ.

 

 

 

HỮU LẬU (BHAVĀSAVA)

Hữu lậu là mong muốn được tồn tại (Bhava taṇhā) trong Sắc giới và Vô Sắc giới (Rūpārūpa loka). Đó chính là Thường kiến (Eternity belief) của các môn đồ Thần Khải Luận, họ tin vào một linh hồn vĩnh cửu. Trái với thường kiến, đoạn kiến lại cho rằng linh hồn hoàn toàn huỷ diệt sau khi chết và không có tái sanh: Biện thuyết của những người theo chủ nghĩa duy vật. Đức Phật bác bỏ cả hai biên kiến trên và chủ trương con đường trung đạo đặt nền tảng trên luật nhân quả tự nhiên hay nghiệp: hành động và phản ứng. Hiểu rằng Nghiệp là hành động có chủ ý theo sau bởi một kết quả hay một phản ứng (Vipāka), ta có thể rút ra hệ luận: Tốt (thiện) mang lại quả kết quả tốt, Xấu (bất thiện) đem đến kết quả xấu.

Do đó chính nghiệp đã chi phối sự tái sanh trong sắc giới và vô sắc giới. Một người không bằng lòng với khoái lạc giác quan sẽ cố gắng rèn luyện tinh thần để đạt được Thiền tâm (Samattha, Jhāna). Khi an trú trong thiền định, họ sẽ hưởng được hương vị khinh an và hỷ lạc của Thiền, trạng thái xa lìa nhục dục. Lúc lâm chung nếu còn giữ được một trong bốn sắc giới thiền, chặp tư tưởng cuối cùng sẽ dẫn họ tái sanh vào một Sắc Giới Thiền thích nghi.

Có người lại không bằng lòng với sắc giới thiền tâm, vì nghĩ rằng chừng nào còn xác thân là còn đau khổ, họ hướng đến một giá trị tinh thần cao hơn, viên dung hơn. Dựa trên sắc giới thiền và lấy những đề mục vô sắc làm đối tượng, dần dần họ đắc được vô sắc giới thiền. Nếu lâm chung trong khi còn an trú một trong bốn vô sắc giới thiền, họ sẽ sinh vào một cõi trời thích nghi. Đó là những cảnh giới cao nhất trong tam giới. Ở đây ngoài trạng thái tâm linh không còn một dấu vết vật chất nào tồn tại. Một chúng sanh có thể hưởng nhiều kiếp (Kappa: chừng 4.320.000 năm) trong sắc và vô sắc giới, tuy vậy sau đó họ vẫn phải chịu tái sinh trong dục giới và vẫn phải chịu khổ đau. Vì Hữu ái còn giam giữ chúng ta trong vòng luân hồi sinh tử nên nó được coi là một thứ thuốc độc mà ta gọi là hoặc lậu.

Phật Giáo không mong đạt đến các cõi thiền mà còn vượt xa hơn thế giới hữu kiện đó. Người Phật tử chỉ chấp nhận Thiền như một điều kiện cần để phát triển trí tuệ. Thật vậy, minh sát tuệ (vipassanā) mới là điều tối quan trọng trong Phật Giáo.

 

KIẾN LẬU (DIṬṬHĀSAVA)

Kinh Brahmajāla Sutta (Phạm võng) cho ta thấy vào thời Đức Phật có 62 kiến chấp. Những kiến chấp này ví như một cái lưới mà chúng sanh bị giam giữ bên trong khó có thể thoát ly được. Đó cũng là số phận của bất cứ ai còn bị kiến lậu chi phối. Trong kinh này có một đoạn nói về nguồn gốc Thần Khải Luận. Một vị Phạm Thiên kia sau khi hết tuổi thọ ở Quang Âm Thiên (Abhassaara) đã sinh vào một Phạm Cung (Brahmavimānaṃ) trống rỗng. Sống một mình một thời gian khá lâu liền ao ước có chúng sanh khác cùng đến ở. Trong khi ấy nhiều Phạm Thiên khác cũng hết tuổi thị ở Quang Âm Thiên và sinh vào Phạm Cung này. Vị Phạm Thiên trước thấy ước vọng của mình được thành tựu như ý bèn nghĩ rằng: “Ta là Thượng Đế Toàn Năng, Toàn Tri, Biến Nhãn, Chúa Tể muôn loài, Sáng Tạo Chủ, Thượng Tôn, Tổ Phụ của chúng sanh đã và sẽ có”.

Kinh này còn nêu ra nhiều luận thuyết khác nhau, mâu thuẫn nhau về Thượng Đế và vật được sáng tạo về mục đích và địa vị của con người liên hệ với Thượng Đế. Sở dĩ có những kiến chấp bất đồng như thế là vì sự cố gắng xây dựng vũ trụ quan và nhân sinh quan ngoài phạm vi hiểu biết và kinh nghiệm của các luận gia theo lối suy diễn. Những tư tưởng nguy hại này cần phải được xét lại, tu chỉnh lại cho thích hợp với ánh sáng khoa học.

Chân lý là chân lý, không thể phân chia, không thể biến đổi được. Cho nên trái với các lý thuyết gia trên, Đức Phật là bậc Tathāgatha hay bậc “Thực chứng những điều mình dạy và dạy những điều mình đã thực chứng” (Yathāvādi tathākāri yathākāri tathāvādi).

Nhiều người trí thức có thiện ý đã cố gắng hoà hợp, liên kết những phương diện hợp chân lý của tất cả các tôn giáo lại, đó là một điều đáng ca ngợi, nếu như sự cố gắng đó có khuynh hướng ngăn chặn sự bành trướng của vô tín ngưỡng, của cuồng tin hay của những nhà ngụy biện âm mưu biến tà thuyết thành chánh tín. Nhưng chân lý không phải luôn luôn giúp cho bất cứ ai tin nó có thể giải thoát được vì dầu có tin mà không thực hành cũng vô ích. Tôi được biết một vị Giám Mục danh tiếng nói là ngài tin Nghiệp và Bát Chánh Đạo như những giải pháp tối cần cho đau khổ con người, nhưng cuối cùng Ngài vẫn khuyên con chiên “truyền linh hồn Chúa” vào sinh hoạt của họ. Chính linh hồn, bản ngã, vĩnh thể (Eternalentity) này là đích cho những người chủ trương thường kiến hướng đến.

Đức Phật gọi đó là điều trở ngại thứ ba trên đường tiến đến thánh thiện. Kiến lậu bao gồm thường kiến và đoạn kiến. Trong Kinh Māra Samyutta, Samyutta Nikāya IV, 36 Đức Phật dạy:

“Ai nhận được rằng: sắc, thọ, tưởng, hành, thức: Ngũ uẩn không phải là ta, không phải của ta, người ấy sẽ không bị chúng cám dỗ, sẽ được tự tại, thanh tịnh, không bị ràng buộc. Dù ma vương tìm kiếm khắp nơi cũng không sao theo dấu người được”.

Trong tất cả các kiến chấp Hư Vô Luận (Natthikavāda) là điều nguy hại nhất vì nó làm trở ngại không ít cho sự tiến hoá của tinh thần.

Hoàng tử Sāyāsi một trong những người chủ trương thuyết này cho rằng (Digh No23);

1.      Sau khi chết không có tái sinh.

2.      Chúng sanh do cha mẹ sinh ra chứ không có trợ duyên nào khác.

3.      Không có nghiệp, không có thiện ác và quả báo của thiện ác, mọi hành động đều có giá trị như nhau.

Một chủ trương hiện sinh như thế khó có thể chấp nhận được vì hầu hết các nhà Đạo Đức đều công nhận rằng giá trị của các hành vi đạo đức không thể bằng nhau, nghĩa là có hành vi đạo đức cần được phát triển và có hành vi phản đạo đức cần phải xa lánh.

 

VÔ MINH LẬU (AVIJJÀSAVA)

Mal’itthiyā duccaritaṃ

Maccheraṃ dadato malaṃ

Malā ve pāpakā dhammā

Asmiṃ loke paramhi ca

Tato malā mahataraṃ

Avijjā paramaṃ malaṃ

Dhammapada 242, 243

Tà hạnh là vết nhơ của người phụ nữ,

Bỏn xẻn là vết nhơ của sự bố thí,

Tội ác là vết nhơ trong đời này hay đời khác,

Nhưng đối với tất cả vết nhơ ấy,

Vô minh là tai hại hơn hết.

Tính chất hiển nhiên của bợn nhơ là làm hư hỏng, nhiễm hại mọi vật, cả vật chất lẫn tinh thần. Cũng thế, Vô minh ăn sâu vào tinh thần con người, che lấp trí tuệ và làm suy giảm óc phán đoán đến đỗi họ không còn phân biệt được thiện ác, vui khổ, chân giả… không giữ được hành động sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, dối trá v.v… để rồi lúc chết tội ác sẽ dẫn dắt họ vào bốn đường ác đạo.

Đức Phật luôn luôn đề cao trí tuệ và cặn kẽ chỉ cho chúng ta phương pháp diệt trừ vô minh mà chúng ta đang bị lôi cuốn trong vòng luân hồi triền miên. Cho tới bao giờ được ánh đuốc trí tuệ soi sáng và giác ngộ được rằng “đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con đường dẫn đến sự diệt khổ”, bây giờ ta mới có thể chấm dứt được tiến trình thành, trụ, hoại, diệt để vĩnh viễn giã từ cõi đời tạm bợ đầy gian khổ này.

Trong luật Nhân quả liên quan (paticca samuppāda) hay Thập nhị nhân duyên vô minh là điều kiện sinh ra dòng tâm thức của chúng ta. Vì thế, hễ đoạn diệt được vô minh thì dòng tâm thức cũng ngừng lưu chuyển. Một người Phật tử thuần tuý muốn chặn đứng dòng tâm thức chứa chấp đau khổ, hàng ngày phải cố gắng quán xét từng mối dây liên quan nhân quả của thập nhị nhân duyên vì “Người nào thấy được sự liên hệ nhân quả, người ấy thấy pháp, người nào thấy pháp tức là thấy được mối liên hệ nhân quả” (Yo paṭcca samuppādaṃ so dhammaṃ passato, yodhammaṃ passato so paṭicca samuppādaṃ).

Vô minh (Avijjā) và si mê (Moha) là hai danh từ đồng nghĩa. Nhưng theo tôi, hình như có một sự khác biệt rất tế nhị giữa hai từ ngữ này. Một đằng không có khả năng hiểu và thấy, một đằng hiểu và thấy sai chân tướng của vạn hữu, giống như nhìn cảnh vật qua cặp kính màu. Mặt khác vô minh vi tế và tổng quát hơn, trong khi si mê thô thiển và gần như có tính cách đặc thù.

Nhưng dù có sự khác biệt đi nữa, vô minh hay si mê vẫn là tâm sở làm nền tảng cho tham lam và sân hận.

Vô minh nguồn năng lực tiềm tàng trong vòng luân hồi, một mặt làm trở ngại bước tiến của tâm thức một mặt tích trữ các pháp hành (Sarikhāra) để tạo chất liệu mới cho một kiếp sống tái sanh.

Trí tuệ đối nghịch với vô minh, và chính trí tuệ khừ trử vô minh để đưa đến giác ngộ Tứ Diệu đế. Trong kinh Dhammacakkappa avattaṃ Sutta Đức Phật đã cho năm đạo sĩ ở Isipatana thấy hương vị giải thoát qua bài pháp đầu tiên của Ngài: “Tuệ Giác và Tuệ Nhãn đã phát sanh đến Như Lai, tâm giải thoát không còn bị lay chuyển, kiếp này là cuối cùng, từ đây Như Lai không còn tái sinh nữa” (Ñānañca pana me dassanaṃ udapādi akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni punabbhavoti).

Đoạn kinh cho ta thấy Tuệ giác (Ñāna) và Tuệ nhãn (dassana) là hai thứ khí giới sắc bén để đoạn trừ vô minh.

Đến đây ta cần phải ghi nhận một điểm nữa là bốn trầm luân tâm sở vừa kể trên chính là hiện thân của Tham lam, Sân hận, Si mê. Hành giả đắc Bất Lai quả (Anāgāmi) không còn dục lậu; Dự Lưu quả (Sotāpana) không còn kiến lậu, trong khi bậc A La Hán không còn hữu lậu và vô minh lậu nữa.

Trong kinh Samyutta Nikāya, Niết bàn được định nghĩa là sự dập tắt Tham lam, Sân hận, Si mê (Rāgakkhayo dosakkayo, mohakkhayo idam vullati mibbānaṃ). Nói một cách khác, Niết bàn là sự dập tắt hoàn toàn bốn pháp trầm luân bằng trí tuệ siêu việt mà hành giả chỉ đạt được sau khi đi đến tột cùng của con đường Bát Chánh hay Giới, Định, Huệ.

Vì thế, là người Phật tử, không còn chần chờ gì nữa chúng ta hãy bước lên con “Thuyền Bát Chánh” và hãy tự mình chèo theo “trực đạo” mà đức Từ Phụ đã chỉ dạy để sớm thoát khỏi bể khổ trầm luân.

 

 


 

LỜI CẢM TẠ

 

Thưa quí vị,

Chúng tôi thành thật ghi nhận công đức của quí vị đã sốt sắng đóng góp phần pháp thí để ấn tống cuốn TRẦM LUÂN (ASAVA) kịp ngày mãn hạ cũng như cuốn Phật Giáo Một Phương Pháp Luyện Tâm (The Buddhism A Method of Mind Training) trong mùa lễ Vesak 2.513 (Rằm tháng tư - Kỷ Dậu) trước đây.

Do năng lực Pháp thí, chúng tôi thành tâm cầu nguyện đất nước sớm thanh bình cùng Quí vị được luôn luôn an mạnh tinh tấn tu hành và trí tuệ hằng tăng trưởng để thực hiện lý tưởng giải thoát. 

Chúng tôi không quên hồi hướng phước báu pháp thí đến các bậc ân nhân quá vãng của Quí vị, Chiến sĩ trận vong, Đồng bào tử nạn chiến tranh cũng như Đại Đức Tăng quá cố, nhất là Đức Vương Sãi Cao Miên (CHOUN-NAT) và Ngài THIỆN LUẬT.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật.

                                                                                                     

TL. Tăng Thống

Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thuỷ V.N

Tổng Thư Ký

Tỳ Khưu THIỆN DŨNG

 


 

Không lửa nào dữ bằng lửa tham dục!

Không cố chấp nào bền bằng tâm sân hận!

Không lưới nào trói buộc bằng lưới si mê!

Không dòng sông nào đắm chìm bằng dòng sông ái dục!

Dhammapada 251

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giấy phép số: 3997/BTT/NBC/PHNT ngày 27/9/69 



[1] - Nhiễm hại ở đây ám chỉ các pháp trầm luân. Các pháp trầm luân hay hoặc lậu này được coi như thuốc độc mà A La Hán là những bậc đā hoàn toàn tẩy sạch nên không bị nhiễm hại nữa.

[2] - Lời chú thích của Ngài NARADA: Niết Bàn được gọi là GIẢI THOÁT vì đã ra khỏi khổ đau: là KHÔNG vì không còn tham lam, sân hận, si mê, là VÔ TƯỚNG vì không còn vết tích của các hoặc lậu. Niết Bàn là siêu việt thể ngôn ngữ bất khả diễn. Nói rằng các vị A La Hán vẫn còn tồn tại sau khi nhập diệt là sai vì Niết Bàn không phải là bất diệt thể cũng không là Hư Vô; ở đây không có gì để trường tồn cũng chẳng có gì để huỷ diệt nữa.

[3] - Có nhiều danh từ được dùng để chỉ 4 pháp này: Trầm luân, trầm nịch (chìm đắm), hoặc lậu, dòng nước lũ (Ogha) nên có khi người ta gọi là Dục lưu (nước chảy), hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu.

[4] Lối ăn mặc của một số nhà Đạo Sĩ Ấn Độ ngày xưa.

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang