" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 B

Bồ tát đạo và mười pháp ba-la-mật

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Ta cũng nên nổ-lực tích-cự lập công bồi đức để tạo sự an-lành cho ta và cho kẻ khác. Và ta cũng nên chọn lấy lý-tưởng phục-vụ cao cả và toàn thiện để làm mục-phiêu cho đời sống ta.
Bồ tát đạo và mười pháp ba-la-mật


 

NARADA MAHA THERA

---

 

 

BỒ TÁT ĐẠO

Dịch giả: Hồ Đắc Thắng

 

 

MƯỜI PHÁP BA-LA-MẬT

Dịch giả: Phạm Kim Khánh

---

 

 

 

 

 

 

Chùa Kỳ Viên, 610 Phan Đình Phùng, Sagon

2506 - 1962

 

  BỒ TÁT ĐẠO

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Tôi thành kính làm lễ Đức Thế Tôn, Đức Ứng Cúng, Đức Chánh Biến Tri

 

Theo giáo lý của Đức Phật, muốn đạt đạo quả Niết-bàn là mục tiêu cứu cánh, người Phật tử, tùy theo bản tính của mình, có thể chọn một trong ba đường:

a)      Thinh văn giác (Sāvaka Bodhi)

b)      Độc giác (Pacceka Bodhi)

c)      Toàn giác (Sammā Sambodhi)

 

I.          Thinh-văn-giác (Sāvaka Bodhi) là sự liễu-ngộ sáng-suốt do nhờ tuệ giác, thường gọi là A-la-Hán-tuệ. Theo phạn-ngữ Pali, chữ Sāvaka có nghĩa là: người nghe, nghe một người khác giãng dạy Phật-pháp. A-la-Hán là bậc đã diệt-tận vô-minh, ái-dục, đã xa lìa các tội-lỗi, nên thân khẫu ý đều được trọn lành; bậc đáng lễ-bái cúng-dường.

Muốn đạt đạo quã A-la-Hán, phải cố tâm tìm cho gặp một vị Chơn-Sư đã giác ngộ, để nương nhờ và phải có duyên lành mới gặp được. Người có duyên lành là người chánh- kiến, biết phân biệt rõ rệt chánh tà và cố tâm tìm chánh-đạo. Trước một người có tâm-đạo nhiệt-thành và đầy đủ trình-độ nhận-chân lý-đạo như thế, Đức Thầy chỉ thốt một lời chỉ-giáo đơn-sơ; lời ấy có hiệu-lực khai thông trực-giác và đưa ngay đệ-tử mình vào dòng thánh-đạo trong nháy mắt.

    Xưa kia, Đức Xá-lợi-Phất (Sariputta), một thanh-niên thông-minh xuất chúng, nhận thấy đạo-giáo của mình không thích-hợp với chân lý, cố tâm đi tìm chánh-pháp, tình cờ duyên may đưa đến gặp Đại-Đức Assaji, một vị A-la-Hán trẻ tuổi nhất trong nhóm Năm vị Kiều-trần-Như, và ân cần thỉnh-giáo. Vị Thánh-Tăng này thấu rõ căn-cơ của người tìm đạo, liền thốt ra một câu vắn-tắt: “Vạn vật đều có nguyên nhân, và nguyên nhân ấy, Đức Sa-Môn Cù-Đàm đã vạch rõ ra rồi.”Vừa nghe qua đuốc-tuệ của Đức Xá-lợi-Phất phựt sáng, Ông liền đắc đạo-quã Tu-đà-Hườn.

    Cũng trong thời kỳ Đức Phật đương du-phương truyền đạo, có một phụ-nữ tên Patācāra phát điên, chạy khóc inh-õi cùng đường, vì chồng con, cha mẹ và em cô bị tử-nạn trong một trường hợp rất bi-thãm. Duyên lành sẵn có, cô gặp Đức Phật. Ngài bèn lấy lời dịu ngọt, đem lý vô-thường ra an-ủi giảng-dứt cô. Tâm thần cô liền được tĩnh-táo cô nén cơn đau-khổ và xin xuất-gia làm Tỳ khưu-ni. Một ngày nọ, vị Tỳ-khưu-ni ấy xuống suối để rữa chơn, khi cô rút chơn lên, cô thấy những giọt nước từ chơn cô liên tiếp gieo điềm xuống dòng nước chảy, rồi mất dạng…, tức thì cô hiểu được định-luật vô-thường cảu vạn-vật và liền đó cô đắc quã A-la-Hán.

    Cũng trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, cô Kisa-Gotami, một phụ-nữ rất thật-thà chân-chất, có một đứa con trai. Ngày nọ cô mang bịnh bỏ mình. Thương con quá đổi, cô tin tưởng rằng con cô không thể chết. Cô vác nó lên vai, chạy đi tìm Đức Phật và cầu xin Đức Phật cứu sống dùm con cô. Đức Phật bèn bảo cô đi kiếm một ít hột cải nơi một nhà nào không có người chết, để Ngài cứu tử hườn-sanh cho đứa trẻ. Hột cải thì cô kiếm ra, nhưng nơi mà không có người chết, thì cô đi khắp cùng, không tìm đâu ra được. Tức thì cô hiểu Đức Phật muốn dạy gì, cô bèn chôn cất con cô và trở lại xin Đức Phật cho phép cô xuất-gia làm Tỳ-khưu-ni. Một đêm con ngồi trước một ngọn đèn, thấy đèn lu dần rồi tắt, cô suy-xét hiểu được lý sanh diệt vô-thường, cô liền đắc quã A-la-Hán.

    Cũng trong thời kỳ ấy, một chàng trai trẻ tuổi, tên Cūla Panthaka xin xuất-gia được một thời-gian khá lâu mà không thuộc một câu kinh nào. Vì trí lu-lờ, trọn bốn tháng trường, học có một câu kệ, mà thầy tỳ-khưu trai tráng nọ không thuộc được. Thấy vậy, người anh thầy khuyên thầy nên hoàn-tục, lập gia-đình làm ăn. Nghe vậy, thầy buồn rầu, tủi, khóc, vì không được đeo đuỗi theo chí nguyện giải thoát. Đức Phật hay được, bèn kêu thầy lại trao cho một cái khăn lau-tay còn mới tinh- anh và bảo thầy, mỗi ngày vào buổi sáng-sớm, căng chiếc khăn ngay mặt trời rồi vò-đi vò lại nhiều lần và để tâm kết quả ra sao. Thầy làm y theo lời dạy của Đức Phật. Mấy hôm sau thầy nhận thấy chiếc khăn đã hóa ra cũ lại dơ. Thầy suy-nghĩ và hiểu được định-luật vô-thường thay-đổi của vạn-vật. Tức thì thầy đắc quã A-la-Hán.

    Bậc Thinh-văn La-Hán, sau khi chứng quã, tự biết đã làm tròn đủ những việc phải làm cho mình, không còn thiếu sót một phận-sự nào phải làm nữa ; nên trong giai-đoạn sống-thừa ở thế gian, để chờ ngày nhập-diệt, chư A-la-Hán gia hết đời sống của mình để tế độ những ai muốn tìm chân-lý.

    Gần được các bậc Thánh-nhân trọn lành như thế, người tìm đạo sẽ cảm thấy những tấm gương đạo đức trong sạch hy-hữu trong đời, đáng làm nơi nương nhờ, để học hỏi giáo-lý cao thâm cùng những phương-châm đạt đạo-quã mà các Bậc Thánh-Nhân ấy đã thực-nghiệm. Siêu thoát khỏi vòng sanh-tử luân-hồi, khỏi chốn trần-gian đau-khổ, Chư Thinh-văn La Hán là bậc trong-sạch cao siêu, không còn một mãy-may tư-kỹ vị-ngã. Ngã-chấp và ích-kỹ thuộc loại chướng ngại che-lấp Niết-Bàn, người phật-tữ phải cố gắng cổi mỡ, rồi mới có thể tiến đến đạo quả A-la-Hán được.

    Những ai đã xác-nhận được rõ ràng đau-khổ là sự thật, thì trên con đường phát-triển tâm-đạo, ắt sẽ được duyên lành gặp cơ-hội khai-thông trực-giác, để tiến nhập Nhiết-Bàn, trong kiếp hiện tại.

    II. Độc-giác (Pacceka Bodhi) là sự khai-minh giác-ngộ đơn-độc của một người tự lực cố gắng tiến đến đạo quã, không nhờ một ai dạy dỗ giúp đở. Vì đặc tính đơn-độc giác ngộ, nên Chư Phật Độc-Giác không dắt dẫn ai đến nơi giác ngộ bằng lối độc-đơn giác ngộ được. Các Ngài chĩ nêu gương đức-hạnh và trí-dũng. Hơn nữa, Chư Phật Độc-giác chỉ ra đời giữa lúc không có Phật-pháp. Số Phật Độc-Giác không phải chỉ có một, trong một thời-kỳ riêng biệt, như trường hợp của bậc Phật Toàn-Giác (Samma Sambuddho), Như Đức Phật- Tỗ Gotama, mặc dầu đã viên-tịch lâu đời, nhưng bao giờ giáo-pháp của Ngài còn tỏ rạng và tinh-thuần như lúc ban sơ, thì không thể có một vị Phật Độc-Giác nào ra đời trên thế gian nầy.

    Đạo-Hạnh của chư Phật Độc-Giác gồm trong bài kệ sau đây:

Đây lời những bậc Thánh-Hiền;

Đã do tự lực mà nên trọn lành:

 “Đừng giết, hại sanh-linh nhỏ lớn,

Cũng đừng gây uất hận cho ai,

Đừng cho chi-phối lòng nầy,

Bởi tình lưu-luyến, ưu-hoài thê-nhi.

Tâm luôn giữ không vì chao động.

Vững đường voi, vững bước đàng xa.

Mạnh như hỗ-mạnh rừng già,

Hiểm nguy cũng lướt, gió tà không nao.

Đời khoái-lạc ngọt-ngào cám dỗ,

Phải nhận-chân là chỗ không bền.

Muôn hình-thức động tâm tình

Bao nhiêu chi-phối, phải nhìn, phải hay.

Luôn vững tiến ngày ngày tinh-tấn,

Vững đường voi, mạnh sánh hỗ rừng.”

“Dầu trong tuyết gió lạnh lùng,

Hay trong thiêu-đốt, lửa hồng nắng chan;

Dầu đói khát dậm-trường gió cát,

Dầu xông pha, rắn rít muỗi mòng;

Bao nhiêu chướng ngại không cùng,

Mạnh đường voi, hổ, đã tầng hiểm nguy.”

 “Như sư-tử, không gì run sợ,

Lòng thanh-trong như gió nhẹ qua

Lưới-màn thưa, thả, lộng xa,

Không như thân cá, đành sa lưới cá.

Như sen trổ từ bùn, không nhiễm,

Mau tiến lên, tiến đến vững vàng

Vững như voi, hỗ một lòng.”

Là lời của bậc Thiện-Toàn Bích-Chi.

 

    III. Toàn-Giác (Sammā Sambodhi) là đĩnh giác-ngộ tối cao của một bậc đã hoàn toàn tự tiến đến cực độ mở-mang sáng-suốt, vô lượng từ-bi, thông suốt mọi lẽ. Bậc đã chứng được đạo-quã tối-thượng siêu-việt nầy gọi là Toàn-Giác Phật hay Chánh-Đẵng Chánh-Giác hoặc Chánh-Biến-Tri. Cũng tự lực cố gắng, khai thông tuệ-giác, không thầy chỉ dạy, các Đấng Toàn-Giác, sau khi chứng quã vô-thượng bồ-đề, liền đem ra phỗ-cập trong quần sanh, tận tụy hướng-dẫn chư-thiên và nhân-loại đến nơi hoàn toàn trong sạch, giãi-thoát khỏi vòng quanh vô tận của định luật tử-sanh, sanh-tử. Toàn Giác Phật chỉ là Đấng duy-nhứt ra đời trong một châu-kỹ, như một đóa hoa duy-nhứt được trỗ sanh trên một loại cây hy-hữu.

    Ai cố gắng tu-dưỡng tâm-tính với chí-nguyện đạt cho kỳ được đạo-quã Chánh-Giác, người ấy gọi là Bồ-Tát. Trong cõi trần-thế dẫy đầy ngã-chấp và ích-kỹ nầy, thữ nghĩ có cái chi quí-đẹp thanh-cao bằng hy-sinh tất cả để trau-dồi đời mình cho trong sạch, hầu mưu cầu hạnh-phúc cho tha-nhân?

    Trong muôn triệu chúng-sanh đương chìm đấm giữa chốn luân-hồi đau-khổ, nếu vạn-nhất có ai tự nguyện thực-hiện một lý-tưởng siêu-việt là tự-tiến đến mức hoàn toàn giác-ngộ, để giác-ngộ lại kẻ khác, thì người hy-hữu ấy được tùy-ý chọn lấy con đường bồ-tát. Mặc dầu đó là chí-nguyện cao-cả, nhưng không có một lý-do nào bắt buộc hành-giã phải nhứt định đạt cho kỳ-được đạo-quã Vô-thượng Chánh-Đẵng Chánh-Giác, vì đó là mục tiêu mà ai ai cũng biết rằng rất khó thành tựu trong thực-tế. Trái lại có kẻ luận rằng con đường Bồ-tát sẽ đưa con người đến một nếp sống chật-hẹp trong nhà-tu, một đời sống không-nhân bất-động, vô-tư vô-kỹ. Luận như vậy, thật không gì nông-nỗi bằng và hiểu như thế e xa ý-nghĩa của Phật-Pháp chăng?

    Trong quyễn Abhisamayalankara Aloka ‒ một tác-phẫm bắc-phạn và là một án chú-giãi phê-bình kinh Bác-nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) ‒ có một đoạn ghi rằng: Những bậc cao-tăng đã chứng được hai quả Minh-hạnh-túc (Thinh-văn : Sravaka và Duyên-giác : Pratyeka Buddha) mà tâm của các ngài vừa còn nguyên-vẹn mà cũng vừa diệt-trừ tận gốc các lậu-phiền-não, thì, như thế ấy, tâm của các ngài không còn gì gọi là Đại-Bi (Uru karuna) mà cũng không còn gì gọi là (Uru karuna prajna vankalyena) Vô-thượng Bác-nhã Đại-Bi. Và một khi kiếp sống đã dứt mà gọi rằng các ngài đã chứng Niết-Bàn thì Niết-Bàn của các vị Thánh bên Tiểu-Thặng chỉ là một lối nhận-thức về lý Niết-Bàn thôi. Kỳ thực, Niết-Bàn như vậy chẳng khác nào một ngọn đèn đã tắt mất, không còn một ánh sáng chi nữa. Chính đó là cõi Hư-Vô vậy. Các vị Thánh của Tiểu-Thặng cho rằng các ngài không còn tái-sanh trong ba-giới bốn-loài nữa, nhưng, sau khi bỏ-xác, chư vị A-la-Hán lại còn phải sanh về cõi Thanh-tịnh-thiên, cao-thượng nhất, cõi của Phật và chính là cõi vô-tâm, vô-tính, vô-ký (Anasravadhatu) và sống vĩnh-cữu trong trạng-thái khoái-lạc, trên tòa sen (Padmaputesu jayante). Rồi nhờ Phật A-di-Đà và chư Phật tiếp-dẫn và gội rửa trí-tuệ (Akilishta ñāna) cho các ngài tĩnh sáng thêm lên. Nhờ đó các ngài tiến đến chỗ sáng-suốt hoàn toàn; và mặc dầu đã hoàn toàn giãi thoát các ngài còn phải thị-hiện cùng khắp mọi nơi, trong các cõi sa-bà, nơi dương-thế cùng trong các cảnh địa-ngục, cam chịu đau khổ với đủ loại chúng-sanh để độ-tận muôn loài. Đến lúc không còn một chúng-sanh nào trong lục-đạo luân-hồi, thì các ngài mới chứng quả Chánh-Biến-Tri. Chừng ấy các ngài là thầy của chúng-sanh vậy.

    Trên đây là một lý-luận hết sức lạ lùng, xa hẳn tinh thần của Phật-Giáo.

    Người ta còn luận rằng quã A-la-Hán là vị ngã, ích-kỷ và khuyên mỗi người phải cố gắng tu-hành cho đến quã-vị Phật, để cứu-độ chúng sanh. Luận như vậy cũng hữu-lý, nhưng thử hỏi mục-tiêu cũa Đức Phật là gì? Phải chăng là dắt-dẫn người khác đến đạo-quả A-la-Hán? Và cứu vớt họ? Nếu quả thật vậy, thì ta phải mặc-nhiên kết-luận rằng chính Đức Phật cũng ích-kỷ nữa sao? Không thể được.

    Trong ba quã, dĩ-nhiên quã-Phật là cao-siêu hơn cả, nhưng không phải ai ai cũng nhất định thành Phật được tất cả cũng như không phải mỗi nhà khoa-học đều được trở thành Einstein hay Newton. Nhưng mỗi nhà khoa-học đều có thể, tùy khả-năng của mình mà phục-vụ nhân-loại.

    Dan-từ Pali “Bodhisatta”gồm có hai chữ: Bodhi có nghĩa là trí-tuệ, sáng-suốt; và chữ Satta có nghĩa là cố gắng đạt cho kỳ được. Vậy Bodhisatta (Bồ-Tát) là hạng người cố gắng đạt đến trí-tuệ và sáng suốt. Theo Sanscrit (Bắc-phạn) hay Pali (Nam-phạn) danh-từ Bodhisatta vẫn viết giống nhau. Nhưng trong liệt-đại-chúng, người ta gọi trại là Bodhisatva và định nghĩa là người trí tuệ, hay người đang tu-hành để thành Phật.

    Tóm lại danh-từ Bodhisatta có hai nghĩa tổng-quát thường dùng để chỉ những hạng người tụ-tập để tiến hóa đến chỗ minh-mẫn sáng-suốt; và nghĩa-chánh để chỉ hạng người sẽ chứng được quả Vô- thượng Chánh-Giác mà thôi. Hai nghĩa nầy thường hay bị hiểu lẫn lộn. Sự lẫn lộn ấy phát sanh từ giọng đọc của người arabe. Chữ Bodhisat đọc trại theo tiếng Arabe là Yudastf hay Yudasatf hoặc Joasph hay Josaphat. Trong tiếng Arabe chử Joasph cũng viết Yudastf. (Xem Encyclopedia of Religion and Ethics. Quyển 7, trang 567). Cũng do nơi mấy chữ Arabe kể trên, đã được nêu trong bộ tiểu-thuyết của vài tác-giã bên Âu-Châu, đã dựa theo sử-tích về “Đời sống của Đức Phật”viết ra những chuyện hoang-đàng, mà nhiều độc giã không nhận thức được đích-xác định-nghĩa của danh-từ Bodhisatta (Bồ-Tát)

    Ai đã có đọc quyển “Barlaam and Joasaph”, hiện nay đã được dịch ra đủ thứ tiếng Âu-Châu, sẽ ngạc-nhiên thấy Bồ-Tát (Joasph) trong Sử-Tích của Đức Phật, đã thọ-giáo với vị đạo-sĩ Barlaam và đã cùng ông nầy, được liệt vào hàng Chư-thánh “Tuân-giáo”của đời Hy-Lạp – La-Mã.

   Đúng ra, tất cả ai ai cũng có thể thành Phật; ngôi vị Phật không phải là một đặc-ân hay một đặc-quyền dành riêng cho một hạng người nào.

   Cũng nên nhắc lại có một số người tin rằng trong mỗi chúng sanh đều có một điễm thiêng-liêng của trời phú cho, đương tiềm-tàng nằm sẵn bên trong, và chỉ cần tu-dưỡng mai-trắc nó cho nó nỡ-nang tươi-nhuận. Chừng ấy nó sẽ là ta và ta sẽ thành Phật. Thực ra không phải vậy. Là phật tử, chúng ta không tin có một đấng tạo-hóa hay một thần-linh nào sanh ra ta và cũng không có một tha-lực nào ngoài ta đã đặt cái điểm thiêng-liêng nói trên vào tâm ta, để nhờ cái vốn căn-bản ấy mà ta phát triển và thành Phật. Chúng ta tin rằng cái khả-năng thành Phật là chính của ta do ta. Khả-năng ấy, cũng như các khả-năng khác trong ta, là do tự sức ta, tự ý-chí ta; nó có là do ta có, và mỗi người đều có và chính nó là khả-năng sáng-tạo vậy. Phật-Giáo cũng không tin có một linh-hồn trường-cữu bất-diệt, như một đơn-vị thường tồn, đầu thai, luân-chuyển mãi mãi từ xác nầy qua xác khác. Thay vì một linh hồn như vậy, chúng ta tin rằng có một luồng sinh-lực cuộn chảy không ngừng, chẳng những trong kiếp sống hiện-tại, mà liên-tục từ kiếp nầy qua kiếp sau sau, trong thời-gian vô-tận, nếu ta không biết gạn-chắt cho cái thác sinh-lực ấy khô cạn. Và trong cuộc trường-lưu nầy, nó vẫn là luồng sinh-lực (không phải là một linh-hồn bất-di bất-dịch) liên tiếp thay đổi trạng-thái khác nhau, cung-cấp bởi vô lượng chớp nhoáng của tư-tưởng phát-sanh do muôn triệu cảm xúc ngoại-trần.

    Hoàng-tử Sidhattha xưa kia cũng là người như ta, nhưng nhờ tâm sáng-suốt, chí-lực dung-mãnh và lòng từ-bi vô lượng mà Ngài đạt đến chỗ chí thiện, chỗ cao siêu nhất trên đời và Ngài đã biểu-bạch, vạch rõ cho nhân-loại con đường duy-nhất để đi đến nơi chí thiện ấy.

   Trong Phật-Giáo có một điểm đặc biệt là ai ai cũng có thể trở thành ông thầy dắt-dẫn kẻ khác đến nơi chí-thiện, nếu ai ai cũng cố-gắng trì chí luyện tập. Đức Phật không bao giờ nói rằng chỉ có Ngài mới có độc quyền thành Phật. Nhưng quã Phật không phải là kết quả tự nhiên của một sự tiến triễn tự nhiên. Quả Phật không phải là bền tới của một sự thả trôi theo dòng đưa đẫy của một định luật tự nhiên. Trái lại, đạt thành Phật quả cũng không là do cố-gắng, do chí lực riêng của ta, không do nơi ai khác. Khi Đức Phật đã đắc quã Chánh-Đẵng Chánh-Giác, thay vì tọa-hưởng hạnh phúc giải-thoát một mình, Ngài trở lại khuyến khích chúng sanh noi theo bước của Ngài đã vạch sẵn.

    Ngày nay trong hàng phật-tử hay ngoài hàng phật-tử, ta có thể gặp bao nhiêu Bồ-Tát đầy lòng bác-ái, mặc dầu họ vô-tâm không hay rằng họ đương đi về chí thiện. Nếu ai quan niệm về Bồ-Tát như thế, thì trong hàng tín-đồ các tôn-giáo khác cũng có bao nhiêu Bồ-Tát như vậy.

    Theo Phật giáo, có ba hạng Bồ-Tát:

    1.—Trí-tuệ Bồ-Tát (Paññadhika)

    2.—Tín-đức Bồ-Tát (Saddhādhika)

    3.—Tinh-tiến Bồ-Tát (Viriyādhika)

    Ba hạng Bồ-tát trên đây tuần-tự tương-đương với ba hạng Du-hà của Ấn-độ-giáo: Nānayogi, Bhaktyogi và Karmoyogi.

    Trí-tuệ Bồ-tát ít thiên về tín-đức, lễ-bái, thờ-phượng, lại chủ-tâm phát-triển minh-tuệ giãi-thoát.

    Tín-đức Bồ-tát giàu lòng tin-tưởng nơi sự lễ-bái thờ-phượng, lại không chú-trọng về thiền-định và công-đức lợi-tha.

    Tinh-tiến Bồ-tát thường nỗ-lực phục-vụ, lập công bồi-đức và ít lo nghĩ đến phần phát-triễn trí-tuệ lại cũng không chú trọng thờ-phượng lễ bái.

    Đức Phật Thích-Ca thuộc về hạng Trí-tuệ Bồ-tát.

    I.—TRÍ-TUỆ BỒ-TÁT chú trọng phát-triển tuệ-giác minh-tâm, chuyên lo thực-hành thiền-định hơn là lễ-bái cúng dường bề-ngoài. Luôn luôn dùng lý trí làm căn-bãn, không chịu nhắm mắt tin càng những điều chưa thấu đáo, chưa kinh-nghiệm. Không tự bó tay qui-hàng một lý-thuyết nào, cũng không nô-lệ một quyển sách nào cùng một cá-nhân nào. Trí-tuệ Bồ-tát thích trầm-tĩnh yên-lặng để trao dồi thiền-định và gom những tư-tưởng thanh-tịnh, tinh-khiết, từ-bi hùng-dũng, bủa-khắp vũ-trụ bao-la, để gieo niềm khích-lệ về hướng chí-thiện cho toàn thể chúng-sanh đương trầm luân đau-khổ.

    2.—TÍN-ĐỨC BỒ-TÁT đặt trọn niềm tin-tưởng nơi hiệu-lực của lòng thành và của sự cầu-nguyện khẩn-vái. Tất cả hình-thức cụ-thể về lễ-bái, thờ-phượng bụt-tượng là sở-trường của hạng Bồ-tát nầy.

    Cái sỡ trường về sự thờ-phượng bụt-tượng đã làm Bá-tước Kaiserling, một đại-triết học gia của Đức-quốc, bộc lộ trên mấy hàng chữ sau đây: “Trên đời nầy tôi chưa thấy cái chi vĩ-đại và hiễn-minh bằng chơn-dung của Đức Phật. Thật, triệt-để là một thân-thể-tính được cụ-thể-hóa trong giới hữu-tình vậy.”(Quyễn Travel Diary of a Philosopher).

    Quan niệm của người phật-tử đương quì lạy trước một tượng Phật, không phải là tỏ ý tôn trọng cái tượng-cột ấy, mà chỉ là thành-kính ngưỡng-vọng cái tinh-thần cao cả và ân-đức vô-lượng của Đấng Từ-Tôn, mà tượng ấy chỉ là một tượng-trưng thôi. Tưỡng đến Đức Phật bao nhiêu là kính mến Đức Phật bấy nhiêu, để cố gắng thực-hành đúng theo giáo-lý của Ngài và nông-trang tiến bước theo Ngài cho mau được siêu thoát khỏi vòng sanh-tử-khổ. Vì đó mà Phật-Giáo không bao giờ bài-xích việc thờ phụng hình thức bề ngoài, mặc dầu người phật-tử luôn luôn quí trọng qui-tắc hành đạo theo tinh-thần tự-giác thầm kín bên trong. Vã lại, đối với hạng quá ư trí thức đến nổi tâm-tư khô-cạn, thì lòng tin-tưỡng nương-tựa nơi vật hữu-hình theo thường-tình cũng bổ-ích phần nào, nhứt là làm dịu bớt cái khô-khan của lý-trí. Ngược lại, đối với hạng người quá thiên về tín -đức và nhiệt-tâm ỷ lại, cầu khẩn không ngừng, thì lý trí và minh-mẫn có thể ví như khí-cụ kếm hãm lại phần nào.

    3.—TINH-TIẾN BỐ-TÁT luôn tìm cơ hội để phục vụ kẻ khác. Đối với Tinh-tấn Bồ-tát, không gì vui thích bằng tích-cực biểu-dương công-đức, tích-cực nêu cao tinh-thần phục-vụ. Việc làm tích-cực là phước; phước là việc làm tích-cực. Không làm việc thiện, không hoạt-động là vô phước. “Thân nầy, máu thịt nầy chỉ có nghĩa lý và ý-vị là khi ta tận dụng nó để mưu-cầu hạnh-phúc cho chúng sanh”.

    Ý chí quên mình để hoàn toàn phục-vụ, là đức-tính căn-bản của Tinh-tấn Bồ-tát. Luôn luôn hoạt-động, luôn luôn làm việc, và làm việc như một chủ ông, chẳng phải như kẻ nô-tỳ tôi mọi. Chẳng hề nghĩ đến thanh-danh, tâm-tiếng của mình. Điều đáng chú tâm là phục-vụ. Ai biết mình đã làm gì, hay không biết, điều đó không quan trọng. Chẳng màng ai khen, cũng không sợ ai chê. Tâm của Bồ-tát không bao giờ dính-mắc trong những thường-tình ấy. Thậm chí đến quên mình, trong khi thương và lo cho kẻ khác; có khi hy-sinh tánh mạng để cứu sống người khác.

    Gặp trường hợp phải hiến thân để cứu mạng một chúng-sanh, Bồ-tát sẵn-sàng hy-sinh lập tức, để sớm đạt được đạo quả Chánh-Giác. Luôn luôn Bồ-tát niệm tâm thực hiện đức tính vị tha thương xót (Karunā) và từ-bi vô bờ bến (Mettā). Bao giờ Bồ-tát cũng muốn việc lành điều tốt cho tất cả thế gian, và thương yêu tất cả chúng sanh, như một người mẹ thương đứa con duy nhất của mình. Bồ-tát luôn luôn hòa mình với tất cả mọi người, và mọi người như anh, như chị một nhà. Ngài là cha là mẹ, là bạn, là thầy cảu tất cả chúng-sanh.

    Lòng từ-bi vô lượng của Bồ-tát khiến cho Ngài cố thực-hiện sự bình-đẵng giữa Ngài và mọi người (Para-atma-samatā) và hòa-mình vào thân kẻ khác luôn luôn (Para-atma-parivartana). Trong lúc trầm-tư thực-hiện hai pháp ấy, tâm của Bồ-tát không còn một mãy vị-kỹ chấp-ngã nào cả; giữa Ngài và chúng sanh không còn cách-biệt gì nữa. Lấy thiện trả ác, thương-xót giúp-đỡ kẻ đã làm hại Ngài, biết rằng sức mạnh của người dẫn-đạo tu-hành là đức nhẫn-nại. Bị ai nhục-mạ không nhục mạ lại; bị đánh-đập không đánh-đập lại; bị ai làm phiền, không trả phiền lại, dầu có đủ quyền-năng để trả lại. Ví như quả đất mênh-mông, rộng-rãi đang mang-tải vạn-vật, Bồ-tát hĩ-xã, dung-tha, chịu-đựng âm-thầm những tai-hại, đau khổ mà người ta có thể đem lại cho Ngài.

    Mỗi vị Bồ-tát đều cố gắng thực-hành mười Pháp Ba-la-Mật (Parami) để tiến đến quả Phật. Mười Pháp ấy là:

    Khoan-hổng hay Bố-thí (Dāna)

    Đạo-Đức hay Trì-giới (Sīla)

    Từ-bỏ hay Xuất-gia (Nekkhama)

    Trí-tuệ (Paññā)

    Nghị-lực hay Tinh-thần (Viriya)

    Nhẫn-nại (Khanti)

    Chân-thật (Sacca)

    Cương-quyết (Adhitthana)

    Từ-bi (Mettā)

    Xã (Upekkhā)

    Mười Pháp Ba-la-Mật nầy có khi rút lại còn sáu: Bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nại, Nghị-lực, Thiền-định và Trí-tuệ.

    Pháp Ba-la-Mật đã được định nghĩa như những đức-độ được phát triễn với lòng thương-xót, có lý-trí chỉ-đạo, không còn bị những vui-sướng của đời chi phối và không còn bị tà-kiến mờ-ám cũng không còn bị tự-ái làm cho mê-muội.

    Những tác-hành của Bồ-tát đều do lòng thương-xót vạn-vật của chúng sanh mà phát-động. Bởi thế nên không còn vị-ngã. Lòng thương ấy vô lượng vô-biên và trải qua vô-lượng kiếp. Bồ-tát luôn luôn tận-tụy làm cho giãm-nhẹ cảnh đau-khổ của chúng-sanh; nâng cao người hèn, người thấp, giúp đỡ kẻ thiếu-thốn khốn-cùng, mỗi lần khã-dĩ. Bồ-tát không muốn sung-sướng trong khi đồng loại của Ngài vấp-phải cảnh nghèo-nàn đói-khó. Để làm giảm nhẹ phần nào sự đau-khổ của kẻ khác, Bồ-tát không ngần-ngại hy-sinh tất cả vật sỡ-hữu quí báu cho đến thân-mạng của mình. Với tấm lòng tràn-trề thương-xót và luôn luôn với lý-trí minh-mẫn, Bồ-tát cố tìm đủ mọi phương-châm để tạo hạnh-phúc cho chúng sanh. Trong tư-tưởng cũng như trong công việc làm, bao-giờ tâm-tình và lý-trí cũng đi đôi cân-xứng. Tâm và trí, khi cả hai được điều-hòa nảy-nở, là hai yếu-tố trọng đại, để tế-độ đồng-đều tất cả chúng sanh. Nên trong lúc phục-vụ và cứu-giúp chúng sanh, Bồ-tát không hề nghĩ đến thanh-danh lợi-lộc; biết rằng lợi-danh tự-nhiên sẽ đến khi mình xứng-đáng cho nó đến. Hành-động của Bồ-tát hoàn toàn vị-tha, bởi thế trong con người của Bồ-tát không chỗ nào để đặt tình vị-tha được.

    Có kẻ mê-lầm nói như vầy: “Hởi người phàm phu tu sĩ, hãy biết đây là việc làm của ta. Từ việc nhỏ đến việc lớn, các ngươi hãy coi theo ta mà làm”. Những lời kiêu-hãnh và tự-cao như vậy không bao giờ phát ra trong trí quảng-đại cao-minh của một vị Bồ-tát. Kẻ nói như thế là vì họ còn chất-chứa tràn-trề say-mê dục-vọng. Trái lại Bồ-tát không còn say-mê dục-vọng, tự-kiêu, tự-trọng, mặc dầu Ngài chưa tận diệt được gốc rễ nó. Chỉ có chí-lực tâm-linh của Chư Phật, Chư La-Hán mới hết còn tự-kiêu, tự-trọng. Tuy nhiên, đối với Bồ-tát trong khi còn là một chúng-sanh ở trần-thế nầy, Bồ-tát luôn luôn cố gắng diệt hẵn cái-ta, để hy-sinh cho tất cả.

    Bồ-tát luôn luôn cố gắng tận tâm tế-độ và phục-vụ để được hoàn toàn; luôn luôn cố gắng tận tâm cho được hoàn toàn để tế tộ và phục vụ.

 


 

BA-LA-MẬT = PARAMI

MƯỜI PHÁP BA-LA-MẬT

“HÃY TÍCH-CỰC HOẠT-ĐỘNG ĐỂ TẠO SỰ AN-LÀNH CHO KẺ  KHÁC”

SUTTA NIPAKA

 

    Có mười đức-tánh cao-quí gọi là Ba-La-Mật (Parami) mà chư vị Bồ-Tát đều thực-hành để đạt quả Chánh-Đẵng Chánh-Giác (Sammā Sambuddha). Mười pháp Ba-La-Mật là: Bố-thí (Dāna), Trì-giới (Sīla), Xuất-gia (Nekkhamma), Trí-tuệ (Paññā), Tinh-tấn (Viriya), Nhẫn-nại (Khanti), Chân-thật (Sacca), Quyết-định (Adhītthāna), Từ-bi (Mettā) và Xã (Upekkhā).

    Theo lời giãi-thích trong kinh Cariyā Pitaka, Ba-La-Mật[1] không nhuộm màu vị-kỷ, không pha lẫn tà-kiến và không ẩn-ý ngã-mạn. Ba-La-Mật nhờ lý-trí dẫn dắt và do lượng từ-bi vun quén đấp bồi.

    Hành-động của một vị Bồ-Tát tuyệt đối duy-tha. Với đức từ-bi vô-lượng, lòng bác-ái vô-biên, xuyên qua bao nhiêu kiếp sống, các Ngài không ngừng nổ-lực để nâng cao đời sống vật-chất và tinh-thần cho người nghèo nàn thấp kém, giúp đỡ cho mọi người bằng muôn ngàn cách và làm giảm bớt phiền não cho tất cả chúng sanh.

    Một vị Bồ-Tát không chỉ nghĩ đến việc an-hưởng thú thanh-nhàn trong khi những người bạn của mình còn ở trong vòng lao khổ. Để làm dịu bớt phần nào sự đau khổ của nhân loại, Bồ-Tát sẵn-sàng hy-sanh tất cả các vật sỡ-hữu quí-báu nhứt, cho đến cả đời sống của mình đi nữa cũng không tiếc.

    Câu chuyện trong kinh Vyāghrī Jakata là một thí dụ.

    Mặc dầu Bồ-Tát không khi nào làm điều gì mà không suy-nghĩ trước các Ngài luôn luôn sẵn-sàng tạo sự yên-vui hạnh-phúc cho tất cả, không quên bỏ một chúng sanh nhỏ bé nào. Lòng đầy bác-ái tuy nhiên các Ngài luôn luôn cân-phân tâm và trí.

    Và trong khi phục-vụ Ngài không hề mong được một thế-lực hoặc một quyền-lợi vật-chất nào trên thế gian nầy. Khi đã hành-động xứng đáng, danh thơm tự-nhiên đến, không cần phải chạy theo nó.

    Bồ-tát hoàn-toàn duy-tha, luôn luôn sống cho kẻ khác, không khi nào nghĩ đến mình. Không hề có một điểm ích-kỷ, dầu nhỏ-nhen đi nữa, trong tâm một vị Bồ-Tát.

    Kinh Pháp cú (Dhammapada) có câu: “Hãy để cho hàng cư-sĩ và các tỳ-khưu nghĩ rằng chính ta đã làm điều phải đó. Trong mọi công việc, dầu lớn dầu nhỏ, hãy để họ nhắc đến ta. Đó là nguyện-vọng của người cuồng sĩ. Nghĩ như vậy thì lòng tham vọng và tính ngã-mạn sẽ tăng.”

    Một vị Bồ-Tát không khi nào có một tư-tưởng ích-kỷ và hẹp-hòi như vậy.

    GHI CHÚ: Ba-La-Mật có 10 pháp. Mỗi pháp chia làm ba hạng. Pārami, thuộc về tài sản, sự nghiệp, vợ, con. Upapārami thuộc về một hay nhiều bộ-phận trong thân thể và Paramatthapārami, thuộc về mạng sống.

    Thí dụ như Bố-Thí Ba-La-Mật có ba hạng là Dāna Pārami là bố thí tài sản, sự-nghiệp, hoặc vợ con; Dāna Upapārami là bố-thí một bộ-phận trong thân-thể như tay, chơn, mũi, tai, v.v… và Dāna Paramatthapārami là hy-sinh mạng sống mình cho kẻ khác.

    Như Trì-Giới Ba-La-Mật cũng có ba hạng. Sīlā Pārami là hy-sinh tài-sãn, sự-nghiệp hoặc vợ, con để giữ tròn giới-luật; Sīla Upapārami là hy sanh một bộ-phận trong thân-thể để giữ tròn giới-luật và Sīla Paramatthapārami và hy-sanh mạng sống để giữ giới luật trong sạch.

   Cùng một thế ấy các pháp Ba-La-Mật đều có 3 hạng. Cọng chung tất cả có 30 hạng Ba-La-Mật.

 

 

BỐ-THÍ (DĀNA)

    Bố-Thí hay lòng quãng-đại là Ba-La-Mật đầu tiên mà trong khi thực-hiện hành-giả đạt được hai điều: tiêu-trừ những tư-tưởng ích-kỷ, xấu xa và phát triển những tư-tưởng duy-tha, trong sạch. Bố-thí là một niềm hân-hoan, một phước báu cho cả người dâng tặng, lẫn người thọ-lãnh.

    Bồ-Tát không thắc mắc tìm hiểu người mà mình muốn cho một vật hoặc ban một đặc ân nào, có ở trong tình-cảnh thiếu-thốn món đó không. Ngài cho ra mà không chạy theo vật mình cho. Ngài bố-thí vì lòng quãng-đại mà cũng để diệt lần mọi luyến-ái còn nằm trong tâm. Cái vui để phụng-sự kẻ khác tự-nhiên đến. Làm dịu bớt nỗi đau-khổ của chúng sanh là một niềm hạnh-phúc khác do sự bố-thí đem lại.

    Tình thương của một vị Bồ-tát thật là bao la. Lòng từ-bi của Ngài rãi ra cho tất cả muôn loài: nhưng khi bố-thí Ngài không nhắm mắt cho càng. Lòng quãng-đại không làm cho sự bố-thí trở nên mù-quáng. Nếu có một người ghiền rượu đến nhờ sự giúp đở của Ngài và nếu Ngài biết chắc-chắn rằng người nầy sẽ lãnh món quà để dùng trong việc quấy, vị Bồ-Tát sẽ không ngần-ngại từ-chối. Đặt lòng quãng-đại trong hành-động sai không phải là Ba-La-Mật (Pārami).

    Khi giúp đở một người nào vì lý-do chánh-đáng. Bồ-Tát không hề lộ vẻ quan trọng hoặc tỏ ý tự cao tự đại; trái lại, thấy đó là một cơ hội quí-báu để làm bổn-phận mình nên sẵn-sàng và vui vẻ phục-vụ kẻ khác một cách khiêm-tốn. Ngài không khi nào thấy mình cao trọng hơn một người nào vì lẽ người đó đã nhờ mình. Khi giúp đỡ kẻ khác, Ngài không thấy đó là thi ân, cũng không coi người mình giúp là người đã chịu ơn mình. Một vị Bồ-Tát làm phải chỉ vì điều phải, không tìm danh-vọng, không mong đền đáp.

    Bồ-Tát không bỏ lỡ một dịp may nào để phục-vụ kẻ khác, nhưng không hạ mình cầu xin ân-huệ. Kinh Brahma Jātaka (số 323) thuật rằng có một vị Bồ-Tát sống đời tu-sĩ trong vườn “Ngự-Uyển”. Thường bữa Vua đến viếng Ngài và cung-cấp mọi vật dụng cho Ngài nhưng dầu sao nhà vua không thể thấy hết mọi nhu-cầu của Ngài. Đôi dép và cây dù của Ngài rách hư đã 12 năm trường mà vua không hay. Ngài không hề hở môi.

    Một ngày kia vua hay được. Trước cử chỉ tuy khiêm-tốn nhưng lạ lùng như vậy vua hỏi Ngài tại sao? Ngài trả lời: “Tâu Bệ-hạ, kẻ nào cầu-khẫn mà không được toại-nguyện sẽ buồn rầu. Kẻ nào được nhờ người khác mà không giúp lại được, càng buồn rầu hơn nữa.”

    Bồ-Tát cho ra không xiết kể, không phân-biệt giai-cấp, chũng-tộc hay tôn-giáo, nhưng không bao giờ cầu mong người khác trả lại. Một đặc-điểm của các Ngài là sự tri-túc hoàn-toàn. Thi hào Edward Dyer đã ca ngợi đức-tánh ấy trong mấy dòng thơ rằng: “Có người có thật nhiều mà vẫn còn tham muốn. Tôi có thật ít nhưng cảm thấy bao nhiêu đấy đã đủ rồi. Chính họ “nghèo”mặc dầu họ có tiền rừng bạc bể và chính tôi “giàu”tuy tủi vẫn rỗng không”.

    Kinh Kanha Jakata (số 440) có chép rằng một hôm vị vua trời Sakka nghe danh vị Bồ Tát nọ là một nhân-vật gương-mẫu có nhiều đức-độ. Vua trời Sakka lấy làm cảm-phục, kinh-cẩn đến bạch Ngài xin cho biết Ngài có cần dùng món chi để cúng dường. Vị Bồ-Tát vui-vẻ xin dùng được thành-tựu bốn điều sau đây:

    1.—Xin cho tôi không sân-hận, không phiền-hà hoặc có ác ý đối với người lân-cận.

    2.—Xin cho tôi không tham muốn vật sở hữu cảu người lân-cận.

    3.—Xin cho tôi không luyến ái riêng một người nào.

    4.—Xin cho tôi có tâm xả.

    Nghe vậy, tuy hết sức cảm-phục, vua trời Sakka lấy làm thất vọng và xin Ngài chọn thêm một món khác để cúng dường. Vị Bồ-Tát trả lời:

    “Bất luận nơi rừng sâu nào mà tôi sống, nơi nào mà tôi ở một mình, xin cho tôi được mạnh khỏe. Bởi vì bịnh-hoạn sẽ làm xáo trộn đời sống yên-tịnh và làm trở ngại việc tham-thiền nhập-định của tôi”.

    Vua trời Sakka nghĩ thầm: thật là tiếng đồn chẳng sai. Quả thật Bồ-Tát là bực thiện-trí-thức. Thay vì ước-ao được thỏa-mãn một nhu-cầu vật-chất. Ngài chỉ chọn những đều cần thiết cho đời sống đạo hạnh mà thôi”.

    Lần thứ ba vua trời Sakka lại xin Bồ-Tát chọn cho món khác nữa để cúng dường. Bồ-Tát trả lời:

    “Muôn tâu Hoàng-Thượng tôi muốn thêm một nguyện vọng nữa. Bất luận ở nơi đâu, không một chúng sanh nào làm tổn-thương thân thể tôi, không một chúng sanh nào làm hại đến tâm-trí tôi đó là lời nguyện của tôi.”

    Lòng quãng-đại của một vị Bồ-Tát thật không cùng. Ngài cho ra tất cả: của cãi, tài sãn, sự-nghiệp. Ngài có thể cho cả ngai vàng, cả vương quốc, một cánh tay, một cái chưn, cho đến vợ, đến con. Đến đời sống Ngài cũng không ngần ngại đem ra cống-hiến để tạo hạnh phúc cho nhân-loại.

    Kinh Vessantara Jātaka (số 547) có chép rằng hoàng tữ Vessantara, lúc còn tám tuổi có lần thành-thật nghĩ rằng: “Nếu một ngày kia có người cần dùng đến trai tim ta, ta sẽ tự mổ ngực moi tim ra cho. Nếu có người cầ đến mắt ta, ta sẽ tự móc lấy mắt ra dâng. Nếu có người cần đến thịt ta, ta sẽ tự tay cắt ra một miếng để tặng”.

    Kinh Sasā Jātaka (số 316) và kinh Vyāghbri Jātaka cũng thán phục thuật lại câu chuyện một hoàng-tữ sẵn-sàng và vui vẽ hy-sinh đời sống để đem lại hạnh phúc cho kẻ khác. Kinh Jātakamāla thuật rằng:

    Một ngày kia, một vị Bồ-Tát đi ngang qua một khu rừng cùng với người đệ-tử. Ngài nhìn thấy một con cọp mẹ cùng với ba cọp con nằm ngất ngư vì không có thức ăn. Động lòng bác-ái, Ngài bảo người đệ tử đi tìm thức ăn cho cọp. Nhưng đó chỉ là dyên cớ để được ở lại một mình với cọp vì Ngài nghĩ rằng: “Tại sao ta phải đi tìm một thân sống khác, khi ta có sẵn thân ta để làm món ăn cho cọp. Tìm thức ăn cho cọp nơi khác là một việc cầu may, hơn nữa ta có thể bỏ mất một cơ-hội tốt đẹp để làm bổn-phận.

    Chính cái thân ô-trược nầy là nguồn-gốc của bao nhiêu điều phiền-não. Nếu ta cứ khư khư bám chặt lấy nó và nếu ta không biết dùng nó để phụng-sự kẻ khác thì thật là không sáng suốt chút nào. Trong đời chỉ có hai nguyên do làm cho con người hững hờ trước sự đau khổ của kẻ khác. Đó là lòng luyến-ái cột trói chúng-sanh vào những lạc thú, cố bám lấy sự vui sướng cá nhân, sợ nó mất đi, là một nguyên do làm ta lãnh-đạm trước sự đau khổ của kẻ khác. Thiếu lòng từ-thiện, thiếu ý-chí giúp đời là nguyên do khác. Nhưng ta không thể vui khi kẻ khác khổ. Ngày nào ta chưa giúp được kẻ đau khổ, ngày đó ta không thể an-hưỡng hạnh-phúc. Như vậy làm sao ta có thể bơ-thờ được trước cảnh hấp-hối vì đói khát của bầy cọp mẹ và cọp con nầy.

    Nếu anh ta nhảy xuống vựa sâu để làm mồi cho cọp thì ít ra ta cũng dùng cái thân khốn khổ nầy vào một việc hữu ích. Ta sẽ nuôi sống cọp mẹ, tránh cho nó khỏi phải làm điều ác là ăn thịt con nó, và cũng tránh cho bầy con nhỏ vô tội kia khỏi phải chết vì nanh vút của mẹ chúng.

    Lại nữa, hành-động như vậy là còn nêu một gương sáng cho ai còn ham muốn những tấn-trò ở trên đời nầy mà họ cho rằng tốt đẹp. Ta hy-sinh tấm thân nầy để cứu bốn mạng sống, để an ủi và khuyến-khích những ai bé nhỏ yếu đuối, làm vui lòng những ai thấu-triệt được ý nghĩa sâu xa của lòng từ thiện và tạo nên một lý-tưởng cho những ai muốn sống cuộc đời đạo-hạnh. Vậy, đây là một cơ-hội hy-hữu để ta bước lần đến nơi giác-ngộ hoàn-toàn.”

    Nghĩ như vậy Bồ-Tát liền gieo mình xuống vực thẫm, hy-sinh đời sống để ban sự an lành cho bốn con cọp sắp chết.

    Theo kinh Nevari (Nepāla Bāshā) câu chuyện đáng thương tâm và đầy ý vị trên được thuật lại như sau:

    Xưa kia có một ông vua tên Mahāratthā có thế-lực oai hùng và tâm-đạo nhiệt thành. Đức vua có ba hoàng-tử là Mahā Prashāda, Mahā Deva và Mahā Satva, cả ba hiền lành và dễ dạy.

    Một buổi sáng tươi đẹp nọ, Đức vua cùng hoàng-tử đi dạo chơi trong rừng. Mãi lo nhìn xem phong cảnh và mãi mê-mẫn với hoa thơm cỏ lạ ba vị hoàng-tử càng lúc càng đi sâu vào rừng.

    Quan hầu cận thấy vắng bóng ba vị hoàng-tử bèn tâu lại với vua. Đức vua liền truyền lệnh cho các quan đi tìm, rồi ngự giá hồi cung.

    Ba vị hoàng-tử đi mãi đến một ngọn núi kia. Đứng trên tảng đá nhìn xuống, người anh cả trông thấy một con cọp cái và năm cọp con ở dưới vực sâu. Cả mẹ lẫn con chỉ còn da bọc xương đang nằm thoi-thóp, dường như đã nhiều ngày không tìm ra được món ăn, cọp mẹ có vẻ đói lắm và rõ-ràng đang sắp sửa ăn thịt con.

    Chính người anh cả đã cảm nhận thấy tình-trạng ấy chỉ cho các em và nói rằng: “Các em hãy nhìn xem cảnh tượng đáng thương tâm, các em có thấy cọp mẹ kia không? Vì quá sức chịu đói nên nó đang sắp sửa ăn con cho đỡ dạ. Thật là một trạng thái vô cùng khốn khổ.”

    Mahā Satva hỏi anh: “Cọp thường ăn vật chi?”Anh trả lời rằng thịt sống là món ăn thường của loài cọp và loài sư-tử.

    Mahā Deva lưu ý anh rằng cọp mẹ có vẻ đã đuối sức, chắc chắn là nó nhịn đói đã lâu lắm rồi. Phải chi có ai dám hy-sinh xác thân mình cho nó thì quí biết mấy. Nhưng ai đâu lại vui lòng làm cái việc cao quí ấy.

    Mahā Prashāda nói: “Chắc chắn là không có ai làm việc ấy”.

    Với một giọng cảm-động Mahā Satva tiếp: “Em còn nhỏ chắc-chắn là chưa đủ trí-khôn, nên em nghĩ rằng những người thiểu trí như chúng ta có lẽ không thể hy-sinh được đời sống mình để cứu người. Nhưng cũng có hạng người từ-bi bác-ái, hoàn-toàn sống cho kẻ khác. Những người như thế có thể sẽ vui lòng hiến thân mình để cứu sáu sanh mạng nầy”.

    Ba anh em bàn luận như vậy rồi bỏ đi nơi khác.

    Mahā Satva nghĩ thầm: “Ta phải hy-sinh tánh-mạng để cứu sống bầy cọp nầy. Tấm thân tứ đại mà ta mang đây chỉ là một đống ô-trược đã gây cho ta bao nhiêu điều phiền-não, bao nhiêu bịnh hoạn tật nguyền. Tuy rằng hiện nay ta có thể ướp hoa, ướp dầu cho nó xinh đẹp thơm-tho nhưng rồi một ngày kia nó sẽ tanh hôi và tan rã.”

    Chẳng bèn bảo hai anh đi trước để chàng chẩm rãi ngoạn vật xem cảnh. Chờ hai anh đi xa, chàng hối-hả trở lại chổ cọp nằm, cổi quần áo treo trên nhánh cây và nghĩ rằng: “Ta phải tích-cực hành động để tạo sự an-lành cho kẻ khác. Ta phải rãi lòng từ-bi bác-ái cho tất cả chúng-sanh. Phục-vụ cho những ai cần đến ta là một nhiệm-vụ trọng-đại. Ta hãy hy-sinh tấm thân ô-trược nầy để cứu mạng sống cho cọp mẹ và năm con. Do nơi hành-động xứng-đáng nầy, mong rằng ta sẽ bước lần đến nơi giác-ngộ hoàn-toàn hầu cứu độ chúng-sanh ra khỏi vòng luân hồi khổ-não. Cầu xin cho tất cả chúng sanh được an-vui hạnh phúc”.

    Hướng tâm về tinh-thần phục-vụ duy-tha, hoàng-tử Mahā Satva nhẹ-nhàng gieo mình xuống hố gần nơi bầy cọp nằm. Nhưng hoàng tử không chết, chỉ bị thương nặng. Cọp kia, dầu bẩm-tánh rất hung-dữ cũng xúc lòng thương hại vị Bồ-Tát, không nỡ động đến mình Ngài.

     Bồ-Tát nghĩ rằng cọp đã yếu đuối quá nên không đủ sức vật mình để ăn. Ngài bò lần đi tìm một khí cụ để tự sát. May thay, gần nơi cọp nằm có một khúc tre bể. Ngài nhặt lấy tre rồi tự cứa cổ đến chết. Ngài té ngã nằm trên vũng máu.

    Cọp vừa đói vừa khát, thấy vậy lần đến liếm vũng máu và xé thây Bồ-Tát ra, ăn ngon lành. Phút chốc chỉ còn lại một đống xương tàn.

    Chuyện thêm rằng lúc Bồ-Tát tự sát để hiến thân cho cọp, trời đất chuyển động, nước biển nổi sống to, ánh mặt trời bổng dưng tối sầm lại, cảnh vật trở nên lờ-mờ, tất cả như thiên đồng thanh reo to: lành thay, lành thay và từ trên không trung bông Parijata rơi xuống như mưa.

    Trước cảnh-tượng phi-thường của trời đất, hai người anh đoán chắc rằng em mình đã hiến thân làm mồi cho cọp rồi.

    Hai anh trở lại tìm em và lấy làm kinh khủng trước cảnh-tượng hết sức bất ngờ. Đâu là hình bóng của người em yêu mến. Chỉ còn đống xương trắng điểm máu hồng bên cạnh bầy cọp vừa no bụng. Bên cạnh tảng đá, trên nhành cây, quần áo của Mahā Satva còn phất-phơ trước gió.

    Hai vị hoàng-tử đau lòng xót dạ, khóc than thê-thảm và buồn bã trở về tâu lại với vua cha.

    Chính ngay lúc Bồ-Tát liều thân cứu cọp, hoàng-hậu ở cung nội đang ngủ. Bà nằm mộng thấy một răng của mình bổng nhiên rụng xuống và nghe nhức nhối đau xót tựa-hồ như ai cầm dao thẻo thịt ra từng miếng. Nhìn ra ngoài cửa, Hoàng-Hậu lại thấy từ trên không một con ó đáp xuống xớt một trong ba con bồ câu xinh đẹp đang đậu trên nóc nhà và tha đi mất.

    Hoàng-Hậu lấy làm kinh sợ, giựt mình tỉnh dậy, nhớ đến ba con còn lạc bước trong rừng. Bà lật đật chạy tìm đức vua để thuật lại điềm mộng.

    Vừa lúc ấy tin dữ cũng được đưa đến. Câu chuyện thê-thãm được thuật lại. Tất cả đều cảm-động và khóc than không xiết kể.

    Đức vua an-ủi Hoàng-Hậu rồi cởi voi đi rước hai vị Hoàng-Tử đau khổ chưa ra khỏi rừng. Gặp cha, hai Hoàng-Tử nghẹn-ngào không nòi được một lời. Sau cùng rán sức nén lòng, hai vị lần lượt thuật lại cho Vua cha và mọi người nghe cái chết dũng cảm của người em vô cùng cao-quí.

    Vua hạ lịnh sấm sửa ngựa voi để cùng Hoàng-Hậu và bá quan đến nơi lịch-sử. Vừa thấy đống xương tàn còn dính đầy máu đỏ Vua và Hoàng-Hậu ngã ra bất tĩnh. Ngự-y hối-hã đem thuốc cứu-cấp. Một hồi lâu Vua và Hoàng-Hậu dần dần tĩnh dậy. Vua truyền tom góp tóc, xương và quần áo, để lại một chỗ, rồi đến trước đó, đứng chiêm-ngưỡng người con yêu dấu. Tất cả quần thần cũng sung-bái con người anh-hùng cao-quí. Vua hạ lịnh xây cất tại chỗ một bảo tháp khãm vàng để thờ vị Bồ-Tát đã hiến thân cứu cọp.

    Vua và Hoàng-Hậu ra về, lòng như dao cắt.

    Về sau, bảo tháp thờ xá-lợi của Bồ-Tát Mahā Satva gọi là: “Om Namo Buddha”.

    Kinh Jātaka thuật lại câu chuyện có thêm rằng người đời sau kêu bảo tháp ấy là “Namura”(là tiếng gọi tắt chữ Om Namo Buddha=Tôn kính Đức Phật).

    Hai câu chuyện thuật lại có khác nhau, nhưng, dầu vị Bồ-Tát đã hiến thân cứu cọp là nhà tu-sĩ hay là một vị hoàng-tử, đó chỉ là cái hình thức bề ngoài. Điểm quan-trọng chính là gương hy-sinh cao cả và hoàn-toàn vị-tha chứa đựng bên trong.

    Theo thường lệ, khi kinh Jātaka chép lại một sự-tích nào đều có nêu ra cho biết nhân cơ-hội nào Đức Phật nhắc lại chuyện ấy. Tiếng Phạn gọi cơ-hội ấy là Nidāna (nguyên-do vẫn cớ tích). Thì hai câu chuyện kể trên đều có Nidāna.

    Những nhân-vật trong câu chuyện không được xác-nhận ở đoạn cuối cùng như trong các bài Jātaka khác.

    Kinh Nevari Jātaka thật ra có vẻ đầy đủ hơn bổn Sanskrit (Jātakamālā) nhưng căn nguyên của kinh Nevari không được chắc chắn.

    Về tư-cách một vị Bồ-Tát hành Bố-thí Ba-La-Mật có đoạn kinh “Cariya Pitaka”giãi rằng:

    “Mỗi khi một vị Bồ-Tát tặng vật thực cho ai Ngài có ý ao ước cho người ấy được sống lâu, sắc đẹp, yên vui, khỏe mạnh, trí tuệ và đắc được quả cao-thượng nhứt là Niết-Bàn. Đối với người khát nước, Ngài ban thức uống cho với nguyện vọng rằng thức uống nầy không những giải cho người ấy cái khát vật-chất mà còn làm dịu bớt sự khao-khát của dục-vọng. Ban quần áo cho ai, Ngài ước ao người ấy sẽ biết hỗ-thẹn và ghê sợ đều ác. Khi giúp đỡ phương-tiện đi đứng, Ngài ước ao người nhận lãnh được có phép thần-thông. Ban cho nhang trầm, Ngài mong cho người thọ lảnh được hưởng hương lành của giới luật (Sīlā). Ban dầu và hoa, Ngài chúc cho người thọ lảnh được hưởng danh thơm của người sống đời sống đạo-hạnh như Đức-Phật. Giúp cho ai chỗ ngồi, Ngài ao ước cho người ấy đắc được căn-bản của sự giác-ngộ hoàn-toàn. Giúp cho ai có được chỗ ở, Ngài mong người ấy sẽ là nơi nương-tựa cho cả thế-gian. Giúp ánh-sáng, Ngài hy-vọng cho người nhận có được năm loại nhãn quan: mắt thịt, mắt trí-tuệ, mắt thần-thông, mắt của một vị Phật và mắt thấy rõ chân tướng vạn-vật.

    Bố thí “Sắc”, Bồ-Tát ước ao cho người nhận lãnh được có hào-quang như Đức-Phật ; “Thinh”, được lời nói tao-nhã dịu dàng như chư vị Phạm-Thiên; “Vị”, được đẹp lòng, vui vẽ với tất cả mọi người; “Xúc”, có được cơ-thể thanh lịch và tinh-hão như Đức-Phật và khi giúp đỡ thuốc men cho ai, Bồ-Tát cầu chúc cho người ấy được sống mãi mãi, tức là chứng được đạo quả Niết-Bàn vậy.

    Bồ-Tát phá gong cùm, giãi-phóng cho những người nô-lệ với hy-vọng cũng giải-phóng con người, cùng một thế đó, ra khỏi vòng xiềng-xích của bao nhiêu dục-vọng.

    Bồ-Tát ly-gia cắt ái, từ bỏ những đứa con yêu quí của mình để nới rộng tình phụ-tử đậm đà ấy đến tất cả chúng sanh. Ngài từ bỏ vợ để làm chủ thế-gian, bỏ ngai vàng để thừa hưởng vương quốc của chánh-trực, công bình và đạo đức.”

    Đoạn kinh trên không những chỉ cho ta thấy thế nào là thái-độ duy tha của một vị Bồ-Tát mà còn nói lên được sự cố-gắng không ngừng và bất vụ-lợi của các Ngài để phục-vụ nhân-loại. Nhưng, mục-đích cuối cùng của Bồ-Tát là trở thành một vị Phật và Ngài không bao giờ lãng quên mục đích cứu cánh ấy.

 

 

TRÌ-GIỚI (SĪLA)

Giới nằm trong lòng quảng-đại khác thường của một vị Bồ-Tát. Danh-từ Sīla (giới) trong phạn-ngữ có nghĩa là quy-luật. Giới gồm có những bổn-phận phải làm (cāritta) và những điều nên tránh (vāritta). Đạo làm cha mẹ, làm con, làm vợ, làm chồng, làm trò, làm thầy, làm bạn, bổn phận đối với các tu-sĩ, với kẻ ăn người ở trong nhà v.v…đều được giảng giải rõ-ràng và cặn kẽ trong kinh Sigālovada-Sutta.

    Tán-dương bộ kinh nầy, Giáo-sư Rhys-Davids có nói:

    “Người nào được ở trong một gia-tộc hoặc trong một làng nằm theo lưu-vực sông Hằng (Gange) thật là hữu-phước vì nơi đây dân-chúng sống trong tinh-thần bác-ái an-lành, trong tinh-thần công-lý cao-thượng, nơi đây dân-chúng thở được một thứ không-khí nhẹ-nhàng do những lời nói giản-dị, chất phát tạo nên…”

    Và Giáo-sư Rhys Davids thêm rằng: “Ta cũng có thể nói rằng những người sống trong một gia-đình hoặc một làng nằm trong lưu-vực sông Thames ngày nay cũng không kém phần hữu-phước, vì nơi đây (Anh Quốc) giáo-lý từ-bi bác-ái giữa người và người của Đức Phật đã thấm-nhuần đời sống gia-đình và xã-hội và đã làm căn-bản cho một nền luân-lý vững chắc. Giáo-lý ấy vẫn còn rõ-ràng, đầy đủ và vẫn thích hợp với người Anh ngày nay cũng như từ bao giờ đã thích-hợp với người Ấn”.

   “Thật vậy, ngày hôm nay, và tại Anh Quốc Tạng Luật hay là những giới răn trong tạng ấy vẫn còn nguyên-vẹn sự công-hiệu cảu nó, y như thuở xưa kia tại thành Rājagaha. Những giới nầy, được đặt để ra với một tinh-thần sáng suốt, rộng-rãi và lành mạnh, rất cần-thiết để tạo cho con người một đời sống an-toàn và hữu-phước.”

    Bồn-phận của người phật tử đại khái có năm phần:

    1.- Con đối với cha mẹ, có bổn phận:

    - Phải phụng dưỡng cha mẹ và cung cấp đầy đủ vật dụng cho cha mẹ.

    - Làm công việc của cha mẹ, thay thế người.

    - Có một tác-phong đạo-đức thế nào để giữ tròn danh giá cho gia-tộc.

    - Tỏ ra xứng đáng hưởng di-sản của ông cha, và

    - Để bát cúng dường, hồi hướng phước báu cho những ngưới trong thân tộc đã quá vãng.

   2.- Cha mẹ được con săn-sóc và giúp đỡ như vậy phải biết thương con và có bổn phận:

    - Khuyên-lơn và ngăn-cản không để cho con làm điều ác.

    - Nhắc-nhỡ và dẫn dắt con luôn luôn đi trên đường thiện.

    - Tạo cho con một nghề sanh sống chính đáng.

    - Khi con lớn khôn, dựng vợ gã chồng một cách xứng đáng, và

    - Kịp thời chia lại cho con phần tài-sản của mình.

    3.- Học trò đối với thầy có bổn phận:

    - Luôn luôn tỏ ra cung kính (khi thầy đi qua phải đứng dậy).

    - Trông nom săn-sóc thầy.

    - Chăm chỉ nghe lời thầy dạy.

    - Khi thầy cần đến, hết lòng giúp đỡ.

    - Kính cẩn thọ nhận lời thầy dạy bảo.

    4.- Thầy, được trò tôn kính và đối đãi như thế, phải biết thương trò và có bồn-phận:

    - Rán sức dạy dỗ trò biết tôn trọng kỷ-luật.

    - Cố làm cho trò lãnh hội được lời dạy.

    - Dạy những môn kỷ-thuật và khoa-học thích hợp.

    - Tiến dẫn trò vào giới thân cận của mình để trò giao thiệp với bạn bè thân thuộc mình.

    - Đào tạo trò cho ra người hoàn hảo trên mọi phương-diện.

    5.- Chồng đối với vợ có bổn-phận:

    - Luôn luôn nhả-nhặn, thanh-tao.

    - Không khi nào tỏ ra khinh rẻ.

- Luôn luôn trung thành với vợ.

    - Giao quyền hành cho vợ.

    - Mua sắm cho vợ các đồ trang-sức.

    6.- Vợ, được chồng đối đải như vậy, phải biết thương chồng và có bổn-phận:

    - Làm tròn phận-sự trong nhà.

    - Vui-vẻ, tử tế với quyến thuộc của chồng.

    - Luôn luôn trung-thành với chồng.

    - Giữ-gìn cẩn-thận những đồ trang-sức và thận-trọng coi sóc của cải trong nhà và

    - Luôn luôn siêng năng và không khi nào tháo trúc công việc.

    7.- Một người thiện hữu, đối với bạn bè thân-thuộc, có bổn-phận:

    -  Quãng-đại, khoan-hồng.

    - Ăn nói nhã-nhặn, thanh tao.

    - Sẵn-sàng làm việc phải cho bạn bè thân thuộc. Thấy ai hữu sự liền ra tay giúp đỡ không đợi cầu khẩn.

    - Có tinh-thần bình-đẳng và

    - Luôn luôn thành-thật.

    8.- Người bạn, được đối xử như vậy, có bổn-phận:

    - Bảo vệ bạn trong lúc cô-đơn, cứu vớt bạn trong cơn sa-ngã.

    - Khi tài sản bạn không ai trông nom, hết lòng bảo vệ, không để cho bạn bị hao tổn.

    - Nếu bạn lâm vào tình cảnh khủng-hoảng, hết lòng đùm bọc và làm cho mình trở thành nơi nương-tựa cho bạn.

    - Không nên bỏ bạn lẻ-loi trong cơn nguy-biến.

    - Đối với gia-đình bạn, luôn luôn nhả-nhặn, khiêm tốn.

    9.- Đối với kẻ ăn người ở, chủ nhà có bổn-phận:

    - Không nên giao-phó công việc làm quá sức.

- Thù lao và nuôi cơm đầy đủ.

    - Khi đau ốm, tận-tình săn sóc.

    - Chia sớt những món ngon vật lạ.

   - Không bắt làm quá giờ.

    10.- Người làm công được chủ đối đải tử tế như vậy phải biết thương chủ và có bổn-phận:

    - Thức dậy trước chủ.

    - Ngủ sau chủ.

    - Chỉ lấy hoặc dùng những vật chi chủ cho.

    - Tận tình làm cho công việc trong nhà được vẹn toàn.

    - Giữ gìn danh giá cho chủ làm cho và thơm của chủ được truyền ra xa rộng.

    11.- Người hiền hậu phải đối với hàng tu-sĩ như sau:

    - Tỏ lòng từ ái trong hành động,

    - Trong lời nói,

    - Trong tư tưởng,

    - Luôn luôn mởi rộng cửa nhà để tiếp đón.

    - Sẵn sàng giúp đỡ và dâng tặng những vật cần dùng.

   12.- Hàng tu sĩ được người hiền hậu đối sử như vậy, phải biết thương và có bổn-phận:

    - Khuyên nhủ và cản ngăn không để lầm lạc trên đường quấy.

    - Nhắc-nhở và dẫn dắt trên đường thiện.

    - Hết lòng thương mến.

    - Thuyết những pháp mà người ấy chưa từng nghe và giảng rõ ràng và cặn kẽ những pháp đã thuyết rồi.

    - Vạch cho thấy con đường đường dẫn tới cảnh giới an vui hạnh-phúc.

    Người nào làm tròn những điều đáng làm (Caritta Sīlā) nầy, thật đúng là con người thanh-lịch, hoàn-hảo trong sạch và cao quý trong xã-hội.

    Ngoài những bổn phận ấy, một vị Bồ-Tát con phải cố-gắng tránh những điều không nên làm, phải ghép mình trong giới luật (Sīlā) để sng đời sống lí-tưởng của một Phật tử chân-chánh.                             

    Sau khi suy-luận rõ-ràng và đúng đắn thế nào là luật nhân quả, Bồ-Tát rán tránh tất cả những điều quấy và tận-lực làm tất cả những điều thiện là mình có thể làm. Ngài nhận-thức rằng bổn-phận của ngài phải trở thành niềm hạnh-phúc cho tất cả và không khi nào gây phiền não cho chúng sanh dầu người hay thú.

     Mọi người đều quý trọng đời sống của mình. Không ai có quyền cướp sự sống của kẻ khác. Bồ Tát rãi lòng từ bi đến tất cả chúng-sinh, cho những con vật bé nhỏ đang bò dưới chân và không khi nào sát hại hoặc làm tổn thương một sinh vật nào. Con người vốn sẵn có một thú tính xúi dục giết hại những sinh vật khác để ăn thịt mà không chút thương hại. Cũng có khi sát sanh để tiêu khiển thì giờ. Dầu để nuôi sống thân mạng, dầu để tìm thú vui, không có lý do chính-đáng để giết một sanh-linh hoặc làm cách nào khác cho một sanh linh bị giết, có những phương-pháp tàn-nhẫn, ghê-gớm, cũng có những phương pháp mà người ta gọi là nhơn đạo, để sát sanh. Nhưng, làm đau khổ một chúng-sinh là đã thiếu lòng từ ái rồi. Giết một con thú đã là một hành-động bất chánh, nói chi đến giết một người, mặc dầu nhiều lý-do đã được viện ra là chánh-đáng, có khi còn gọi là cao quí để con người tàn-sát con người.

     Bồ-Tát cũng tránh trộm cắp, bất luận dưới một hình-thức nào, trực- tiếp hay gián-tiếp. Làm như vậy, những đức tính thanh-bạch, thành-thật và ngay thẳng được phát triển rộng-rãi.

     Bồ-Tát không để mình phạm nhầm một lỗi lầm bé nhỏ nào có thể phương hại đến phẩm-giá con người và hết sức cố-gắng giữ mình hoàn-toàn trong sạch.

     Ngài không nói dối, không nói điu thô lỗ cọc cằn, không nói điều nào làm cho người này có thể phiền-trách người khác, không nói những điều vô ích. Ngài chỉ nói những lời chân-thật, dụ dàng, những lời có th đem lại sự yên vui hạnh-phúc cho kẻ khác, và những lời hữu ích.

     Bồ-Tát không dùng một thứ gì có chất độc hoặc có thể làm cho tinh thần-mất sáng-suốt. Trái lại ngài luôn luôn làm cho tâm được an-trụ, cho trí được sáng suốt.

     Mặc-dầu quyền lợi của ngài có bị thiệt hại đi nữa, Bồ-Tát cũng không hề d duôi để phạm phải một điều nào trong năm nguyên tắc căn bản để kiểm soát hành-động và lời nói mình. Để giữ tròn năm giới, không những một vị Bồ-Tát có khi phải hi-sinh tài sản, sự-nghiệp mà cũng có vài trường-hợp ngài còn phải hy-sinh cả tính mạng.

     Ta cũng không nên lầm tưởng rằng trong vòng luôn-hồi, một vị Bồ-Tát phải hoàn-toàn trong sạch. Đã sanh ra làm chúng sanh trong cõi phàm, ngài cũng có những nhược-điểm và lỗi-lầm. Vài quyển kinh Jātaka như Kanavera Jātaka (số 818) có tả một vị Bồ-Tát nọ như một tên trộm cướp vô cùng lợi hại. Tuy nhiên, đó là một việc hy-hữu, hơn là một thông lệ.

     Đối với Bồ-Tát là một người có nguyện-vọng làm Phật-Tổ thì giữa-gìn giới-luật trong sạch là một điều vô cùng quan trọng. Kinh Sīlā Vīmamsa Jātaka (số 362) có đoạn thuật lại lời một vị Bồ-Tát như thế này:

     “Trí-Tuệ ngoài đạo-đức là một trí-tuệ không có giá-trị.”(Sīlena n’aupetassa sutena’ttho na vijjati).

     Trong quyển “Thanh-Tịnh-Đạo”(Visuddhi Magga) Đại Đức Buddhaghosa viết rằng giới là nền tảng của tất cả đức hạnh:

     Đạo chính là cho người vững chí;

     Sống thanh cao, cao quí chi bằng.

     Nên trang đức hạnh ai tầng.

     Mấy ai tả đượ uy hùng đến đâu.

     Cũng không phải giòng sâu lồng lộng

     Của Hằng Giang với ngn Yama (Yamunā)

     Thủy triều réo rắt sông Sa (Sarabhu)

     Sông Ati (Acivarati) với đại hà Mahi

     Mà rửa sạch những gì nhơ bợn

     Và những chi bất tịnh nơi lòng.

     Chỉ Đức Hạnh, sức khôn cùng,

     Gội tội ác ý, rửa dần mê tâm.

     Với gấm vóc, hương trầm bảo-vật

     Cùng trăng thu vằng-vặc ánh vàng.

     Nhẹ-nhàng gió mát đêm trường,

     Cũng không xoa dịu nổi lòng tham-sâu.

     Chỉ Đức Hạnh trong ngần cao-quí

     Là vững bền, tiết chế lòng người.

     Trầm hương bay thuận gió đời.

     Chỉ hương Đức Hạnh nhất trời gần, xa.

     Nào nấc tiến cho ta tinh, tấn

     Để ta nương đến tận trời cao,

     Cửa nào mở lối ta vào

     Niết-Bàn cảnh giới muôn màu cho ta.

     Đời Đạo-Hạnh, tinh-hoa, giới đức

     Không điểm-tô, trang-sức chi hơn

     Mà luôn sáng tỏ vô ngần,

     Chỉ nơi Đức-Hạnh rạng-rỡ hào quang.

     Nào vua chúa ngọc vàng lóng-lánh

     Đường mờ lu bên ánh rạng nầy.

     Tâm người Đạo-Hạnh ngày ngày.

     Chỉ còn thanh tịnh và đầy an vui

     Qua kinh sách lòng người phải rõ.

     Đời Thanh-Cao uy thế chi bằng:

     Đạo là nguồn Cội Phước Lành,

     Đạo là Tiêu Diệt Mọi Căn Mê Lầm.

    

 

XUẤT-GIA (NEKKHAMMA)

    Xuất-gia, hay là xa rời cuộc đời phồn-hoa vật-chất, là điều mà chư vị Bồ-Tát hết lòng mong mỏi vì bẩm-tánh của các Ngài là ưa thích sự vắng-vẻ, yên tịnh.

     Danh-Từ “Nekkhamma”trong phạn-ngữ có danh nghĩa là khước từ những điều vui sướng thế gian để chọn lấy đời sống tu-sĩ. “Nekkhamma”cũng có nghĩa là tạm thời vượt qua khỏi các pháp che lấp con đường Niết-Bàn (Nīvarana) bằng cách thực nghiệm-thiền định.

     Mặc dầu đôi khi, để tiện bề giúp đỡ người nào, một vị Bồ-Tát có thể sung sướng và đầy đủ tiện-nghi, nhưng, luôn luôn các ngài không mê đắm những lạc thú của trần-gian.

     “Đời sống gia-đình tựa hồ như sào huyệt của bao điều tranh chấp, gay-go, cãi vã;

     “Như nơi chứa đựng của bao thiếu-thốn, bao nhiêu nhu-cầu;

     “Như cư-trú của bao điều phiền não bao nhiêu sự thất bại, bao nhiêu việc trái lòng;

     “Nhưng đời sống của người đã ly gia cắt ái thật là thung dung, thâm-diệu như trời xanh.”

     Nhận thức rằng xa-hoa vật-chất là ảo-huyền và thú vui vật chất không tạo hạnh-phúc thật sự, Bồ-Tát tự nguyện lìa bỏ tất cả sự-nghiệp trên đời để khác chiếc áo y vàng và cố-gắng sống hoàn-toàn trong sạch. Ngài tự nguyện giữ tròn giới luật và rán sức nâng cao Đức-Hạnh đến tột độ để trở nên hoàn toàn vị-tha trong mọi hành động. Không gì có thể lay động được lòng ngài. Thanh danh, sự nghiệp vinh-hiển chỉ là vật báu của trần gian, không thể làm cho một vị Bồ-Tát lảng quên lối sống thanh bạch của mình.

     Lắm khi, như câu truyện trong kinh Makhādeva Jātaka (số 9) chỉ một con thỏ xám cũng đủ nhắc-nhở Bồ-Tát, làm cho ngài từ bỏ cái không khí nhộn-nhịp, bất tịnh của đền đài cung điện để sống đời sống vắng vẻ đơn độc và biết bao nhiêu lần thuận tiện hơn cho sự tiến-hóa trên đường giác ngộ. Có khi một giọt sương trong buổi bình minh trên cây cỏ, có khi một cái lá đắng, cũng đủ làm cho ngài thức tỉnh.

     Tựa hồ như đó là một thông lệ, tuy nhiên không phải tất cả chư vị Bồ-Tát đều hành pháp Xuất-gia Ba-La-mật.

     Kinh “Kusa Jātaka” (số 531) có thuật tích một vị Bồ-Tát phải chịu nhiều điều tủi nhục, vì không thắng ngự được tình yêu một bà công chúa xinh đẹp tên Pabhāvati.

    Kinh “Darīmukkha Jātaka (số 378) chép rằng có vị “Độc Gíac Phật”(Pacceka Buddha), một hôm, gặp một vị Bồ-Tát và nhận rằng trước kia vị này là bạn mình, Đức Phật Độc Gíac bèn lại gần Bồ-Tát và khuyên rằng: “Những điều vui thú xác thịt không khác nào bùn non, hơi, bụi. Tất cả đều tạm bợ không bền vững, bởi nó bắt nguồn từ tham, sân, si. Ta khuyên bạn hãy từ bỏ nó đi”

     Vị Bồ-Tát liền trả lời: “Tôi thật điên cuồng các thú vui trần gian đã thấm-nhuần và ăn sâu vào xương tủy. Tôi biết rằng đời sống vật chất là vô cùng ghê-tởm thật là đáng sợ, đáng tránh. Nhưng, nay hỡi con người cao-quí, tôi rất triều-mến nó và không thể từ bỏ nó được. Tôi chỉ rán làm được một điều là tự nguyện luôn phục-vụ kẻ khác”.

     Nếu một vị Bồ-Tát ra đời không nằm trong nhiệm-kỳ của một Đức Phật, ngài sẽ tự mình tìm nơi vắng-vẻ để sống đời sồng độc-thân cao-thượng của nhà tu-sĩ. Nếu sanh ra rong nhiệm kỳ của một Đức Phật, Bồ-Tát khép mình vào giới-luật Tăng già để sống một đời sống hoàn-toàn trong sạch. Một vị tỳ-khưu có đời sống gương mẫu, một vị tỳ-khưu lý-tưởng là một nguồn hạnh-phúc cho mình và cho kẻ khác. Mọi người đều có thể học hỏi nơi Ngài, noi theo gương lành của Ngài và thực-hành những lời vàng ngọc của ngài dạy dỗ. Bên trong các Ngài tự làm cho mình trong sạch; bên ngoài, các Ngài làm cho kẻ khác trong sạch.

     Một vị Bồ-Tát luôn tinh-tấn trau-dồi trí-tuệ, đồng thời Ngài cũng tự thấy có bổn-phận giúp đỡ những ai còn kém sút và tạo cho họ cơ-hội học hỏi để trở nên sáng-suốt. Không làm phiền ai, không muốn cho ai nặng lo vì mình, các Ngài sống như loài ong: hút mật của hoa nhưng không làm hư hại đời sống của hoa. Ngài từ bỏ tất cả sự-nghiệp, của cải, không giữ lấy một món chi của trần gian. Nhu-cầu của một vị tỳ-khưu thật là ít ỏi. Bao nhiêu tài sản của Ngài chỉ gồm trong hạnh tri-túc.

     Ngài không thắc-mắc hối-hận những lỗi lầm trong quá-khứ và không lo-âu sợ-sệt vì tương-lai. Ngài chỉ sống trong hiện-tại, sống ngoài những trách-nhiệm và những phiền-nhiễu của đời sống xã-hội, gia-đình. Ngài luôn sẵn lòng đi bất kì nơi đâu để phục-vụ chúng sanh, nhưng không hề quyến-luyến một lời nào. Trong cảnh vô-thường của tạm bợ trần-gian; trong cuộc thăng trầm của thế-sự, Ngài luôn luôn giữ tâm bình-thản và sẵn sàng hiến thân để giúp ích cho những ai cần đến. Nhưng không bao giờ ước mong được đền ơn đáp nghĩa.

     Trong sạch, sống độc-thân, tự ý sống cam khổ, nghèo nàn, đơn giản, vị-tha phục-vụ và thanh-tao nhã-nhặn là một vài đặc-tánh của một vị tùy khưu chân-chánh.

     Thầy tỳ-khưu không phải là người ăn xin như đời thường lầm hiểu dầu danh từ “bhikkhu” trong phạn-ngữ có nghĩa là “ngươi đi xin”. Thầy tỳ-khưu cũng không phải là một trung-gian giữa người và một thần linh toàn-tri, toàn-năng, cũng không phải là người thay mặt, thế quyền cho một nhân vật ngự trị con người. “Tu-sĩ hành-khuất” có lẽ là một định-nghĩa gấn nhất của danh từ “bhikkhu”.

     Ngày nay, khi dùng danh từ bhikkhu, người ta muốn nói tới những nhà tu-sĩ Phật-Gíao. Tu-sĩ các tôn-giáo khác gọi là Paribbājaka, Ajivaka, Sanyasiu v.v…

     Giới luật Tăng-già không cho phép thầy tỳ-khưu thọ-lãnh tất cả mọi vật người ta dâng đến cho mình. Nếu có người dâng, thầy chỉ có thể nhận bốn món vật dụng thông-thường là y, thức ăn, chỗ ở, thuốc men. Khi cần dùng một trong bốn món ấy mà không có ai cho, vị tỳ-khưu chỉ được phép hỏi bà con thân thuộc, hoặc những thí-chủ nào có hứa trước và yêu cầu ngài cho biết khi cần dùng đến. Thiện-tín không thể nhờ thầy tỳ-khưu chuyển-đạt lên một thần linh những lời cầu nguyện vì trong Phật-Gíao không có một quyền lực nào trên và ngoài con người có thể nhận những lời cầu-khẩn do sự trung-gian của một tu-sĩ để ban phước hoặc xóa tội.

     Một vị tỳ-khưu không bắt buộc phải giữ trọn đời lời nguyền xuất gia, giới tử tự xin khép mình vào giới-luật để sống trong sạch đời sống của một người tu-sĩ, cho đến ngày muốn ra thế, cũng tự ý bước chơn ra khỏi Gíao-Hội Tăng-Gìa. Nhưng ngày nào còn khoác trên y vàng, tượng trưng chư vị A-La-Hán, là bậc đáng tôn-kính, thì vị tỳ-khưu có bổn phận phải giữ tròn giới hạnh. Ngày nào vị tỳ-khưu không còn đủ nghị lực để sống đời sống cao-thượng, có thể hoàn tục bất luận lúc nào mà vẫn không làm hoen-ố cửa thiền.

     Đối với hàng tỳ-khưu, có bốn trọng tội là: hành dâm, trộm cắp, sát nhơn và khoe khoan rằng mình đã đạt được các pháp của bậc cao nhân mà thực sự mình không có. Vị nào vi-phạm một trong bốn tội ấy tức thì không còn tỳ-khưu nữa. Ví dụ như có vị nào, chưa đắc quả Tu-đà-hườn mà nói rằng mình đã đắc (tội thứ tư) tức thì vị ấy không còn tỳ-khưu mà bị trục-xuất khỏi Gíao-Hội Tăng-Gìa.

     Ngoài bốn tội trọng ấy nếu một tỳ-khưu phạm giới nào khác thì phải sám hối.

     Để sống hoàn toàn trong sạch và vị-tha để kiểm soát và giữ gìn tâm luôn thanh tịnh, để thấy rõ chân tướng của sự vật, để có những ý-tưởng đúng-đắn và sâu rộng, để phát-triển thể cách và phẩm-giá cao-thượng của con người, để hoàn toàn xác-nhận được chân giá-trị của tinh-thần cao-thượng, không còn lối sống nào-thích-hợp hơn, không còn lối sống nào đem lại nhiều phương-tiện và nhiều cơ-hội thuận lợi hơn là đời sống của một vị tỳ-khưu.

     Một vị tỳ-khưu có thể sống trầm lặng ở một nơi vắng-vẻ, yên-tịnh hoặc là tích-cực hoạt động trong xã-hội. Lối sống cô-độc, trầm-lặng rất thích-hợp với lý-tưởng một vị tỳ-khưu. Y vàng tượng trưng cho sự trong sạch và khiêm tốn. Khi vị tỳ-khưu  khoác lên thân mình chiếc y vàng Ngài đã nhấm lấy mục-đích cuối cùng là diệt dục vọng để chứng đạo quả Niết-Bàn.

     Ta cũng nên ghi chú rằng đời sống của một vị tỳ-khưu hay là nói một cách khác, sự từ bỏ những thú vui và những khát vọng của đời chỉ là một phương tiện hưu hiệu để đạt mục đích cuối cùng. Sự xuất gia tự nó không phải là một cứu-cánh.

 

TRÍ-TUỆ (PAÑÑĀ)

     Trí-tuệ đi liền theo Xuất-gia.

     Trí-tuệ Ba-La-Mật là hiểu biết rõ-ràng đúng đắn, thấu-triệt chân-tướng của vạn pháp xuyên qua ánh sáng của ba lý vô-thường, khỗ não và vô ngã. Bồ-tát thường quán-tưởng về ba đặc-tánh ấy nhưng không đi sâu vào đề-mục như chư vị A-La-Hán vì mục-đích của Ngài không nhắm vào đạo quả Tứ Thánh mà là đắc quả Vô thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.

     Mặc dầu luôn luôn cố-gắng để đạt cho được thánh tuệ, Bồ-Tát không xem thường các sự hiểu biết của đời và hằng để tâm học hỏi với bất luận ai, dầu lớn nhỏ, cao thấp sang hèn. Không khi nào Ngài khoe-khoang sự thấy xa hiểu rộng của mình, nhưng không thẹn thùng nói ra giữa công-chúng những gì ngài chưa biết. Ngài không hề nói khoác. Bồ-Tát luôn sẵn-sàng dạy dỗ kẻ khác. Trí-tuệ của Ngài là vật sở hữu chung của mọi người. Không khi nào Ngài dấu ai điều chi.

     Trí-tuệ có ba loại. Trí-tuệ phát sanh bằng cách nghe lời dạy của người khác (Sutamaya Paññā) là loại thứ nhất. Xưa kia chưa có sách vở ấn-loát nên đi học có nghĩa là đến nghe lời thầy dạy rồi ghi nhớ lấy nằm lòng. Do đó những nhà học-giả thời bấy giờ gọi là “Bahusuta”tức là người đã nghe nhiều. Lối hiểu biết thứ nhì phát sinh ra sự suy-luận (cintā-maya Paññā). Phương-pháp-thực-hành và khoa-học của người Tây-phương là một sản-phẩm của lối hiểu biết này. Cách thứ ba để trở nên sáng suốt là khai-thông trí-tuệ bằng lối thực-hành thiền-định (Bhāvanāmaya paññā).

     Hai phương-pháp đầu chỉ đem lại cho ta sự sáng suốt về luận-lý thế-gian. Do hai phương pháp ấy ta chỉ có thể hiểu biết sư vật trong phạm-vi mà lý-trí có thể thấu đến. Nhưng, nhờ thiền-định, ta có thể chứng được bằng trực-giác những chân-lý ngoài phạm-vi của lý-trí. Bhāvanā hay là trạng-thái chú tâm vào đề-mục thiền-định không phải là tâm-trạng mơ màng tiêu-cực mà là một nổ lực linh động và tích cực. Chính nhờ thiền-định mà ta có thể vượt ra khỏi cảnh-giới vật-chất, nhờ thiền-định mà ta tự đặt mình vào trong đời sống có kỉ-cương, tự kiểm soát thân tâm, tự mình giác-ngộ và sáng suốt hoàn-toàn. Thiền-định là thuốc bổ cho cả tâm lẫn trí.

     Trí-tuệ là yếu-tố cực-kỳ quan-trọng trong Phật-Gíao. Trong Bát-chánh đạo, Chánh-kiến (Sammā diṭṭhī) đứng đầu. Trí-tuệ là một trong bảy nhân sanh quả Bồ-Đề (Dhamma vicaya Sambojjhanga). Trí-tuệ là một trong bốn năng-lực-để đạt Tứ-Thần-Túc (vīmaṅsaiddhipāda  ‒ nghiệm chứng bốn phép thần-thông; dục; niệm; tấn; tuệ) Trí-tuệ là một trong năm lực (Paññā-bala ‒ huệ-lực) và cũng là một trong năm căn (Pannindriya ‒ huệ-căn) tức là năm khả năng kiểm-soát tâm.

     Chính nhờ Trí-tuệ mà ta tiến đến chỗ trong sạch hoàn-toàn đến mức giãi-thoát cuối cùng vậy.

 

TINH-TẤN (VIRIYA)

   Tinh-Tấn mật-thiết liên-quan với Trí-Tuệ.

     Tinh-Tấn Ba-La-Mật là nghị-lực, trì-chí, cố-gắng, quyết-tâm đạt cho kỳ được mục tiêu cuối-cùng. Tinh-Tấn ở đây không phải là sức mạnh về vật-chất mặc dầu sức mạnh vật-chất cũng là một điều lợi. Tinh-Tấn ở đây là năng-lực của tinh-thần, sức khỏe của nội tâm, là nỗi-lực không ngừng, sự hoạt-động tích-cực của tâm trí và mọi hành-động nhằm vào mục đích phục-vụ kẻ khác. Bồ-Tát luôn luôn cố-gắng và luôn luôn tự-tin.

     Bác-sĩ Tagore, cũng là một vị Bồ-Tát, đã thảo ra những vần thơ về sự tinh-tấn, phỏng dịch ra như sau:

     “Trong cơn nguy-biến, ta không nên cầu xin được bảo-vệ. Ta hãy cần có đủ nghị-lực đủ quả cảm để vượt qua mọi trở ngại.

     “Trong sự đau khổ, ta không nên khấn vái nhờ ai cứu độ. Ta chỉ cần có đủ tâm-trí và can đảm để chế-ngự nó.

     “Chúng ta không nên thụ động sống trong lo âu sợ-sệt, chờ mong một tha lực nào đến cứu vãng. Ta phải luôn trì-chí, phấn đấu liên tục cho đến kỳ cùng để tự giải-thoát lấy ta.”

     Kinh Mahājanaka Jātaka (số 539) có diễn tả rõ-ràng thế-nào là Tinh-Tấn Ba-La-Mật của một vị Bồ-Tát: đi ngoài biển cả thuyền Bồ-tát bị đắm. Trong bảy ngày liên tiếp, không một chút chán nản, không hề tuyệt vọng, Ngài luôn muốn tranh-đấu cho tới lúc có người đến cứu.

     Thất bại là một bước đến sự thành-công. Chướng ngại, nghịch cảnh chỉ có thể cho ngài thêm nghị lực và ý-chí phấn-đấu và nguy-biến chỉ thêm can đảm cho Ngài. Khó khăn nặng nhọc chỉ làm rủn trí kẻ yếu, chướng ngại chỉ làm sờn lòng người tầm thường. Bồ-Tát vạch lối đi của mình xuyên qua mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại. Ngài nhắm thẳng đến mục đích cuối cùng và không có gì làm cho Ngài dừng bước.

     Khi Ma Vương đến khuyên Ngài nên từ bỏ cuộc đấu-tranh ngài không ngần-ngại trả lời: “Đối với ta, chết trong sự chiến đấu chống dục-vọng còn thập phần danh-dự hơn là sống thất bại.”

     Bồ-Tát dùng trí-tuệ để phục-vụ, Ngài cũng dùng tinh-tấn để đem lại sự an-lành cho kẻ khác. Thay vì tập-trung nỗ-lực vào trong lối sống hẹp-hòi và riêng-tư để thành-tựu mục-tiêu, Ngài hướng tất cả cố gắng về con đường hoạt-động lớn, mong tạo hạnh-phúc đại hồng cho toàn thể chúng sanh chung hưởng. Không hề biết mệt, biết chán, Bồ-Tát luôn luôn tích cực tạo sự yên vui cho tất cả, không chút ẩn ý vụ lợi, không trông mong một đặc ân nào.

     Đứng về một phương-diện, Tinh-Tấn-Ba-La-Mật lại còn quan-trọng hơn Trí-Tuệ Ba-La-Mật. Trong Bát-Chánh-Đạo, Chánh Tinh-Tấn (Samā Vāyāma hay Viriya) là ngăn ngừa không cho phát sanh những tư-tưởng xấu chưa phát sanh và làm cho những tư-tưởng lành đã phát sanh rồi càng nảy nở thêm lên. Tinh-Tấn là một Thất-Gíac-Chi bảy nhân sanh quả Bồ-Đề (Viriya Sambojjhanga ‒ Bồ-Đề Tấn). Tinh-Tấn là một Tứ Thần-Túc hay Tứ Căn-Thông (Viriyiddhipāda ‒ tấn thông). Tinh-Tấn là tác-động của bốn lối cố-gắng chánh-đáng (Sammappadhāna ‒ Tứ Chánh Cần) tức là tinh-tấn duy-trì pháp lành sẵn có và làm cho phát sanh pháp lành chưa có; Tinh-Tấn diệt trừ pháp ác đã có và ngăn ngừa không cho phát sanh pháp ác chưa có. Tinh-Tấn là một trong năm khả-năng kiểm-soát (Viriyaindriya ‒ tấn căn).

     Tinh-Tấn là pháp “đáo bĩ ngạn” một mình đảm đương chín tác-động. Tinh-Tấn hiệp với trí-tuệ thành một năng-lực vô cùng trọng-yếu có thể hoàn-tất mọi việc (Paññānuyātaṃ viriyaṃ vadanti sabattha siddhiggahanagghahattaṃ).

 

NHẪN-NẠI (KHANTI)

     Nhẫn-nại cũng quan trọng như Tinh-Tấn

     Nhẫn-nại Ba-La-Mật là chịu đựng những phiền-não mà người khác gây ra cho mình và gánh-chịu những lỗi-lầm của kẻ khác.

     Bồ-Tát hành pháp nhẫn-nại cho đến-đỗi nếu phải cắt đi một cánh tay hoặc một cái chơn cũng không uất-ức khó chịu.

     Một sự-tích trong kinh Khantivāda Jātaka (số 313) cho ta thấy rằng không những một vị Bồ-Tát vui-vẻ thọ nhận những khổ-hình do một ông vua say rượu truyền ra (Không chút xót thương, vua truyền lệnh cắt tay, chơn, mũi, tai của Bồ-Tát mà Ngài vẫn đối xử với sự tàn nhẫn ấy bằng lòng từ-bi và thành-thật cầu chúc cho vua được an-lành hạnh-phúc.

     Sau cùng, ngã lăn nằm trên vũng máu, Bồ-Tát thốt rằng: “Cầu cho Đức vua được trường-thọ, mặc dầu bàn tay độc ác của người đã xẻo thịt và cắt chơn tay tôi. Một tâm-hồn trong sạch không khi nào biết oán-giận”

     Khi Bồ-Tát bị ai làm tổn-thương Ngài nghĩ rằng: “Người làm hại ta hôm nay có lẽ đã quen biết với ta trong một kiếp quá-khứ nào và vô-tình hay cố-ý ta đã cột oan-trái với người ấy. Cũng có thể đây là quả xấu mà ta đã gieo nhân hồi nào trong dĩ-vãng. Chính đây là kết quả của một hành-động xấu của ta trong quá khứ. Tại sao ta trở lại oán giận người làm hại ta?”

     Nếu có một kẻ lãng-mạn đến trêu ghẹo hoặc gây-gổ với Bồ-Tát, Ngài cũng giữ tâm bình-thản.

     Về tính nhẫn-nại, trong kinh Kakacūpama Sutta Đức Phật có dạy: “Dầu có một bọn cướp đến bắt con và dùng gươm giáo cắt lìa tay chơn con đi nữa, con hãy luôn luôn giữ tâm trong sạch, vì nếu để cho tâm có những tư-tưởng không lành tức là con đã không làm theo đúng lời dạy của Như-Lai vậy…

     “Con hãy Tinh-Tấn rèn-luyện cho được như thế này: giữ cho tâm luôn trong sạch. Không khi nào thốt ra lời xấu. Khoan-hồng, bác-ái với một niềm từ. Không oán-giận, không có ác ý với ai. Những tư-tưởng từ-bi bác-ái của con bao trùm tất cả chúng sanh cho đến những tên cướp tàn-ác. Hằng ngày cố-gắng làm như vậy, con sẽ rãi ra khắp thế-gian một tình thương rộng lớn, bao-la, mỗi ngày mỗi phát-triển, vô-biên, vô lượng, một tình thương đem lại sự an-lành cho tất cả và coi tất cả là đồng-nhứt-thể”.

     Chúng ta là Phật-tử, hãy rán sức hành pháp nhẫn-nại và khoan-hồng. Thay vì thấy sự xấu xa của kẻ khác, hãy cố-gắng tìm cái tốt cái đẹp trong mọi người, mọi vật.

 

CHÂN-THẬT (SACCA)

     Chân-Thật là Ba-La-Mật thứ bảy.

     Sacca (chân-thật) nghĩa là giữ tròn lời hứa. Đó là một đặc-tính của Bồ-Tát. Bồ-Tát luôn luôn hành-động theo lời nói và nói theo hành-động (Yathāvādi tathākāri, tathākāri yathāvādi – nói sao làm vậy, làm sao nói vậy.)

     Theo kinh Harita Jātaka (số 431) Bồ-Tát không khi nào thốt ra một điều nào mà chính Ngài không nghĩ như vậy và nếu phải phạm nhằm trong bốn điều kiêng cữ của ngũ-giới Ngài cũng không hề nói dối.

     Chân- thật là kim chỉ-nam của Bồ-Tát. Ngài tự xem có bổn phận phải luôn luôn giữ lời. Trước khi hứa với ai điều nào Ngài thận-trọng suy-nghĩ, khi đã thốt ra lời rồi Ngài quyết-định phải giữ nhứt ngôn, dầu phải hy-sinh tánh mạng cũng ưng chịu.

     Trong kinh Hiri Jātaka (số 363) Bồ-Tát khuyên rằng:

     “Phải thực-hiện cho kỳ được những điều đã hứa.

     Phải biết từ-chối, không hứa những điều không làm được. Bực thiện-trí-thức không muốn thân-cận những người nói dối.”

     Kinh (Mahā Sutasoma Jātaka (số 537) cũng chép lại một tích của một vị Bồ-Tát hy-sanh mạng sống để giữ lời hứa: “Giống như sao mai ta thấy buổi sáng trên trời. Ngày nào như ngày nấy, lặng-lẽ xuất-hiện nơi vị-trí của nó không chút sai chạy. Năm tháng trôi qua, sao mai vẫn y hẹn. Lời nói của bực thiện trí-thức cũng phải đúng như vậy. Không khi nào lệch khỏi sự thật, không hề sai hẹn.”

     Một vị Bồ-Tát thật là chánh-trực, thành-thật và trong sạch. Nghĩ sao nói vậy và luôn luôn dung-hòa tư-tưởng, lời nói và việc làm.

     Trong mọi việc, luôn luôn ngay thẳng và không hề sai chạy. Không giả dối, không có chút sai-ngoa nào giữ thân tâm và lời nói của Ngài. Đời tư thế nào, đời công như thế ấy. Bồ-Tát không dùng lời nịnh bợ để mua lòng người khác, không hăng-hái nhứt thời để được đời ca-tụng, không khoe-khoang cái tốt, cũng không che đậy cái xấu của mình. Ngài khen tặng những ai đáng khen, chê trách những người đáng chê trách và làm như vậy không vì lý-do nào khác hơn là vì lòng bác-ái.

     Nhưng Bồ-Tát không nói tất cả sự thật. Sự thật nào không đem lại lợi-ích và hạnh-phúc cho kẻ khác thì Ngài không nói ra. Trái lại sự thật nào có lợi cho kẻ khác, dầu có bị thiệt hại đi nữa Ngài cũng nói ra.

     Bồ-Tát tôn-trọng lời nói của người như Ngài tôn-trọng lời nói của mình.

   

QUYẾT-ĐỊNH (ADHIṬṬHĀNA)

     Adhiṭṭhāna là quyết-định chắc chắc. Sự quyết-định nầy giúp cho nhiều Bồ-Tát hành các pháp Ba-La-Mật khác. Ta có thể so sánh pháp quyết-định với nền tảng một tòa nhà to lớn. Nhờ hùng-lực của một ý-chí bất thối, Bồ-Tát phá tan các chướng-ngại ngổng-ngang trên đường. Ngài một mực ngó ngay, nhắm thẳng mục-phiêu. Bịnh hoạn phiền-nảo, thất-bại v.v… không làm ngài chợp mắt lảng quên sứ-mạng thiêng-liêng của Ngài.

     Như Bồ-Tát Gotama đã quyết-định từ bỏ ngai vàng và cuộc đời vương-giả dể tìm giác-ngộ hoàn-toàn. Trong sáu năm trưởng thành Ngài phấn-đấu mãnh-liệt phi-thường, phải chịu đựng bao gian-khổ và phải đối phó với biết bao nổi khó-khăn. Rồi đến lúc quyết-định khi Ngài cần hơn lúc nào hết sự gúp đỡ bên ngoài, thì năm vị đệ-tử Ngài lại bỏ ra đi. Ngài vẫn bền gan, một lòng một dạ cố-gắng thêm và cố-gắng thêm mãi, cho đến lúc thành-tựu mục-tiêu cuối cùng.

     “Giữa rừng gìa một mình phấn-đấu. Không có chi làm lay-chuyển sự quyết-định của Ngài. Ngài không khác nào ngọn núi đá. Bão táp phong sương liên-miên dồn-dập, núi vẫn vững như trồng, chống chỏi trời cao.”

     Sự quyết-định của Bồ-Tát cứng như sắt vững như núi. Ngài tự đặt ra những nguyên-tắc để sống và không gì làm cho Ngài xa lìa nếp sống quy-củ ấy. Khuyến-khích Ngài làm điều thiện là một việc rất dễ, nhưng không có ai có thể xúi giục Ngài hành-động ngược lại nguyên-tắc của Ngài.

     Lắm khi Ngài mềm-mại và dịu-dàng như hoa, cũng có nhiều trường-hợp Ngài tỏ ra cứng rắn và vững chắc như đá.

   

TÂM-TỪ (METTĀ)

     Tâm Từ quan-trọng nhứt trong các pháp Ba-La-Mật.

     Chữ Mettā (Từ) trong phạn-ngữ có nghĩa là hiền lành, hảo-tâm, từ-ái, là tình huynh-đệ. Mettā là ý-nguyện cho mọi chúng sanh không từ bỏ một sanh-linh nhỏ bé nào, đều được an-vui hạnh phúc. Chính tâm-từ (Mettā) đã khiến cho Bồ-Tát từ khước sự giải-thoát riêng rẻ của mình để cứu-độ tha-nhân. Tâm Ngài đã thấm-nhuần lòng bác-ái vô biên đối với tất cả, không phân-biệt giai-cấp chủng tộc, tôn-giáo, nam nữ. Ngài là hiện thân của tình thương đại-hồng, không làm sợ mà cũng không sợ ai. Những con thú độc-chiếc ở giữa chốn núi rừng là những bạn thân-mến của Ngài và chính nhờ sống chung với loài cầm-thú mà Ngài đã nuôi cái tình tương-thân tương-ái ấy. Luôn luôn Ngài ôm ấp trong lòng một tình thương vô hạn đối với tất cả chúng sanh.

     Tâm-Từ (Mettā) trong Phật-Giáo không phải sự triếu mến riêng một người (Pema) cũng không phải tình thương xác thịt. Theo Phật-Giáo, người thù trực-tiếp của tâm-từ là sự oán-giận và người thù gián-tiếp của tâm từ là sự triếu-mến. Triếu-mến sanh ra lo sợ và phiền-não. Tâm-từ đem lại an-vui hạnh-phúc.

     Cũng nên ghi-chú một điều là trong khi thực-hành từ tâm, ta không quên mình. Mettā phải được rải cho kẻ khác như ta rải cho ta. Từ Tâm không phân-biệt “ta”và “người”. Tâm Từ trong Phật-Giáo bao gồm cả càn-khôn vạn-vật mà trong đó cũng có ta.

     Kinh Mahā Dhammapāla Jātaka (số 385) cho ta biết có một vị Bồ-Tát trẻ tuổi kia rải lòng từ-bi đồng đều luôn cả: cho người cha tàn-ác đã hạ lệnh hành-hình Ngài, cho tên đao-phủ cho người mẹ thân-ái đang xót xa than khóc và cho chính bản-thân từ-tốn của Ngài.

     Tâm Từ có một oai-lực rất huyền-bí và oai lực nầy có thể gieo ảnh-hưởng cho những người ở gần và những người ở xa. Một tấm lòng trong-sạch đã rải ra một oai-lực từ-ái như vậy có thể đổi dữ ra lành, đổi ác ra thiện, và có thể làm cho một con ác-thú trở nên ngoan-ngoản như chó như mèo, làm cho kẻ hùng-tợn sát nhơn trở thành một người hiền lành như thánh.

      Oai-lực huyên-bí ấy không phải tìm ở đâu xa lạ, nó nằm trong phạm-vi năng-lực của mọi người. Chỉ cần có một chút cố gắng là thực hiện được nó.

     Đức Phật đã có lần nói rằng: “Ta sống trên một ngọn núi, giữa đám sài lang hổ báo, và, để tự bảo vệ, không có cách gì khác hơn Tâm Từ của ta. Xung quanh ta là sư-tử, cọp, beo, nai hưu và các thứ ngoài ra rừng rậm cỏ hoang. Không có con vật nào sợ ta và ta cũng không sợ con vật nào. Chính oai-lực của từ-bi nâng đỡ, bảo-vệ và giúp ta sống yên-ổn.

     Khi ta thương người, tức nhiên người thương ta. Không có một động lực tương-phản nào, không có sự rung-động thù nghịch nào, không có tư-tưởng trái ngược nào có thể va-chạm đến một người đã được hào quang của từ-bi bảo-vệ. Tâm ta yên-tĩnh là ta sống trong cảnh thiên-đàng và cảnh thiên đàng ấy do chính ta tạo ra.

     Có tâm từ là có hạnh-phúc. Sống lân-cận với người có tâm từ cũng được hưởng phần nào mát mẽ. Nếu thường ngày ta trau-dồi và thực-hiện lòng từ-bi bằng lời nói và hành-động, tự nhiên bức màn ngăn-chận giữa “ta”và “người” lần lần tan rả. Sự phân-biệt giữa “người”và “ta” lần lần biến mất và cái “ta”sẽ đồng nhứt với cái toàn thể. Không còn ta nữa. Ta sẽ đồng-hóa với tất cả (Sabbatthtā). Đó là mức cuối cùng của tâm từ ‒ mettā.

     Một người Phật-tử chân-chánh phải hành pháp “Từ” đối với mọi chúng sanh và phải tự đồng-hóa với tất cả chúng-sanh không phân-biệt giai-cấp, tôn giáo, chủng tộc, nam nữ. Tâm Từ của Phật-Giáo phá tan mọi chấp-trước giữa người và người. Đối với một Phật tử chân-chánh không có người thân kẻ sơ, không có kẻ thù người lạ, không có hạng người bị ruồng bỏ, cũng không có hạng người cao sang quyền-quí phải sợ sệt không giám động đến. Tâm Từ đại đồng của Phật-Giáo căn-cứ trên sự sáng suốt. Tâm Từ của Phật-Giáo xây-dựng một tình huynh-đệ vững chắc giữa tất cả chúng sanh; người Phật-tử hẳn-thật là một công-dân thế-giới vậy.

 

TÂM XẢ (UPEKKHĀ)

     Xả là Ba-La-Mật thứ mười.

     Chữ Upekkhā do hai căn-nguyên “upa”và “ikkha”mà ra. “Upa” là đúng-đắn, chân-chánh, không thiên-vị. “Ikkha” là trông thấy, nhận-định, suy-luận. Vậy Upekkhā là trông thấy đúng-đắn, nhận-định chân chánh, suy-luận vô-tư. Không luyến-ái cũng không ghét bỏ. Không ưa thích cũng không oán-giận.

     Upekkhā (Xã) ở đây không phải “vô-ký” như theo nghĩa thông thường của nó. “Xã” không phải là lạnh-lùng, lãnh đạm, không màng đến sự-thế, cũng không phải là tâm vô-ký, không vui không buồn.

     Xã Bà-La-Mật cực-kỳ quan-trọng, mà cũng rất khó thực-hiện, nhứt là đối với hàng cư-sĩ là những người còn lăn-lóc trong thế-gian vô thường, biến đỗi.

     Khinh-rẻ, phỉ-bán, nguyền-rủa là thường tình. Ca-tụng, khiển-trách, đặng thua, hơn thiệt, đau khổ, hạnh-phúc cũng đều là những việc thường xảy ra trong đời. Giữa cuộc thăng-trầm của sự-thế, Bồ-Tát luôn luôn giữa tâm bình-thản. Giữa cơn giông-tố của trường đời, Bồ-Tát không hề xúc-động. Ngài cứng rắn và vững chắc như tảng đá to sừng sựng giữa trời. Đó là tâm Xã.

     Không vui cũng không buồn, được ca-tụng hay bị chê-trách, Bồ-Tát luôn luông thản-nhiên, vững như voi, mạnh như hổ. Tiếng động không làm cho ngài run sợ. Miệng lằng lưỡi mối không làm cho Ngài xúc động. Như gió, thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới. Ngài sống giữa chợ người mà không luyến-ái những lạc-thú huyền-ảo và vô-thường của đời. Như hoa sen, từ bùn dơ nước đục vượt lên trên bao nhiêu quyết-rủ của thế-gian Ngài riêng sống trong không khí tự do, luôn luôn yên tịnh, luôn luôn tinh-khiết và an-vui.

     “Trong hạnh-phúc, trong phiền não, lúc thăng, lúc trầm ta phải giữ tâm như đất.

     “Cũng như trên đất ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua dầu ngọt, dầu sạch dầu dơ, đất vẫn thản-nhiên, một mực trơ trơ. Đất không giận, cũng không thương”

     Một đặc-tính quan-trọng khác của Bồ-Tát là công-minh, chính-trực. Trong lúc xét-đoán Ngài giữ được tâm Xã nên không bị ảnh-hưởng của dục-vọng (Chanda), sân-hận (Dosa), sợ-sệt (Bhaya) và si-mê, mù quáng (Moha).

     Xuyên qua mười pháp Ba-La-Mật mà mỗi vị Bồ-Tát cố-gắng thực-hành cho đến tột-độ, ta có thể nói rằng đời sống Bồ-Tát là một gương hi-sinh cao-cả, có kỷ-luật nghiêm khắc, là sự từ-bỏ tất cả những gì thuộc về trần-gian; sự giác-ngộ hoàn-toàn, sự nhẫn-nhục, sự chân-thật, sự cố-gắng không ngừng, là một ý-chí sắt đá, một tinh-thần vững chắc và hoàn-toàn bình-thản

     Ngoài mười pháp Ba-La-Mật, Bồ-Tát còn phải giữ tròn ba đặc hạnh (Cariyā) là Buddhicariyā, làm việc thiện với trí-tuệ luôn luôn sáng suốt, Nāttyattha Cariyā, tích-cực hoạt-động để tạo sự an-lành cho thân-nhân, quyết-thuộc và Lokattha Cariyā là phục vụ tất cả chúng sanh để tạo một thế-gian toàn thiện.

     Trong ba hạnh, hạnh thứ nhì là tạo sự yên-lành cho thân-nhân quyến-thuộc. Đó không phải là thiên-vị, là đặt bà con thân-thuộc lên trên người khác mà chỉ vì những người này gần-gũi, thân-cận hơn. Đây không phải là một hành-động ích-kỷ mà là một việc làm hợp-lý.

     Giữ tròn ba đặt hạnh tốt đẹp và thực-hành đúng-đắn mười pháp Ba-La-Mật, trôi vạt đó đây theo dòng nghiệp-lực, sanh-tử, tử sanh trong vô-lượng kiếp, Bồ-Tát dần vượt qua những cơn bão táp của biển luân-hồi.

     Có khi Bồ-Tát tái-sanh làm trời Đế-Thích hoặc một vị trời tươi sáng nào. Lúc khác Ngài trở xuống làm người, sang hay hèn hoặc trở lại làm thú, để rồi sau cùng, khi đã thực-hiện hoàn toàn mười pháp Ba-La-Mật, Ngài tái-sanh lên cung trời Đấu-xuất (Tusita). Nơi đây Ngài chờ duyên kỳ trở xuống trần-gian lần cuối cùng, để hoàn-tất giai-đoạn tiến-hóa đến vị Chánh-Đẳng Chánh-Giác (Sammāsambuddha).

     Ta không nên tưởng lầm rằng Bồ-Tát cố-ý tái-sanh trong nhiều cảnh-giới khác nhau để thâu-thập kinh nghiệm. Không ai tránh khỏi được Nghiệp-quả và chỉ có luật Nhân-Quả quyết-định kiếp sống vị-lai của một sanh-linh. Chỉ có chư Phật và chư vị A-La-Hán là không còn tạo nghiệp mới và không còn luật Luân-Hồi-Quả-Báo chi-phối nữa.

     Tuy-nhiên, nhờ phước-báu dồi-dào, Bồ-Tát cũng có vài oai-lực đặc-biệt. Thí-dụ như Ngài sanh trong cảnh phạm-thiên, mà đời sống ở cõi nầy dài thâm-thẫm. Ngài có thể dùng nguyện-lực mạnh mẽ của Ngài để chấm-dứt đời sống ở đây và tái-sanh trong một nơi mà Ngài có thể hành mười pháp Ba-La-Mật, dễ dàng hơn.

     Chú-giãi kinh Jātaka chép rằng cảnh-giới mà Bồ-tát có thể dùng nguyện-lực chuyển-kiếp tái-sanh vào đó (Abhimuttakālakiriya ‒ cái chết theo ý muốn) còn có 18 cảnh-giới khác mà một vị Bồ-Tát, dầu muốn dầu không, không khi nào tái-sanh trong cảnh câm hay điếc hoặc làm một chúng sanh hoàn toàn tà-kiến (Niyata Micchādiṭṭhi) tức là không tin tưởng nơi luật Nhâ-Quả. Bồ-Tát có thể tái sanh trong cảnh súc-sanh nhưng dưới hình-thức một con thú không lớn hơn con voi và không nhỏ con chim mỏ-nhác.

    Ngài có thể bị đọa trong khổ-cảnh (Apāya) nhưng không đến nỗi phải lâm vào trạng-thái cực-kỳ khổ-sở của cảnh này. Bồ-Tát không tìm cách tái-sanh trong cõi thanh-cảnh (Suddhāvāsa) là cảnh giới mà chư vị A-Na-Hàm, sau khi bỏ xác, về đó an-nghĩ trước khi đạt thành quả-vị A-La-Hán. Ngài cũng không muốn tái-sanh vào những cảnh-giới vô sắc (Arūpaloka) vì nơi đây Ngài không có cơ hội để phục-vụ.

Ta lại có thể hỏi rằng: “Một vị Bồ-Tát có biết rằng trong vô lượng kiếp luân-hồi Ngài sẽ trở thành Phật không?”

Một vài khi Ngài biết. Lắm khi cũng không biết.

Theo kinh Jātaka, Bồ-Tát Gotama biết trước rằng sau khi hết sức cố-gắng, Ngài sẽ đắc quả Phật. Kinh Visayaha Seṭṭhi Jātaka (số 340) chép rằng một ngày kia trời Đế Thích (Sakka) đến làm lễ Đức Phật và hỏi tại sao Đức Phật có tâm lực vô cùng vô tận như vậy. Đức Phật trả lời rằng vì Ngài không có ý-định riêng hưởng một hồng-ân nào trong tam-giới (Dục-giới, Sắc-giới và Vô-sắc-giới) mà mục-đích của Ngài là chứng-đạt cho kỳ được đạo quả tối thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.

Trái lại, trong vài kiếp khác, chẳng hạn như kiếp Ngài làm Jotipala (Ghatīkāra Sutta số 81, Majjhima Nikāya) chẳng những Ngài không nhớ đến chí-nguyện cao-cả của Ngài mà còn súc-phạm đến một vị Phật-tổ, Đức-Phật Kassapa đã khai tâm điểm đạo cho Ngài lần cuối-cùng.

Chúng ta là những người đã tận dụng đời sống quý-báu nầy để phục-vụ thế-gian, chúng ta cũng có thể trở thành một vị Bồ-Tát. Ta không nên tin tưởng rằng lý-tưởng của Bồ-Tát hay là Bồ-Tát-Đạo chỉ dành riêng cho hạng người xuất-chúng. Cái chi mà một người làm được, người khác cũng có thể làm được. Miễn là có đủ hùng-lực và cố-gắng cần-thiết thì việc chi cũng thành-tựu.

Vậy, ta cũng nên nổ-lực tích-cự lập công bồi đức để tạo sự an-lành cho ta và cho kẻ khác. Và ta cũng nên chọn lấy lý-tưởng phục-vụ cao cả và toàn thiện để làm mục-phiêu cho đời sống ta.

Phục-vụ để trở nên hoàn-toàn và hoàn-toàn để phục-vụ.




[1] Pārami do chữ ‘pāram’ có nghĩa là ‘bên kia’ sự sáng suốt, sự giác-ngộ và chữ ‘i’ là ‘đi’. Theo nghĩa trắng, pārami là cái gì có thể đưa ta qua bờ bên kia, ‘đáo bĩ ngạn’.

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang