" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 D

Di huấn tối hậu của Đức Phật

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Xuất tam thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập sơ thiền. Xuất sơ thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền Ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền, và tức khắc sau đó Đức Phật cuối cùng nhập diệt.
Di huấn tối hậu của Đức Phật

                                                                    


 

NARADA

Maha Thera

 

 

 

DI HUẤN TỐI HẬU

CỦA

ĐỨC PHẬT

(The Buddha’s Parinibbana –

The Buddha and His Teachings)

 

 

Dịch giả: PHẠM KIM KHÁNH

LỜI NÓI ĐẦU

Đại đức Nārada Mahā Thera, một vị tỳ khưu Tích Lan cao hạ, giới đức trang nghiêm, thông suốt Tam Tạng, đã dày công dạy dỗ chúng tôi những phương pháp tu học cần yếu về ba phương diện: phụng sự Tam Bảo, xây dựng bản thân và công tác từ thiện xã hội.

Nhờ sự hướng dẫn sáng suốt của Đại đức Nārada, chúng tôi đã thâu thập ít nhiều kết quả. Không biết lấy chi đền đáp ân đức cao dày mà Ngài đã ban bố cho chúng tôi, nay nhân ngày kỉ niệm sanh nhựt thứ 71 của Ngài (14-7-1969), chúng tôi mạn phép phiên dịch ra Việt văn một đoạn về “Những Lời Di Huấn Tối Hậu Của Đức Phật” trong tác phẩm “The Buddha and His Teachings” do Ngài công khó soạn ra bằng Anh ngữ, để ấn tống, tạo phúc và hồi hướng quả lành đến bực ân nhân. Chúng tôi thành thật ước mong rằng quả lành này sẽ hộ trì Ngài luôn luôn khỏe mạnh, thân tâm an lạc và mạnh tiến đến đạo quả Niết Bàn.

 Cầu xin Tam Bảo chứng minh

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Toàn thể môn sinh Việt Nam của Đại Đức Nārada Māha Thera.                                                                                                          Sài Gòn ngày 14 tháng 7 năm 1969.


 

“Mặt trời rọi sáng ban ngày, trăng tỏ ban đêm. Nhưng giáp và gươm đao chói sáng nhà vua khi lâm trận. Lúc thiền định hào quang chư Phạm Thiên chiếu sáng. Nhưng ngày như đêm Đức Phật rực rỡ sáng lòa trong vinh hạnh”.

Pháp Cú Kinh.

Đức Phật là một nhân vật phi thường. Tuy nhiên còn mang xác thân ngũ uẩn, Ngài vẫn còn phải bịnh hoạn, già yếu và tịch diệt một ngày nào như tất cả chúng sanh. Ngài biết đến năm tám mươi sẽ viên tịch. Vốn người khiêm tốn, Ngài quyết định trút hơi thở cuối cùng, không phải ở các đô thị lớn như Savatthi hay Rajagaha nơi Ngài thường ngự và có nhiều tín đồ, mà ở trong một làng mạc xa xôi hẻo lánh như Kusinara.

Theo lời của chính Đức Phật lúc tám mươi tuổi, thể xác của Ngài tựa hồ như “một cái xe quá cũ”. Dầu tuổi đã già, sức đã yếu, nhưng với ý chí sắt đá và dũng mãnh, Ngài đi bộ trên con đường dài dẵng và khó khăn cùng với vị đề tử hầu cận thân mến, Đại Đức Ananda. Cũng nên ghi rằng hai vị đại đệ tử Đức Xá- Lợi- Phất và Đức Mục- Kiền- Liên nhập diệt trước Ngài. Hai vị tỳ khưu La- Hầu- La và Tỳ Khưu Ni Da-Du-Đà-La cũng vậy.

Ngài bắt đầu cuộc hành trình cuối cùng từ Rajagaha, kinh đô xứ Magadha.

Trước khi Ngài rời Rajagaha vua A-Xà-Thế (Ajatasattu) có sai vị đại thần tên Vassakāra đến thăm dò ý Đức Phật về mưu định của nhà vua muốn gây chiến với nước Cộng hòa Vajji, thưở ấy rất trù phú.

Điêu Kiện Thịnh Suy

Đức Phật dạy:

1.             Ngày nào mà người xứ Vajji còn thường gặp gỡ và tụ họp đông đảo với nhau.

2.             Ngày nào mà người dân xứ Vajji còn tụ họp trong tinh thần đoàn kết, vươn mình tiến triển trong tinh thần đoàn kết và làm tròn nhiệm vụ trong tinh thần đoàn kết.

3.             Ngày nào mà người xứ Vajji không ban hành những đạo luật mới mẻ, chưa từng được ban hành, không hủy bỏ những đạo luật sẵn có và sống thích hợp với những qui tắc cổ truyền.

4.             Ngày nào mà người dân xứ Vajji còn hộ độ, tôn sùng, kính trọng và đảnh lễ các bực trưởng lão Vajji và nghe lời dạy xứng đáng của các vị này.

5.             Ngày nào mà không còn một người đàn bà hay một người con gái nào trong gia đình người dân xứ Vajji bị quyến rũ hay cưỡng ép phải sống với kẻ ngoại nhân.

6.             Ngày nào mà người dân xứ Vajji còn bảo hộ, tôn trọng, kính nể và làm vẻ vang các tôn miếu của họ dầu ở trong hay ở ngoài tỉnh thành, và không xao lãng những nghi lễ cổ truyền.

7.             Ngày nào mà người dân xứ Vajji còn bảo bọc, binh vực và nhiệt thành ủng hộ các vị A-la-hán, khiến các vị nào chưa đến sẽ đến trong xứ và vị nào đã đến được sống yên lành.

Ngày nào mà bảy điều kiện trên còn được thực hiện thì dân tộc Vajji không thể suy đồi, trái lại còn cường thịnh hơn trước.

Khi nghe bảy điều kiện để một quốc gia được phồn thịnh và dân cư được sống yên lành, vị đại thần Vassakara xin cáo từ Đức Phật, biết rằng vua xứ Ma-Kiệt-Đà (Magadha) không thể nào chiến thắng được quốc vương xứ Vajji.

Nhân dịp này, vì lợi ích của chư đệ tử, Đức Phật truyền dạy bảy điều kiện thịnh suy của chúng Tăng. Ngài truyền đức Ananda triệu tập tất cả các vị tỳ khưu lúc ấy có mặt tại Rajagaha để dạy:

1.        Này hỡi các đệ tử, ngày nào mà chư tỳ khưu còn thường gặp gỡ và tụ họp với nhau.

2.        Ngày nào mà chư tỳ khưu còn tụ họp trong tinh thần đoàn kết, vươn mình tiến triển trong tinh thần đoàn kết, làm tròn nhiệm vụ Tăng sĩ trong tinh thần đoàn kết.

3.        Ngày nào mà chư tỳ khưu không tạo ra những giới luật mới mẻ, chưa từng được ban hành và nghiêm trì những giới luật đã được ban hành.

4.        Ngày nào mà chư tỳ khưu còn hộ trì, kính trọng và đảnh lễ những vị cao hạ có nhiều kinh nghiệm, bực cha của chúng Tăng, những người chưởng quản Giáo Hội và kính trọng những lời dạy quí báu của các Ngài.

5.        Ngày nào mà chư tỳ khưu không bị ảnh hưởng của sự tham ái có thể phát sanh bất cứ lúc nào và lôi cuốn các vị trong vòng sanh tử triền miên.

6.        Ngày nào mà chư tỳ khưu còn tìm thích thú trong sự chú tâm thiền định ở những nơi vắng vẻ nhàn tịnh.

7.         Ngày nào mà chư tỳ khưu còn cố gắng phát triển tâm niệm khiến các bạn đồng tu chưa đến có thể đến ở và các đạo hữu đã đến được sống yên lành.

Ngày nào mà bảy điều kiện cần thiết ấy còn được thực hiện đầy đủ thì các tỳ khưu không thể suy đồi, trái lại còn phồn thịnh hơn trước. Ngày nào mà bảy điều kiện an toàn ấy còn được bảo tồn và duy trì trong hàng Tăng chúng, ngày nào mà các tỳ khưu được dạy dỗ rành rẽ trong tinh thần bảy điều kiện ấy thì chúng tỳ khưu không thể suy đồi, trái lại còn phồn thịnh hơn.

Rồi với tâm từ bi vô lượng vô biên, Đức Phật rọi sáng thêm cho các vị tỳ khưu bảy điều kiện an toàn khác như sau:

“Ngày nào mà chư tỳ khưu không còn tham muốn, thích thú hay dấn thân trong thế sự, trong những câu chuyện ngồi lê đôi mách, trong sự ưa thích ngủ nghỉ, trong sự dể duôi để câu chuyện ngoài đời lôi kéo. Ngày nào mà chư tỳ khưu không còn chứa chấp hay rơi vào ảnh hưởng của những khát vọng thấp hèn. Ngày nào mà chư tỳ khưu không còn bạn bè xấu xa hay những khuynh hướng đê tiện.

Ngày nào mà bảy điều kiện trên được thực hiện đầy đủ thì các tỳ khưu sẽ không dừng bước giữa chừng, không ngừng cố gắng khi đã thành đạt một vài kết quả trên đường tu học và không bỏ lỡ công trình trước khi đắc quả A-La-Hán”.

Trong một cơ hội khác Đức Phật dạy rằng ngày nào mà chư tỳ khưu còn có tâm đạo vững chắc, khiêm tốn, chuyên cần, cố học, kiên cố tin tấn, luôn luôn giữ tâm niệm và phát triển trí tuệ thì các thầy không thể suy đồi mà trái lại còn phồn thịnh hơn.

Lời Tán Dương Của Đại Đức Xá Lợi Phất.

Sau khi thuyết nhiều bài pháp để dẫn dắt chư vị tỳ khưu. Đức Phật rời Rajagaha cùng Đại đức Ananda đi Ambalatthika rồi từ đó đến Nalanda. Nơi đây Ngài ngự tại vườn xoài Pavarika. Trong dịp này Đại đức Xá-Lợi-Phất đến hầu Đức Phật và tán dương trí tuệ của Đức Phật như sau: “Bạch hóa Đức Thế Tôn, con rất lấy làm thỏa thích, con tin tưởng nơi Đức Phật đến nổi trong quá khứ, trong tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một đạo sĩ hay Bà-la-môn nào cao siêu hơn Đức Thế Tôn về phương diện chánh giác”.

Đức Phật không chấp nhận một lời ca tụng tương tợ do đệ tử Ngài thốt ra. Ngài nhắc Đại đức Xá-Lợi-Phất rằng chính Đức Xá-Lợi-Phất không thông hiểu đầy đủ công đức chư Phật trong quá khứ và ở vị lai.

Đức Xá-Lợi-Phất kính xác nhận rằng Ngài không am hiểu đầy đủ tất cả các bực Chánh Đẳng Chánh Giác vô thượng, nhưng Ngài vẫn giữ lời chính Ngài đã hiểu biết truyền thống Chánh Pháp, tiến trình mà tất cả chư Phật đều phải trải qua trước khi đắc quả vô thượng bằng cách diệt trừ năm pháp triền cái (1) tham dục (2) sân hận (3) dã dượi và hôn trầm (4) xao động và phóng dật và (5) hoài nghi, bằng cách dùng trí tuệ làm giảm suy những khát vọng mạnh mẽ trong tâm, trọn vẹn an trú tâm vào Tứ niệm xứ và chân chánh phát triển bảy yếu tố của sự giác ngộ (Thất giác chi).

Pataliputta

Từ Nalanda Đức Phật đến Pataligama. Ở đây hai vị đại thần xứ Ma-Kiệt-Đà (Magadha) là Sunidha và Vasakāra đang xây thành đắp lũy để phòng thủ và ngăn chặn người xứ Vajji, lúc ấy rất hùng cường và phồn thịnh. Đức Phật ngự trong một căn nhà bỏ trống. Khi nhận thấy hằng ngàn vị trời đến ở đó đây trong khắp vùng Ngài nói trước rằng Pataliputta sẽ trở nên một thị trấn quan trọng, một trung tâm thương mãi, một nơi trao đổi hàng hóa. Nhưng về sau phải bị ba hiểm họa là lửa, nước và phân tranh.

Khi hay tin Đức Phật đến Pataligama, các vị đại thần đến thỉnh Ngài cùng với chư đệ tử về nhà trai tăng. Sau khi thọ thực xong Đức Phật dạy:

“Dầu cư trú nơi nào người khôn ngoan sáng suốt luôn luôn thận trọng.

Hết lòng nâng đỡ chư huynh đệ, những người tốt biết tự kiểm soát.

Và hồi hướng phước báu đến các vị trời cư ngụ trong vùng.

Kính nể, chư Thiên sẽ kính nể. Tôn trọng, chư Thiên sẽ tôn trọng người sáng suốt, thận trọng.

Chư Thiên sẽ đối xứ với người ấy một cách dịu dàng, nhã nhặn như bà mẹ hiền đối xử với con, đứa con duy nhất của bà.

Và người mà chư Thiên chiếu cố sẽ được nhiều may mắn.”

Nhân dịp Đức Phật đến viếng, dân chúng đặt tên cổng thành là “cổng Gotama”, và cũng định ý đặt chiếc đò đưa Đức Phật qua sông Ganges (Hằng), lúc ấy đang ngập lụt là chiếc “đò Gotama”, nhưng Đức Phật dùng thần thông cùng chư đệ tử sang sông trong lúc ai nấy đang nhộn nhịp sửa soạn đò.

 

Những Cảnh Giới Tương Lai

Từ bờ sông Hằng Đức Phật đi đến Kotigama và từ đó đến làng Nādika và ngự trong nhà gạch. Nhân dịp này Đại đức Ananda đến gần Đức Phật, cung kỉnh hỏi thăm Ngài về cảnh trạng tương lai của nhiều người trong làng đã quá vãng, Đức Phật nhẫn nại kể lại số phận của từng người rồi, Ngài dạy làm thế nào đệ tử của một đấng Thế Tôn thành đạt “Gương trong của chân lý” để có thể nói trước rằng:

“Ta sẽ không còn tái sanh vào khổ cảnh, cảnh thú, cảnh giới Peta, những cảnh phiền não, tội lỗi và thấp hèn. Ta đã nhập lưu không thể còn rơi trở lại vào ác đạo và sự chứng ngộ cuối cùng đã được đảm bảo”.

 

Pháp Kính Hay Gương Chánh Pháp (Dhammadasa)

“Này Ananda, gương Chánh Pháp là gì?

Là gương lành của người đệ tử cao thượng, đặt trọn vẹn niềm tin vào nơi Đức Phật và suy gẫm về các ân đức của Ngài như sau: Ngài hẳn thật là bực Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Toàn Tri, Thế Tôn”.

“Người đệ tử cao thượng đặt trọn vẹn niềm tin nơi Đức Pháp và suy gẫm về các đặc tính của Pháp như sau: Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn khéo giảng dạy và được truyền bá đầy đủ là để tự chứng ngộ, có hiệu năng tức khắc, khuyến khích sự tìm tòi suy gẫm, dẫn đến nơi (Niết Bàn) để bực thiện trí thức am hiểu, mỗi người cho riêng mình.”

“Và người đệ tử cao thượng đặt trọn vẹn niềm tin nơi Đức Tăng và suy gẫm về đặc tính của Giáo Hội Tăng Già như sau: Giáo Hội các đệ tử của Đức Thế Tôn có đức hạnh toàn hảo, các Ngài có phẩm hạnh toàn hảo, các Ngài có phẩm hạnh chân chánh. Các Ngài có phẩm hạnh của bực trí tuệ. Các Ngài là những vị đã thành đạt bốn đạo và bốn quả Thánh. Giáo Hội các đệ tử của Đức Thế Tôn là bực xứng đáng thọ lãnh những lễ vật cúng dường và chỗ ở. Các Ngài là bực xứng đáng được lễ bái, là phước điền vô thượng trên thế gian.”

“Vị đệ tử cao thượng trở nên người có phẩm hạnh thích hợp với chư Phật, phẩm hạnh vững chắc, không thể sứt mẻ, hoàn toàn trong trắng, không một vết ô nhiễm, hoàn toàn khinh khoát, phẩm hạnh mà bực thiện trí tán dương, mà không có khát vọng trần tục nào có thể làm hoen ố, phẩm hạnh thuận chiều đưa đến tâm định.”

Từ Nādika Đức Phật lần hồi đến thành Vesāli, lúc bấy giờ rất phồn thịnh, và ngự tại khu vườn của Ambapāli một cô gái giang hồ rất đẹp. Biết thế nào Ambapāli cũng đến, Đức Phật thận trọng khuyên dạy chư đệ tử phải luôn luôn chú tâm an trú Chánh niệm và giác tỉnh, và Ngài dạy chư tỳ khưu con đường dẫn đến tâm định.

 

Ambapāli

Khi Ambapāli được tin Đức Phật ngự tại vườn xoài của mình, thì nàng đến cung kỉnh Đức Phật cùng chư đệ tử về nhà trai tăng ngày hôm sau, Đức Phật nhận lời và từ chối lời thỉnh cầu đến sau của các nhà quí phái Licchavi. Các vị quí phái này đến gặp cô Ambapāli và hứa sẽ đền bù bằng một số tiền rất lớn nếu nàng khứng chịu nhường bữa trai tăng. Nhưng cô Ambapāli lễ phép khước từ.

Ngày hôm sau Đức Phật đến nhà Ambapāli. Sau bữa trai tăng, cô gái trước kia là giang hồ phát tâm vô cùng trong sạch, kính dâng lên Đức Phật và chư đệ tử vườn xoài rộng lớn (về sau có xin xuất gia và đắc quả A-La-Hán).

Lúc ấy nhằm mùa mưa Đức Phật dạy các đệ tử nên nhập hạ bên trong hoặc ở quanh thành Vesāli. Còn Ngài quyết định nhập hạ tại Beluva, một làng nhỏ bé gần thành Vesāli. Đây là hạ thứ bốn mươi lăm và cũng là hạ cuối cùng của Ngài.

 

Đức Phật Lâm Bệnh

Trong năm ấy, Đức Phật lâm bịnh trầm trọng và rất đau đớn, gần như sắp chết. Nhờ có một ý chí sắt đá, Ngài giữ tâm chánh niệm giác tỉnh, và chịu đựng cơn đau, không một lời rên siết.

Đức Phật biết rằng đã đến lúc Ngài sắp lìa bỏ thế gian. Nhưng Ngài nghĩ rằng sẽ không hợp lẽ nếu Ngài ra đi mà không có vài lời đến vị đệ tử hầu cận và nhắc nhở Giáo Hội. Do đó Ngài khắc chế bịnh trạng bằng thiền định (thọ hưởng hạnh phúc Niết Bàn, Jivita Samkharam adhitthaya).

Liền sau khi Đức Phật bình phục, Đại đức Ananda đến hầu Ngài, biểu lộ lòng vui mừng được thấy Ngài khỏi bịnh và tỏ ra lấy làm yên trí được biết rằng Đức Phật sẽ không ra đi trước khi có lời khuyên nhủ Giáo Hội. Câu trả lời của Đức Phật rất ý nhị và nên được ghi nhớ, bộc lộ rõ ràng tính chất đặc biệt của Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).

 

Lời Kêu Gọi Của Đức Phật

“Này Ananda, Giáo Hội các dệ tử còn mong mỏi gì nữa ở Như Lai? Như Lai đã truyền dạy giáo pháp không có sự phân biệt nào giữa giáo lý bí truyền và giáo lý công truyền[1]. Về các chân lý Như Lai không khi nào có bàn tay nắm lại của một ông thầy. Có người nghĩ rằng “chính ta sẽ lãnh đạo Giáo Hội các tỳ khưu” hoặc “Giáo Hội tỳ khưu sẽ tùy thuộc nơi ta” hoặc “chính Đức Phật phải dạy điều gì có liên quan tới Giáo Hội”.

Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng có người nào phải lãnh đạo Giáo Hội các tỳ khưu hoặc Giáo Hội phải tùy thuộc người nào. Tại sao Như Lai phải truyền dạy một điều nào có liên quan đến Giáo Hội?

Này Ananda, bật giờ Như Lai đã kiệt lực, già yếu và gần đến ngày lìa trần. Như Lai đã tám mươi không khác nào cỗ xe quá cũ kĩ, phải cần có những sợi dây để cột lại các bộ phận để nó khỏi rã rời ra, thân của Như Lai cũng cần những sợi dây thừng tương tợ (Vedhammissakena).

Này Ananda, lúc nào Như Lai yên lặng không có dấu hiệu của sự sống, tâm an trụ vào một điểm bằng cách chấm dứt mọi cảm thọ và không biết gì đến sự vật xung quanh, đến lúc ấy thân của Như Lai mới thật là thoải mái (Đức Phật ám chỉ hạnh phúc Niết Bàn).

Vậy này Ananda, hãy tự coi chính con là hải đảo của con, chính con là chỗ nương tựa của con, không nên tìm nương tựa bên ngoài. Hãy xem giáo pháp như hải đảo của con, giáo pháp như chỗ nương tựa của con, không nên tìm nương tựa ở bên ngoài.

Này Ananda, một thầy tỳ khưu phải sống cách nào như coi chính mình là hải đảo, là chỗ nương tựa của mình, không tìm nương tựa bên ngoài? Xem giáo pháp như hải đảo, như chỗ nương tựa, không đi tìm nương tựa bên ngoài?

Đây này Ananda, một thầy tỳ khưu sống chuyên cần, tin tấn, giác tỉnh, chánh niệm, từ khước mọi tham ái trong thế gian, luôn luôn phát triển tâm định đối với thân, thọ, tâm và pháp.[2]

Dầu ngay hiện giờ hay sau khi Như Lai nhập diệt, người nào sống đúng theo như vậy, xem chính mình như hải đảo của mình, như chỗ nương tựa của mình, không tìm nương tựa đâu bên ngoài. Xem giáo pháp như hải đảo, như chỗ nương tựa, không tìm nương tựa nơi đâu bên ngoài, những thầy tỳ khưu ấy sẽ đứng hàng đầu trong những người sống hoàn toàn theo giới luật.”

Ở đây, Đức Phật đặc biệt ghi nhận tầm quan trọng của sự cố gắng cá nhân để đạt mục tiêu tối hậu là tự thanh lọc và giải thoát ra khỏi mọi phiền não khổ đau của đời sống. Cầu xin van vái hay lệ thuộc vào người khác thì không có hiệu quả gì.

Nhưng ta có thể tự hỏi tại sao người Phật tử lại tìm nương tựa nơi Đức Phật, Pháp và Tăng trong lúc mà rõ ràng Đức Phật dạy rành mạch rằng không nên tìm nương tựa nơi đâu khác, ngoài chính mình? Trong khi tìm nương tựa nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), người Phật tử chỉ xem Đức Phật là một vị thầy, một huấn luyện viên đã vạch ra con đường giải thoát, Pháp như con đường duy nhứt hay phương tiện duy nhứt và Tăng như những gương lành của một lối sống nên noi theo. Người Phật tử không bao giờ nghĩ rằng chỉ có việc nương tựa nơi Tam Bảo (qui y) không, cũng đủ để giải thoát.

Mặc dù tuổi đã cao, sức đã yếu, Đức Phật chẳng những vận dụng mọi cơ hội để khuyên dạy chư tỳ khưu bằng nhiều lối khác nhau, mà còn đều đều đi bát khi nào không có lời thỉnh mời đi thọ thực. Một ngày kia Ngài vào thành Vesāli trì bình khất thực như thường lệ và sau khi cùng Đại đức Ananda độ ngọ xong tại đền Cāpāla, Ngài dạy như sau:

“Người nào đã trao dồi, phát triển, thật lão luyện, thật chắc chắn, chứng nghiệm, thực hành và hoàn toàn thuần thục, điêu luyện bốn phương tiện để đạt đến sự  thành tựu mỹ mãn (Tứ thần túc: Iddhipāda) có thể, nếu người ấy muốn sống được một kiếp sống (Kappa ở đây có nghĩa là một đời sống khoảng trăm năm) hay có thể thêm chút ít (Kappāvasesam, nghĩa là thêm một phần của một Kappa, lối 120 năm). Này Ananda, Như Lai trao dồi, phát triển, thật lão luyện, thật chắc chắn bền vững, chứng nghiệm, thực hành và hoàn toàn thuần thục điêu luyện tứ thần túc. Nếu muốn, Như Lai có thể sống thêm một kiếp hay thêm chút ít.”

Kinh sách thêm rằng “Mặc dù lời gợi ý rất là rõ rệt và hiển nhiên, Đại đức Ananda lúc ấy không hiểu được để thỉnh cầu Đức Phật sống thêm một kiếp sống nữa, vì lợi ích, vì sự tốt đẹp và hạnh phúc cho nhiều chúng sanh, vì lòng từ bi, vì lợi ích, vì sự tốt đẹp và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại.”

Về sự thiếu sót này kinh sách cho rằng lúc ấy tâm của Đại đức Ananda bị Ma vương ám ảnh.

 

Đức Phật Báo Trước Ngày Nhập Diệt

Đức Phật xuất hiện trên thế gian để truyền dạy cho những người muốn tìm chân lý, thực tướng của vạn vật và con đường duy nhất để thoát ra khỏi mọi phiền não khổ đau của đời sống. Trên con đường hoằng Pháp dài dẳng và vô cùng rực rỡ Ngài đã thực hành sứ mạng cao cả quí trọng ấy một cách mỹ mãn và lợi ích cho Ngài và cho hàng tín đồ. Vào năm tám mươi Ngài thấy nhiệm vụ đã hoàn thành viên mãn. Ngài đã truyền dạy tất cả những điều cần thiết cho những ai muốn cố gắng theo chơn Ngài, cả bực xuất gia lẫn hàng cư sĩ, và chẳng những các vị này đã nắm vững giáo lý, mà còn có đủ khả năng để rộng truyền đến kẻ khác. Do đó Đức Phật quyết định không dùng ý lực và thiền định để duy trì mạng sống và giữ sức khỏe trong những ngày còn lại. Lúc ấy, ngự tại đền Cāpāla Ngài báo trước cho Đại đức Ananda rằng trong ba tháng nữa Ngài sẽ nhập diệt.

Lúc bấy giờ Đức Ananda vội vã nhắc lại Phật ngôn và thỉnh cầu Ngài sống thêm một kiếp nữa, vì sự tốt đẹp và hạnh phúc của tất cả.

_Đã đủ rồi này Ananda, không nên khẩn cầu Như Lai, thời gian cầu khẩn ấy đã qua. Đức Phật trả lời.

Rồi Đức Phật giảng về tính cách vô thường của đời sống và cùng đi với Đại đức Ananda đến Mahavana. Đức Phật bảo Đại đức Ananda triệu tập tất cả các vị tỳ khưu lúc ấy đang cư trú quanh thành Vesāli và dạy: “Bất luận chân lý nào mà Như Lai đã truyền dạy các con phải khéo học hỏi, thực hành, trao dồi và phát triển đầy đủ để đời sống thiêng liêng được duy trì trường tồn vĩnh cửu, vì tình thương chúng sanh, vì sự tốt đẹp và hạnh phúc của nhiều người, vì sự tốt đẹp và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại.

Những chân lý ấy là gì?

_Là Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc, Ngữ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, và Bát chánh đạo[3].

Rồi Đức Phật nói lên những lời kêu gọi sau đây và tuyên bố cho các vị tỳ khưu biết ngày nhập diệt.

 

Những Phật Ngôn Tối Hậu

“Hãy nhìn lại đây các tỳ khưu, Như Lai dạy các con, tất cả các pháp sanh ra do điều kiện (các pháp hữu lậu) đều là vô thường. Hãy liên tục tận lực và chuyên cần, Như Lai đã sắp đến ngày nhập diệt, còn ba tháng nữa là Như Lai sẽ từ giã các con.

Như Lai đã đến tuổi, đời sống của Như Lai quả là ngắn ngủi. Rời các con Như Lai sẽ ra đi, Như Lai đã tự mình làm chỗ nương tựa cho mình. Hỡi này các tỳ khưu, hãy tin tấn, giữ tâm niệm và sống đời đạo hạnh. Hãy giữ gìn tâm các con bằng những tư tưởng có chiều hướng tốt. Những ai kiên trì cố ghép nếp sống của mình trong những khuôn khổ dạy trên sẽ bước ra khỏi con đường phiêu vạt vô định của đời sống và chấm dứt sự khổ não.”

Đức Phật nhìn thành Vesāli lần cuối rồi cùng Đại đức Ananda đi Badagāma, Ngài dạy các tỳ khưu như sau:

“Giới, Định, Tuệ và sự giải thoát cuối cùng.

Đức Cồ Đàm đã thành tựu các điều ấy.

Thấu triệt (những điều ấy), Đức Phật truyền dạy giáo lý cho hàng môn đệ.

Đức Đạo Sư đã chấm dứt mọi phiền não và dập tắt mọi khát vọng.”

 

Bốn Điều Tham Chiếu Lớn

Đi từ làng này đến làng khác, một ngày Đức Phật đến Bhoganagra và tại đây Ngài dạy bốn Đại Giáo Pháp tức là bốn điều tham chiếu (Mahapadesa) do đó ta có thể trắc nghiệm và làm sáng tỏ những lời giáo huấn của Đức Phật, Ngài dạy:

1.                       Một vị tỳ khưu có thể nói rằng: Tôi nghe chính Đức Phật đã thốt ra như vầy: “Đây là giáo lý, đây là giới luật, đây là giáo huấn của Đức Bổn Sư”. Những lời ấy không nên chấp nhận cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không gác bỏ ngoài tai, mà phải nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng rồi hãy đối chiếu và so sánh với những bài kinh (sutta) và những giới luật (vinaya). Nếu khi so sánh kỹ càng con nhận thấy rằng nó không phù hợp với Kinh và Giới luật, con có thể kết luận rằng: chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.

Như vậy con phải loại bỏ nó.

Nếu khi so sánh và đối chiếu, những lời ấy phù hợp với kinh và nhứt trí với luật, con có thể kết luận rằng: chắc chắn đây là Phật ngôn, vị tỳ khưu ấy đã hiểu đúng.”

Đó là điều tham chiếu lớn đầu tiên.

2.                       Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng: Trong cảnh chùa kia có Tăng chúng sống chung và có những vị sư lãnh đạo. Tôi nghe chính các sư ấy nói như thế này “Đây là giáo lý, đây là giới luật, đây là lời giáo huấn của Đức Bổn Sư.” Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai những lời ấy. Không chấp nhận, không gác bỏ mà nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng rồi hãy đối chiếu với các bài kinh và so sánh với những giới luật. Nếu khi so sánh kỹ càng, những lời ấy không phù hợp với kinh và không nhứt trí với luật, con có thể kết luận “chắc chắn đây không phải là Phật ngôn, vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.”

3.                       Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng: Trong cảnh chùa kia có nhiều vị sư và những vị cao tăng học rộng, thông suốt giáo lý, hiểu rộng kinh, luật và pháp yếu (matikā). Tôi nghe chính các vị sư ấy nói như vầy “Đây là giáo lý, đây là giới luật, đây là lời giáo huấn của Đức Bổn Sư.” Không nên chấp nhận, không bác bỏ mà nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng rồi đem đối chiếu lại với kinh (sutta) và so sánh với luật (vinaya). Nếu sa sánh như vậy, những lời ấy không phù hợp với kinh và nhứt trí với luật, con có thể kết luận “chắc chắn đây không phải là Phật ngôn, vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.”

Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

Nếu khi đối chiếu, so sánh những lời ấy phù hợp với kinh và nhứt trí với luật con có thể kết luận: chắc chắn đây là Phật ngôn, vị tỳ khưu kia đã hiểu đúng.”

Đó là điều tham chiếu lớn thứ ba.

4.                       Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng: Trong cảnh chùa kia có một vị tỳ khưu cao hạ, học rộng, thông suốt giáo lý, hiểu rộng kinh, luật và các pháp yếu (matikā). Tôi có nghe vị tỳ khưu cao hạ nói như thế này: Đây là giáo pháp, đây là giới luật, đây là giáo huấn của Đức Bổn Sư. Không nên chấp nhận hay bác bỏ những lời ấy. Không chấp nhận, không bác bỏ mà nghiên cứu kỹ càng tường tận từng chữ, từng tiếng rồi đem đối chiếu với kinh và so sánh với luật. Nếu khi so sánh và đối chiếu, những lời ấy phù hợp với kinh và nhứt trí với luật, con có thể kết luận rằng “chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.”

Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

Nếu khi so sánh và đối chiếu những lời ấy phù hợp với kinh và nhứt trí với luật, con có thể kết luận rằng “chắc chắn đây là giáo pháp, đây là giới luật, đây là giáo huấn của Đức Bổn Sư.”

Đó là điều tham chiếu lớn thứ tư.

Này các tỳ khưu, đó là bốn điều tham chiếu lớn.

 

Bữa Thọ Thực Cuối Cùng Của Đức Phật

Rọi sáng cho chư vị đệ tử mối lần có cơ hội, Đức Phật lần hồi đến Pāvā, và tại đây người thợ rèn tên Cunda thỉnh Ngài và chư tỳ khưu về trai tăng. Với tâm rất trong sạch Cunda dâng lên Đức Phật một vật thực đặc biệt gọi là “Sukaramaddava”[4]. Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, Cunda chỉ dâng vật thực ấy đến Ngài mà thôi, còn lại bao nhiêu phải đem chon, sẽ không có ai khác dùng đến.

Sau khi thọ thực xong, Đức Phật nhiễm bệnh lỵ huyết trầm trọng, rất đau đớn, gần như sắp chết. Nhưng Đức Phật nhẫn nại, chịu đựng, điềm tĩnh, không một lời rên siết.

Mặc dầu bệnh tình trầm trọng và người rất yếu, Đức Phật nhứt định đi bộ đến Kusinārā[5], nơi Ngài định nhập diệt, cách đó độ ba do tuần (lối chín cây số). Trên đoạn cuối cùng này, Kinh sách ghi chép rằng Đức Phật phải ngồi lại nghỉ lối hai mươi lăm nơi vì bịnh và yếu. Ở một chỗ nọ, Ngài ngồi lại dưới gốc cây to và dạy Đại Đức Ananda đi tìm nước uống vì Ngài nghe khát. Rất là khó khăn Đại đức Ananda mới tìm được chút nước trong một dòng suối nhỏ, nơi ấy năm trăm cỗ xe bò vừa đi qua, quậy đục cả nước.

Lúc bấy giờ, có người tên Pukussa đến gần Đức Phật và bày tỏ lòng thán phục của mình trước sự trầm lặng khác thường của Ngài. Sau khi nghe Đức Phật thuyết về sự thanh tịnh, không xao động của Ngài, Pukussa dâng lên Ngài hai bộ y bằng vàng.

Theo lời dạy của Đức Phật, Pukussa dâng một bộ cho Ngài và một bộ cho Đại đức Ananda.

Khi Đại đức Ananda mặc y cho Đức Phật, thì Ngài lấy làm ngạc nhiên thấy rằng nước da của Đức Phật chiếu sáng lạ thường.

_Bạch Đức Thế Tôn, tại sao có chuyện lạ thường, rất là kỳ diệu màu da của Đức Thế Tôn trở nên sáng lạng, rực rỡ một cách lạ thường. Khi con đắp bộ y bằng vàng lên mình Ngài thì hình như vàng đã lu mờ, mất hết màu sắc.

Nhân đó Đức Phật giải thích rằng trong hai trường hợp màu da của Đức Như Lai trở nên sáng lạng, rực rỡ lạ thường. Đó là trong đêm Ngài đắc quả vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và đêm Như Lai nhập diệt.

Và Đức Phật công bố rằng trong đêm ấy, vào lúc canh ba Ngài sẽ diệt độ trong cụm rừng song long (sala) của dòng tiểu vương Malla, giữa cặp long thọ, gần Kusinārā.

 

Bữa Cơm Nhiều Phước Báu Của Cunda

Đức Phật tắm lần cuối cùng trong dòng sông Kakuttha và sau khi nghỉ một lát Ngài dạy: Chuyện sau đây có thể xảy ra, này Ananda, có người sẽ làm cho Cunda ăn năn hối hận vì họ nói rằng: “Này Cunda ông thật là người có tội. Ông sẽ bị chìm đắm sa đọa vì Đức Thế Tôn đã lìa trần sau khi thọ thực lần cuối cùng với các món của ông dâng.” Mỗi lần Cunda người thợ rèn ăn năn hối hận như thế, con phải giải thích như vầy “Này Cunda, ông thật có nhiều phước báu tốt đẹp. Ông sẽ hưởng được nhiều lợi lộc vì Đức Phật đã thọ thực lần cuối cùng với các vật thực do ông dâng lên. Này Cunda, bần Tăng có nghe chính Đức Phật dạy rằng có hai vật thực cúng dường đem lại phước báu bằng nhau, tạo quả bằng nhau và vô cùng quí báu hơn tất cả, hai vật ấy là gì? Đó là vật thực cúng dường mà Bồ tát thọ lần cuối cùng trước khi chứng ngộ đạo quả vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và vật thực cúng dường mà Đức Phật thọ lần cuối cùng trước khi Ngài nhập diệt. Hai vật cúng dường ấy đem lại phước báu bằng nhau, tạo quả bằng nhau và vô cùng quí báu hơn tất cả các món khác. Và vật thực cuối cùng mà Đức Thế Tôn thọ là chính tay của Cunda, người thợ rèn dâng lên. Nghiệp tốt này sẽ trổ quả trong sự tái sanh thuận lợi, thọ tuổi cao, gặt hái nhiều may mắn, danh vọng được hưởng phước báu trong các cảnh trời và trong cảnh vua chúa, quyền quí cao sang. Này Ananda, phải khuyên lơn Cunda như thế ấy.”

Đức Phật lần hồi đến rừng long thọ của dòng tiểu vương Malla và dạy Đại đức Ananda chuẩn bị chỗ để Ngài yên nghỉ giữa cặp cây long thọ, đầu hướng về phía Bắc, rồi Đức Phật nằm xuống, nghiêng mình bên hông mặt, chân trái gác dài trên chân mặt và giữ tâm niệm, hoàn toàn tự kiểm soát tâm, hoàn toàn giác tỉnh.

 

Phải Tôn Kính Đức Phật Như Thế Nào

Khi nhìn thấy những cây long thọ trổ bông, mặc dầu không phải mùa bông long thọ trổ, và thấy bao nhiêu người lễ bái tôn sùng Ngài, Đức Phật kêu gọi chư đệ tử như sau: “Này Ananda, không phải như vậy là tôn trọng, kính cẩn, sùng bái, làm vẻ vang Như Lai đâu. Bất luận vị tỳ khưu nào, bất luận vị tỳ khưu ni hay thiện nam hay tín nữ nào hành đúng theo lời giáo huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, đời sống chơn chính, là người tôn trọng, kính cẩn, sùng bái, và làm vẻ vang Như Lai một cách cao thượng nhứt. Như vậy này Ananda, con phải gắng công tu tập, hành đúng theo lời giáo huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống đời chân chánh.”

Lúc ấy, Đại đức Upavāna trước kia có sống gần và hầu cận Đức Phật lâu ngày, đứng trước mặt Đức Phật, Ngài dạy Đại đức Upavāna đứng sang một bên. Đại đức Ananda thấy vậy lấy làm ngạc nhiên vì chính Đại đức Upavāna cung phụng Đức Phật đầy đủ. Đức Phật giải thích rằng lúc bấy giờ có rất đông chư Thiên tựu đến quanh Ngài và các vị trời ấy than phiền vì bị Đại đức Upavāna che án.

 

Bốn Thánh Tích

Kế đó, Đức Phật đề cập đến bốn Thánh tích mà vì có liên quan đến đời sống của Ngài, người thiện tín có tâm đạo nên đến chiêm ngưỡng với lòng thành kính và tôn sùng. Bốn nơi ấy là:

1.                       Nơi Bồ tát đản sanh (Lumbini, giáp giới Tây Tạng).

2.                       Nơi Đức Phật thành đạo (Buddha Gaya, lối 10 cây số cách nhà g a xe lửa Gaya).

3.                       Nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân (Isipatana. hiện giờ là Sarnath).

4.                       Nơi Đức Phật diệt độ (Kusinara, bây giờ gọi là Kasi, lối 40 cây số cách nhà ga (Gorakhpur).

Và Đức Phật thêm “Người nào trút hơi thở cuối cùng trong niềm tin vững chắc lúc đi hành hương, sẽ tái sanh về nhàn cảnh.”

 

Đức Phật Cảm Hóa Subhadda

Vào thưở ấy, tại Kusinara có một đạo sĩ tên Subhadda[6]. Vị đạo sĩ này nghe tin đồn rằng vào canh chót đêm nay Đức Cồ Đàm sẽ nhập diệt nên nghĩ rằng “Ta đã có nghe những vị thầy đứng tuổi và các vị khác cao niên hơn, và các ông thầy của những vị ấy, các vị khất sĩ du phương, nói rằng hiếm hoi lắm, thật là hy hữu mới có một Đấng Thế Tôn, Đấng Toàn Giác xuất hiện trên thế gian. Đêm nay, vào canh chót Đức Cồ Đàm sẽ nhập vô dư Niết Bàn. Ta có một điều hoài nghi và ta tin tưởng nơi Đức Cồ Đàm. Hẳn vậy Đức Cồ Đàm sẽ giảng dạy ta Giáo Pháp để đánh tan mối hoài nghi của ta.”

Nghĩ vậy, vị đạo sĩ du khất Subhadda liền đi ngay đến cụm rừng Upavattana Sāla dòng Malla, đến gần Đức Ananda và bạch rằng: “Tôi có nghe những ông thầy đứng tuổi và những vị khác cao niên hơn, và các ông thầy của những vị ấy, các đạo sĩ du phương hành khất nói rằng hiếm hoi lắm, thật là hy hữu mới có một Đấng Thế Tôn, Đấng Toàn Giác xuất hiện trên thế gian. Đêm nay vào canh cuối cùng Đức Cồ Đàm sẽ nhập vô dư Niết Bàn. Tôi có điều hoài nghi và tôi tin tưởng nơi Đức Cồ Đàm. Hẳn vậy, Đức Cồ Đàm sẽ có thể giảng dạy Giáo Pháp để đánh tan mối hoài nghi của tôi. Bạch Đại đức có thể nào tôi được phép vào gặp mặt Đức Cồ Đàm trong giây lát không?”

Đức Ananda trả lời “Này đạo hữu Subhadda chớ nên làm rộn Đức Thế Tôn, Ngài đã mệt mỏi lắm rồi.”

Subhadda lập lại lời thỉnh cầu lần thứ nhì và lần thứ ba. Nhưng, lần thứ nhì và lần thứ ba Đức Ananda cũng trả lời như trước.

Đức Phật nghe được câu chuyện, kêu Đại đức Ananda vào dạy “Không nên này Ananda, không nên ngăn cản Subhadda vào, hãy để Subhadda vào yết kiến Như Lai. Bất luận điều gì mà Subhadda sẽ hỏi Như Lai, cũng là do nơi ý muốn hiểu biết chớ không phải để làm phiền Như Lai. Và những điều Như Lai truyền dạy sẽ được lãnh hội mau chóng.”

Đức Ananda đưa Subhadda vào gặp Đức Phật.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi, Subhadda chúc tụng Đức Phật rồi ngồi lại một bên và hỏi: Có nhiều vị đạo sĩ và giáo sĩ, lãnh đạo những giáo phái và giáo đoàn, là những người đứng đầu những tôn giáo nổi tiếng, những nhà truyền giáo trứ danh, được nhiều người tôn sùng như Purana Kasssapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambali, Pakudha, Kāccāyana, Sānjaya Belatthiputta, Nigandha Nātaputta. Tất cả những vị ấy có thông suốt chân lý như các Ngài đã nói vậy không hay chỉ có vài vị thông suốt còn các vị khác thì không?

_Hãy để yên đó, này Subhadda, không nên thắc mắc bận trí với tất cả hay vài vị chứng ngộ chân lý hay không có ai chứng ngộ. Như Lai sẽ dạy con, hãy nghe và ghi nhớ, Như Lai giảng đây:

_Xin vâng, bạch Đức Thế Tôn.

Đức Phật dạy:

“Trong bất luận giáo đoàn nào, nếu không có Bát Thánh Đạo thì cũng không có hạng nhứt đẳng Sa môn (Samana, Đức Phật ám chỉ những vị Nhập Lưu, Tu-Đà-Hườn Sotapana), cũng không có nhị đẳng, tam đẳng hay tứ đẳng Sa Môn (Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán).

Trong giáo đoàn nào có Bát Thánh Đạo, này Subhadda, thì cũng có hạng nhứt đẳng Sa Môn, nhị đẳng, tam đẳng và tứ đẳng Sa Môn.

Ở đây, trong giáo đoàn này, hỡi Subhadda có Bát Thánh Đạo.

Quả thật vậy, ở đây có hạng nhứt đẳng, nhị đẳng, tam đẳng và tứ đẳng Sa Môn. Các nơi khác không có hạng Sa Môn. Này Subhadda, nếu chư đệ tử hành đúng giáo lý, có đời sống chơn chánh thì thế gian sẽ không vắng bóng các bực A-La-Hán.

Lúc tuổi còn hai mươi chín, Như Lai ra đi để tìm cái gì tốt đẹp. Hôm nay, năm mươi mốt năm đã trôi qua kể từ ngày Như Lai đắp y mang bát. Ngoài những người ở đây không có một đạo sĩ nào hành đúng, dầu nhiều hay ít, giáo pháp khả dĩ đưa đến sự thành đạt đạo quả.”

Khi được nghe như vậy Subhadda bạch với Đức Phật như sau: “Lành thay! Lành Thay! Bạch Đức Thế Tôn, tựa hồ như có người kia sửa lại ngay ngắn một vật đã bị lật đổ, hay khám phá ra một vật đã được giấu kín, hay chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đốt lên ngọn đèn trong giữa đêm tối để cho ai có mắt có thể trông thấy. Giáo lý của Đức Thế Tôn truyền dạy bằng trăm ngàn lối cũng dường thế ấy.

Xin Ngài cho phép con thọ lễ qui y Phật, Pháp, Tăng. Kính bạch Đức Thế Tôn hoan hỷ cho con làm lễ xuất gia Sa-di và Tỳ Khưu trước mặt Ngài.

Đức Phật dạy “Này Subhadda, người sống trong một hệ thống giáo lý khác muốn xuất gia Sa-di và Tỳ Khưu[7] phải trải qua một thời kỳ học tập bốn tháng sống biệt trú trong bốn tháng ấy. Sau đó, khi được chấp thuận, giới tử có thể thọ lễ xuất gia và được nâng lên hàng Tỳ Khưu.

Tuy nhiên, do nơi sự hiểu biết của con hôm nay, Như Lai cho phép làm một ngoại lệ cho riêng cá nhân con.

Rồi Đức Phật dạy Đại đức Ananda làm lễ xuất gia cho Subhadda. Trước mặt Đức Phật, Subhadda làm lễ xuất gia Sa-di và Tỳ-khưu. Sau khi thọ đại giới không bao lâu Đại đức Subhadda sống cô độc một mình, ở một nơi vắng vẻ, xa thành thị, cố gắng, kiên trì, tin tấn và nhiệt tâm cần mẩn,  đã chứng ngộ chân lý trong kiếp sống hiện tại, nhờ trí tuệ trực giác và đời sống thiêng liêng cao thượng vô song. Ngài sống trong trạng thái mà để đạt đến bao nhiêu vương tôn công tử đã chơn chánh từ khước đời sống phong phú của người cư sĩ, chấp nhận làm người không nhà cửa, không tài sản sự nghiệp. Ngài nhận định rằng Ngài không còn tái sanh nữa. Sau kiếp sống thiêng liêng đầy đủ này không còn kiếp nào khác.

Đại đức Subhadda đã trở thành một trong những vị A-La-Hán, Ngài là người cuối cùng được Đức Phật thâu nhận làm đệ tử.

 

Lời Dạy Tối Hậu

Đại đức Ananda bạch với Đức Phật rằng sau khi Ngài diệt độ nhục thể của Đức Thế Tôn phải được tôn trọng như thế nào? Đức Phật trả lời “Này Ananda, con không nên bận tâm với việc phải làm vẻ vang nhục thể của Như Lai. Hãy chú tâm vào hạnh phúc châu toàn của chính con, hãy cố gắng, cần mẫn, chuyên chú quyết tâm trong việc mưu tìm sự tốt đẹp cho chính con. Có những người chiến sĩ sáng suốt, những vị Ba-la-môn và những vị cư sĩ trí tuệ, tin tưởng vững chắc nơi Như Lai. Hãy để những người ấy tôn trọng, làm vẻ vang nhục thể của Như Lai.”

Nghe lời giáo huấn quí báu cuối cùng ấy, Đại đức Ananda đi sang một bên và đứng khóc, bụng nghĩ rằng “Than ôi! Ta chỉ là một tu sĩ có pháp học, cần phải hành nữa. Nhưng sau cùng, Đức Đạo Sư đã sắp tịch diệt, Đức Thế Tôn mà ta vô cùng quí mến.”

Đức Phật cho gọi Ngài đến và dạy “Hỡi Ananda, chớ có phiền muộn, chớ có khóc than. Như Lai đã từng dạy rằng tất cả chúng ta đều phải phân ly, cách biệt và xa lìa những gì chúng ta quí mến và ưa thích bao nhiêu.

Này Ananda, con đã tạo nhiều phước báu, con sẽ sớm thanh lọc mọi ô nhiễm.”

Và Đức Phật tán dương công đức của Đại đức Ananda rồi dạy ngài vào thành Kusinara báo tin cho hoàng tộc Malla về sự nhập diệt sắp đến của Ngài. Hoàng tộc Malla được báo tin dắt vợ con đến khóc lóc, đảnh lế Đức Phật.

 

Quang Cảnh Cuối Cùng

Đức Phật dạy Đại đức Ananda:

“Này Ananda, con có thể nói rằng giáo huấn tối cao không còn thầy giảng dạy, chúng ta không còn đạo sư. Không nên Ananda, con không nên suy tư như thế. Giáo huấn và giới luật đã được Như Lai truyền dạy và quảng bá rộng rãi. Ananda, khi Như Lai nhập diệt rồi thì giáo pháp và giới luật ấy sẽ là đạo sư của chúng con.

Sau khi Như Lai nhập diệt, chúng Tăng có thể, nếu muốn, chúng Tăng muốn như vậy, hủy bỏ những học giới nhỏ nhen và không quan trọng.”

Ākamkamāno. Ananda, Sangho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhantu.

Bản chú giải ghi nhận rằng thay vì dùng mệnh lệnh cách (imperative form) Đức Phật chỉ dùng tiếp thuộc cách (subjuctive) trong lời dạy trên. Nếu ý muốn Ngài là hủy bỏ các học giới nhỏ thì Ngài đã dùng mệnh lệnh cách rồi. Đức Phật biết trước rằng về sau, khi chủ tọa cuộc kết tập Tam Tạng đầu tiên, với sự đồng ý của chúng Tăng, Đại Đức Kassapa sẽ không hủy bỏ một học giới nhỏ nhen nào.

Vì Đức Phật không dạy rõ và các vị A-La-Hán không thể quyết định học giới nhỏ nào có thể hủy bỏ được nên các Ngài giữ nguyên vẹn tất cả.

Một lần nữa, Đức Phật dạy chư đệ tử như sau:

“Này các đệ tử nếu các con còn bất luận một phân vân thắc mắc nào có liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, Đạo hay phương pháp hãy nên lên những câu hỏi, về sau chớ ăn năn hối tiếc vì nghĩ rằng: Lúc ấy, ở trước mặt Đức Thế Tôn mà ta không hỏi.”

Tất cả chư vị đệ tử đều im lặng.

Lần thứ nhì và lần thứ ba Đức Phật lập lại câu nói. Lần thứ nhì và lần thứ ba các vị đệ tử vẫn giữ im lặng.

Rồi Đức Phật dạy “Có lẽ vì tôn kính Như Lai nên các con không nêu câu hỏi. Vậy nếu có thắc mắc, hãy thổ lộ với một đạo hữu.”

Các vị tỳ khưu vẫn giữ im lặng.

Nhân đó, Đại đức Ananda bạch với Đức Phật như sau “Quả thật kỳ diệu! Bạch Đức Thế Tôn. Quả thật tuyệt vời! Bạch Đức Thế Tôn. Con lấy làm hoan hỷ không có vị đệ tử nào còn bất luận một hoài nghi hay thắc mắc về Đức Phật, Giáo Pháp, Giáo Hội Tăng Già, về Con Đường hay về Phương Pháp.”

“Này Ananda, con nói điều ấy vì đức tin. Nhưng Như Lai hiểu biết rằng trong chúng Tăng đây không có ai còn hoài nghi hay thắc mắc về Giáo Pháp, về Giáo Hội, về Con Đường hay về Phương Pháp. Trong năm trăm đệ tử, này Ananda, người chậm trễ nhất cũng đã nhập lưu, không còn phải rơi trở xuống nữa và đã chắc chắn sẽ chứng ngộ.[8]

Rốt cùng, để khuyên dạy đệ tử Đức Phật nói lên lời giáo huấn:

“Hãy nghe đây này các đệ tử, Như Lai khuyên dạy các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần.”

Đó là lời di huấn tối hậu của Đức Thế Tôn.

 

Đức Phật Viên Tịch.

Đức Thế Tôn nhập sơ thiền. Xuất sơ thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền Ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền Ngài nhập không vô biên xứ. Xuất không vô biên xứ Ngài nhập thức vô biên xứ. Xuất thức vô biên xứ Ngài nhập vô sở hữu xứ. Xuất vô sở hữu xứ Ngài nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất phi tưởng phi phi tưởng xứ Ngài nhập diệt thọ tưởng định.

Lúc ấy, Đại đức Ananda không có thiên nhãn, hỏi Đại đức Anuruddha “Bạch Đại đức, có phải Đức Thế Tôn đã nhập diệt rồi không?”

_Không phải vậy, này đạo hữu Ananda, Đức Thế Tôn chưa diệt độ, Ngài mới nhập diệt thọ tưởng định.

Rồi xuất diệt thọ tưởng định Đức Phật nhập phi tưởng phi phi tưởng định. Xuất phi tưởng phi phi tưởng xứ Ngài nhập vô sở hữu xứ định. Xuất vô sở hữu xứ Ngài nhập thức vô biên xứ định. Xuất vô biên xứ Ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập sơ thiền. Xuất sơ thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền Ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền, và tức khắc sau đó Đức Phật cuối cùng nhập diệt.

 



[1] Anantaram abahiram karitva danh từ này bao gồm cả hai, những cá nhân và những lời dạy”

“Bao nhiêu giáo lý này ta sẽ không dạy ai khác” một ý nghĩ như vậy có nghĩa là hạn chế giáo lý trong một giới nhỏ nào.

“Bao nhiêu giáo lý này ta sẽ dạy kẻ khác”, một ý nghĩ như vậy có nghĩa là không dạy hết giáo lý cho kẻ khác.

“Ta sẽ dạy người này”, câu này hàm ý có một sự phân biệt.

Đức Phật không hề có sự phân biệt nào, đối với số người cũng như đối với giáo lý. Trong lời dạy Đức Phật không bao giờ bí truyền. Ngài cũng không hề có một nhóm nhỏ hay lớn nào riêng, trong hay ngoài các đệ tử.

[2] Đây là Tứ niêm xứ (Satipatthana). Danh từ Pháp (Dhamma) dùng ở đây có một nghĩa riêng, ám chỉ cả hai đối tượng, vật chất và tinh thần. Xem Kinh Satipatthana Sutta-Majjhima Nikāya số 10.

[3] Đó là 37 phần trạch pháp hay 37 nhân sanh quả Bồ đề tức là 37 yếu tố cần thiết đến sự giác ngộ và sự  hiểu biết cùng tột.

[4] Theo bản chú giải, đó là thịt một con heo rừng không già lắm, cũng không tơ lắm, nhưng không phải cố ý giết nó để dâng Đức Phật (pavattamanasa). Có chỗ nói rằng đó là tên của một loại nấm, cũng có chỗ cho rằng đó là tên một món ăn rất ngon. Question of Milinda quyển 1 trang 244 và Dialogue of the Buddha phần 2, trang 136, số 1.

[5] Theo bản chú giải, Đức Phật chọn Kusinārā để nhập diệt vì ba lý do. Lý do đầu tiên là để thuyết bài Pháp về Mahasudassana Sutta để khuyến khích đời sống đạo hạnh. Thứ nhì là để dắt dẫn Subhadda, người đệ tử cuối cùng của Ngài, vì ngoài Đức Phật ra không có ai có thể cảm hóa vị này được. Thứ ba là để cho vị Bà-la-môn Dona có thể phân chia Xá Lợi của Ngài một cách êm thắm giữa những người sùng mộ Ngài.

[6] Nên phân biệt đạo sĩ Subhadda này với một vị khác cũng tên Subhadda lúc ấy đã xuất gia rồi. Chính ông Tỳ Khưu Subhadda xuất gia lúc tuổi già, sẽ nói rằng Đức Phật tịch diệt không phải là điều đáng phiền muộn, bởi vì không còn Đức Phật thì chư tỳ khưu sẽ được tự do, muốn làm gì thì làm, không sợ ai khiển trách. Và cũng vì nghe câu nói ấy mà Đức Ca-Diếp (Kassapa) triệu tập 500 vị tỳ khưu A-La-Hán, ba tháng sau khi Đức Phật diệt độ, để nghe đọc lại Giáo Pháp và Giới Luật (kết tập Tam Tạng lần dầu tiên  tại Rajagriha).

[7] Pabbajjā, từ bỏ là xuất gia Sa-di bằng cách là cạo râu tóc, đắp y vàng, qui y Tam Bảo và thọ mười giới. Người sơ tu ấy được gọi là Sa-di

Upasampadā, cụ túc giới, lễ xuất gia Tỳ Khưu dành cho người từ hai mươi tuổi trở lên. Người đã thọ cụ túc giới là hội viên của Giáo Hội với đây đủ tư cách và được gọi là Tỳ Khưu (Bhikkhu). Một vị tỳ khưu phải giữ tròn những giới bổn (Patimokkha) và khi phạm một trong những trọng tội như (bất cộng trụ) phải bị trục xuất ra khỏi Giáo Hội. Nếu muốn vị ấy có thể trở lại làm một Sa-di.

[8] Đức Phật ám chỉ Đại đức Ananda, được khuyến khích Đại đức Ananda cố gắng tu tập và về sau đắc quả A-La-Hán.

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang