" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Q-R-S-T

Thuyết vô ngã của Đức Phật

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Những hình thể tôi thấy bằng mắt, những thinh âm tôi nghe bằng tai, những mùi tôi ngửi bằng mũi, những vị tôi nếm bằng lưỡi, những vật tôi đụng chạm bằng xác thân, không có gì tương quan với chính “tôi”.
Thuyết vô ngã của Đức Phật

 

THUYẾT VÔ NGÃ

của ĐỨC PHẬT

 

Tác giả: GEORGES

Soạn giả: BHIKKHU BUDDHASARANO

 

 

 

 

 

 

 

Phật giáo nguyên thủy việt nam

1971 / 2515

 

 


 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

Bấy lâu nay đọc kinh sách và nghe thuyết Pháp, chúng tôi cũng lãnh hội được một đôi phần về thuyết vô ngã của Phật giáo. Nhân dịp may mới đọc được quyển “La Sagesse du Bouddha” của Georges Grimm (Tuệ giác của Phật, dịch giả ông Nguyễn Văn Nhuận) nhờ sư Giác Bửu cho mượn, chúng tôi mới thấy rõ chỗ nào cao siêu nhiệm màu của lý thuyết này và thấy được chổ hiểu biết nông cạn của chúng tôi từ bấy lâu.

Thiết tưởng, những lời giảng trong quyển sách này, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các bạn nào còn thắc mắc về thuyết vô ngã của Phật đà, nên chúng tôi chẳng nệ sức học kém cỏi, cố gắng trình bày những điều hiểu biết của chúng tôi, dựa theo quyển “Tuệ giác của Phật” mong rằng nó sẽ giúp ích các bạn phần nào trong việc tìm hiểu giáo lý thuần túy của Đấng Trọn Lành.

Nhất là, đối với bạn nào thiếu phương diện để đọc các sách Phật giáo, do người Châu Âu soạn, sẽ gặp nơi đây nhiều tài liệu quý báu, để nghiên cứu, so sánh rồi suy nghĩ.

Nếu có điều chi sơ sót, ngoài ý muốn của chúng tôi kính xin chư độc giả niệm tình hỉ xã và chỉ giáo.

                                                                                                                        Thành thật tri ân

 

 


 

THUYẾT VÔ NGÃ CỦA ĐỨC PHẬT

Phật giáo ví như dãy núi Himalaya quá cao, ở trên chót đỉnh, người ta có thể nhìn thấy cả thảy mấy dãy núi khác.

Đức Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ. Ngài là người đầu tiên thực hiện được sự sáng suốt hoàn toàn. Ngài đã giảng giải thật rõ ràng cái chân tướng của vạn vật vì Ngài đã nhận thức cái chân tướng ấy một cách tinh tường.

Vì thế, Ngài không kêu gọi đến đức tin mà chỉ nói đến chân lý. Ngài đã giảng dạy minh bạch rằng không nên chỉ dùng đức tin mà chấp nhận những lời Ngài dạy, trái lại phải nhận điều nào ta suy xét hợp với chân lý.

Có vị giáo chủ nào tuyên bố như thế không?

Ngài chỉ cho chúng ta con đường đi tới mục đích một cách chính xác, như bản địa đồ trong việc hành quân.

Người nào thật lòng mộ đạo, đều có thể đi đến được.

Chúng tôi nói về giáo lý chơn truyền của Đức Phật giáo lý mà tự Đức Phật truyền bá từ thế kỷ thứ sáu trước chúa Gia Tô giáng sinh, giáo lý dù có thất truyền 500 năm sau khi Ngài tịch diệt, đúng theo lời tiên tri của Ngài. Vì giáo lý ấy quá cao siêu nên không thể giữ tính cách thuần túy lâu dài hơn được nữa.

Các xu hướng Phật giáo ở Á châu hiện thời, không còn tiêu bểu hoàn toàn cho chánh giáo của Đức Phật. Giáo lý chơn truyền của Đức Phật, có ghi chép trong kinh tạng Pāli, trong đó đúc kết những lời của Đức Phật và vị đại đệ tử của Ngài.

Bài thuyết trình sau đây là rút trong kinh tạng ấy, nhưng chỉ trích lục một phần giáo lý của Đức Phật mà thôi.

Sự huyền bí của cái “Tôi”

Vấn đề căn bản của sự đời không phải là tìm hiểu cõi đời là gì? Mà chính là: “tôi là gì?

Nếu biết đặng cái “tôi là gì?, thì ta không còn cảm thấy hứng thú, lưu luyến cõi đời nữa.

Những hình thể tôi thấy bằng mắt, những thinh âm tôi nghe bằng tai, những mùi tôi ngửi bằng mũi, những vị tôi nếm bằng lưỡi, những vật tôi đụng chạm bằng xác thân, không có gì tương quan với chính “tôi”.

Một khi cảnh vật của giác quan không còn nữa “tôi” cũng vẫn còn. Sự tiêu diệt của mấy thứ đó, không đụng đến chơn ngã của tôi.

Vì vậy, ngoại cảnh mà tôi biết đặng, do nơi giác quan làm trung gian, không có chút gì tương quan với chơn ngã của tôi.

Chúng ta có chẳng những 5 giác quan, mà có tới 6 giác quan. Công việc của giác quan thứ 6 là suy tưởng và cơ quan của nó là bộ óc.

Tất cả cảnh vật của 5 giác quan và bộ óc, đều không chút gì liên quan với chơn ngã của tôi, bởi vì tôi có thể để cho mấy thứ đó sanh ra, hoặc tiêu diệt.

Như vật xác thân có phải là bổn ngã của tôi chăng?

Tôi liên lạc với xác thân tôi bằng cách nào?

Cái mà tôi gọi là thân hình của tôi, nó làm bằng vật chất: đất, nước, lửa, gió.

Nó hẳn riêng biệt với tôi, nghĩa là tôi không phải là một cơ thể chính mà chính tôi có một cơ thể để sử dụng.

Nếu tôi không có các giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, xác thân, bộ óc, thì tôi không thể thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, tư tưởng được.

Khi tôi thấy một hình thể bằng mắt, thì một cảm giác và một tri giác phát sanh về sự thấy: nhận thức.

Khi tôi nghe một âm thanh bằng tai, thì một cảm giác và một tri giác phát sanh về sự nghe: nhỉ thức.

Khi tôi có một tư tưởng thì một cảm giác và một tri giác phát sanh về sự nhận biết.

Thế thì chúng ta xét thấy chắc chắn rằng những sự nghe thấy, ngửi, nếm, đụng chạm và tư tưởng, đều là không cần yếu cho chúng ta, không cần yếu cho chơn ngã của chúng ta.

Tóm lại, thân thể là một khí cụ để cho ta dùng để thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm và tư tưởng mọi vật ở ngoại giới. Nó là một cái máy để nhận thức và là phương tiện độc nhất để tiếp xúc với đời. Khi xác thân chết, tất cả tri giác đều chết theo.

Nói cho đúng, tôi có thể nói rằng “tôi thấy, tôi nghe, tôi tư tưởng” không xác thật chút nào, cũng như người thợ máy có thể nói rằng “ tôi tung khói, tung hơi nước, tung hơi bụi” không xác thực chút nào, bởi vì người thợ máy chỉ làm cho cái máy của người ta giao phó, tung khói, tung hơi nước, tung tro bụi mà thôi.

Cũng thế, tôi cho phép ý chí tôi phát hiện ra, đặng dùng cái máy nhận thức của tôi để sanh ra những cảm giác, tri giác, những sự hoạt động của ý thức.

 

Ý chí ham muốn, không phải là bản ngã của tôi.

Tại có ham muốn mà tôi dính mắt vào cái máy nhận thức này: tôi muốn có một xác thân và tôi muốn dùng nó. Tôi ráng sức làm thỏa mãn ý chí đó bằng 6 cơ quan của giác quan. Nếu tôi thấy rõ và nhận biết rằng cả thảy những hình thể do nơi sự thấy nhập vào ý thức tôi, chỉ có thể làm cho tôi đau khổ, thì tất cả những ý chí và lòng ham muốn của tôi sẽ tiêu diệt. Tôi sẽ không còn ý chí, không còn ham muốn mà tôi vẫn tồn tại như thường. Sự ham muốn dù hiện ra hay mất đi cũng không động đến chơn ngã của tôi.

Thế thì ý chí, ham muốn có phải là bổn ngã của tôi không?

Chơn ngã

Mấy phần tử như là ngoại vật, xác thân, hành vi nhận thức và ý chí, không cấu thành bổn ngã của tôi, nếu bây gờ tôi tách mấy thứ đó ra ngoài bổn ngã của tôi, thì cái gì còn lại chính là bổn ngã của tôi.

Những phần tử mà chúng ta loại ra, Đức Phật gọi là Upadhi, nghĩa là thuộc tánh, bởi vì tôi tự chiếm lấy những món đồ, dù rằng, thật sự chúng nó không có chút gì tương quan với tôi cả.

Nếu tôi xem kĩ mấy phần tử của nhân tánh, tôi nhận thấy chúng nó cấu thành và gồm hết mọi thứ có thể biết được nơi tôi và giao tiếp với tôi. Nếu ý chí, tâm thức, thân thể mất hết, thì còn lại những gì cho sự nhận thức? Thật sự không còn lại gì cả, tất cả đều không còn tồn tại. Tất cả ở đây có nghĩa là tất cả cái có thể biết được, và cái “không” còn lại, đó chỉ là cái không thể biết được. Cái “không” còn lại là cái “không” tương đối, không phải là cái “không” tuyệt đối. Cái “không hết” còn lại là hư vô chỉ tương đối với quá trình nhận thức.

Nói “tôi không là gì hết” chính là nói không thể nhận biết được cái chơn ngã của tôi. Tôi không là thứ gì có thể biết được. Không là thứ gì ở cõi đời. Cõi đời chỉ là một sự tập hợp những vật có thể biết được. Bởi vậy chơn ngã của tôi là cái không thể nhận biết, cái không thể diễn tả, cái không thể dò xét, cái ở ngoài sự nhận biết.

Trong trạng thái ban sơ của chơn ngã, nó không cần có ý thức. Có ý thức hay là nhận biết sẽ là sự bất đắc dĩ để cho chúng ta có thể tìm phương hướng trong cõi đời đau khổ này. Kẻ nào còn ham muốn có ý thức, là thèm muốn sự đau khổ.

Chơn ngã của chúng ta là một vật quá tôn nghiêm, nếu ta biết đặng nó, ta sẽ ngạc nhiên tính vĩ đại của nó. Không phải hiệp một, cũng không phải phân chia nhiều thứ, nó thâu góp và đào thải sự bao la vô tận của thời gian và thiên hình vạn trạng của không gian. Nó chính là “cái không thể biết được”. Mà dù thế nào, nó cũng là sự “chi phước cao siêu”, sự “yên tịnh quá sức hiểu biết”.

Chơn ngã ví như số cát ở sông Hằng mà không có người nào giỏi tính, đếm được. Chơn ngã ví như biển cả mà không có người náo tính được có bao nhiêu trăm ngàn lít nước. Chơn ngã là quá sâu, không thể dò được, cũng như biển cả vậy.

Nếu một người nào nhận rõ đúng đắn rằng mọi thứ hình thể vật chất, mọi thứ cảm giác, mọi thứ tri giác, mọi thứ hành động của tri ý, trọn cả ý thức, nhận rõ đúng rằng: “Cái này không thuộc về của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là chơn ngã của tôi” và vì người đó không còn dính mắt vào đâu hết, người đó sẽ hoàn toàn giải thoát.

Cái tôi đau khổ

Chúng ta phải luôn luôn tìm hiểu cho thật rõ ràng rằng, cơ thể vật chất đối với ta là hoàn toàn riêng biệt, nó không phải là bổn ngã.

Khi nào hiểu được như thế, người sẽ nhận biết rằng khởi thủy và kết cuộc của “tôi”. Nếu “tôi” không phải là xác thân này, thì làm thế nào “tôi” có nó.

Có người sẽ trả lời: “thì đó là do nơi sự giao hợp của cha và mẹ người chớ đâu”. Nhưng tôi có thể biện bác rằng: “Hột giống của cha tôi và mẹ tôi ung đúc có liên quan gì tới “tôi”, “tôi” đã có từ trước kia mà”.

Vậy rõ ràng là khi có sự giao hợp rồi. “Tôi” mới dự vào một phần. Nhơn vì có “tôi” tham dự vào mà hột giống đó thành ra hột giống của tôi và kế tiếp thành ra xác thân của tôi. Mà lúc nào và bằng cách nào một vật trở thành của tôi?

Ví dụ: một trái xoài dính trên cành cây, tại sao lại trở thành trái xoài của tôi?

Trước khi tôi chiếm đoạt nó, trước khi tôi nắm lấy nó vào tay, nó không phải là của tôi. Mà khi tôi thích nó, nghĩa là khi tôi muốn được nó, tôi chiếm lấy nó, nắm lấy nó vào tay, nó là của tôi. Nếu tôi không thích trái xoài đó, nếu tôi không nắm lấy nó vào tay, nó sẽ không trở thành trái xoài của tôi.

Thì cũng thế, hột giống của cha mẹ tôi ung đúc, trở nên hột giống của tôi là bởi tại tôi đã nắm lấy nó, tôi đã bám chặt lấy nó. Rồi khi hột giống đó phát triển thành cơ thể vật chất, thì bấy giờ, nó trở nên cơ thể vật chất của tôi. Và tôi đã nắm lấy hột giống đó, tôi đã bám chặt lấy nó, bởi vì tôi ưa thích nó, cố ý dùng cách đó đặng tạo cho tôi một cơ thể vật chất.

Thế thì, tại ý muốn có một xác thân, khiến cho tôi chiếm hột giống của cha mẹ tôi ung đúc  ở trong mình mẹ tôi, cũng như hiện thời ý tôi muốn dùng luôn luôn xác thân này, đặng cảm giác cõi đời.

Mà trước khi tượng thai, vì đâu tôi lại muốn có một xác thân như thế?

Chúng ta cần có một xác thân đặng thấy những hình thể, nghe những âm thanh, ngửi những mùi, nếm những vị, rờ đụng những vật có thể rờ đụng được và suy nghĩ ra những ý tưởng. Nói một cách khác, chúng ta dùng xác thân này mà cảm giác và tri giác ngoại vật, bởi xác thân của chúng ta là cái máy sanh những cảm giác và tri giác. Tóm lại xác thân ta là cái máy nhận thức. Nó chỉ làm trung gian cho ta cảm giác và tri giác những việc xảy ra trong đời.

Chúng ta nhờ xác thân này – cái máy có 6 giác quan – để tiếp xúc với những hiện tượng ở đời.

Trước khi có những xác thân này, tôi đã sống trong nhiều xác thân trước, tôi đã quen sử dụng các giác quan để thấy, nghe, v.v.... và tôi đã ưa thích khát khao những cảm giác, mong muốn những hiện tượng ở đời vì tôi đã có trải qua những cảm giác đó rồi, nghĩa là đã nếm rồi. Tôi không thể thèm muốn thứ gì mà tôi không biết. Do lẽ đó, trước khi cấu tạo xác thân hiện thời của tôi, tôi đã thấy, nghe, ngửi, nếm và đụng chạm những hiện tượng ở đời, nhờ cá thể hữu hình làm trung gian, cũng như hiện giờ, tôi có thể cảm xúc những hiện tượng đó là nhờ các giác quan. Vậy thì, trước khi có xác thân này, tôi đã có một xác thân khác trước rồi, nhờ đó mà tôi giao tiếp với đời. Tôi đã mến đời. Tôi đã cố ý bám hột giống của cha mẹ tôi ung đúc, đặng cấu tạo cho tôi một xác thân mới. Điều quyến rũ tôi bám lấy hột giống để cấu tạo ra xác thân khác, là sự ưa thích, chỉ ham muốn vào đời, để nếm mọi sự khoái lạc.

Khi xác thân mất, tôi sẽ cấu tạo một xác thân mới và sau cái này, kế cái khác, đời này trải qua đời khác, dây tái sinh luân chuyển không ngừng. Không biết bao nhiêu lần, chúng ta cảm giác sự chết và sự tái sanh.

Từ đời vô thủy tới nay, tôi đã phải chịu và đã đau khổ đủ mọi đường. Khi thì ốm đau, lăn lộn nằm chết trên đường, khi thì chết nơi trận địa, khi khác nữa thì làm kẻ sát nhân bị tử hình, và cứ như thế mãi, vô cùng tận.

Tôi bị bao vây trong biển khổ, nhng lượng sóng dập dồn chụp tôi không ngớt. Tôi cảm thấy cuộc vui chóng tàn, chớ cái khổ thì triền miên.

Sự đau khổ lớn hơn hết là sự đau khổ hiện ra trong lúc ta thấy cảnh giới của giác quan mất trọn, trong lúc chết. Bấy giờ chúng ta bị chìm đắm trong sự đau đớn, cho đến khi chúng ta hiện trở lại trong một hình thể mới, trong một kiếp sống khác, chịu những cảm giác mới, sự già cổi mới, sự chết mới.

Vậy hỏi người nào, khi thật hiểu cái vòng đau khổ vô tận đó, mà chẳng ước mong được giải thoát?

Chúng ta ham muốn những cảm giác thích ý. Những cảm giác trái ý thì chúng ta tìm cách để xa lánh. Những sự vui thích về giác quan, cũng như những sự vui thích về tư tưởng là những tai hại hơn hết. Thường nhơn khó hiểu được điều này.

Các vị giáo chủ đều đồng ý về điểm này và đều cảnh cáo chúng ta, hãy đề phòng những sự vui thích giác quan thường đem người đến chỗ khổ.

Chúng ta tìm mọi phương tiện tha mãn sự ham muốn. Và khi sự ham muốn không được thỏa mãn, ta sẽ thất chí, buồn rầu đau khổ. Muốn mà không được toại nguyện là khổ. Khốn nạn thay, lòng ham muốn lại vô cùng, bởi vậy không khi nào chúng ta hoàn toàn thỏa mãn. Sự vui càng lớn, sự buồn khổ càng to.

Sự vui thích giác quan là mối ngăn trở trực tiếp của chơn hạnh phúc. Chơn hạnh phúc ở trong sự diệt bỏ lòng ham muốn và đem lại cho chúng ta sự yên tĩnh vô biên.

Khi đã không còn ham muốn, chúng ta sẽ không còn cực nhọc, thống khổ, không còn thứ gì làm cho chúng ta lo ngại. 

Người dứt được mọi điều ham muốn, có phước hơn kẻ được cả thảy của cải danh vọng ở thế gian.

Các bậc thánh hiền trong các tôn giáo đều tán dương sự giục tắt trọn lòng ham muốn và sự an vui tột bực nội tâm. Các Ngài từ bỏ và khinh rẻ sự vui thích giả dối và chóng tàn của giác quan vì chúng nó làm cho ta xa lần chân hạnh phúc.

Chúng ta đã phiêu lưu trong vô số kiếp, từ hình thể này qua hình thể khác, từ thế giới này qua thế giới khác, hiện đi và hiện lại, khi làm người, khi làm thú, khi làm chư thiên, khi làm ngạ quỷ. Dù ở trong cảnh nào, chúng ta cũng có hưởng cái vui và cái khổ. Cái vui và cái khổ nối tiếp nhau. Kẻ nhiều kinh nghiệm không thèm ngó tới những cảm giác thích ý nữa vì những cảm giác thích ý là mầm đau khổ.

Con đường giải thoát

Chúng ta đã dùng từ lúc nào cái máy nhận thức của chúng ta để thỏa mãn sự ham muốn và sự khao khát của chúng ta. Chúng nó là nguyên nhân sanh ra xác thân hiện tại. Mặc dù chúng nó trói buộc chúng ta vào cõi đời đau khổ, nhưng chúng ta có thể thoát khỏi vòng ảnh hưởng của chúng nó được, vì sự khao khát và sự ham muốn là những đặc tính mà chúng ta có thể có hay là không có. Vậy đối với chúng ta, chúng nó không phải là cần thiết.

Người được giải thoát là người đã được thoát khỏi sự bắt buộc đặt cơ thể của người dưới quyền sử dụng của sự ham muốn. Và nht là đến giờ chết, người sẽ không phấn đấu với sự tiêu tan cơ thể hữu hình của người, trái lại người sẽ bỏ nó một cách lãnh đạm. Không còn ham muốn những cảm giác mới nữa, người được giải thoát sẽ không nắm lấy hột giống để tạo nên một cơ thể mới, dù là một hột giống nào. Người đã làm chủ ý của người và tiêu diệt được nó.

Sự an tịnh cực điểm trong tâm, tạo nên hạnh phúc thật sự thảnh thơi, thiêng liêng, không thể diễn tả. Người đã tự thoát khỏi, tự giải phóng trọn sự ham muốn, trọn sự khao khát, trọn hết sự xu hướng và thúc dục của người.

Đức Phật nói: “ Không có thứ nào đang cho người ta ưa muốn”. Khi một vị tỳ khưu nghe được điều này rồi người xem xét mỗi vật. Xem xét mỗi vật, người thấu biết mỗi vật. Và thấu biết mỗi vật, người thấy trong mỗi vật mà người cảm biết, đều có sự không bền, sự già cổi, sự tiêu diệt. Người không còn tha thiết với vật gì trong cõi đời nữa. Như thế, người tới cảnh tắt mất lòng ham muốn, tắt mất lòng khao khát (Niết Bàn). Lúc bấy giờ người nhìn biết “sự tái sanh đã diệt, đời đạo hạnh đã xong, tôi đã làm cái đều tôi phải làm, tôi không còn sự gì liên quan với mấy vật này nữa”.

Vì thế, mà vị tỳ khưu được giải thoát, nhờ diệt tận lòng ham muốn. Người đạt đến “trạng thái hoàn toàn vững chắc, ti bậc đạo hạnh cực điểm, tới mục đích cuối cùng”.

Vậy chúng ta phải tập chống lại sự ham muốn và những sự quyến luyến thấp hèn, những điều ta được tha lòng mà hại cho kẻ khác:

Khởi sự chúng ta nên:

1.      Đè nén những sự ham muốn

2.      Sửa đổi cho sự ham muốn được thanh cao

3.      Dập tắt hết trọn sự ham muốn

Khi chúng ta không còn sự ham muốn nào nữa thì chúng ta tới cảnh thảnh thơi hơn hết, cảnh an tịnh hơn hết, chỉ có cảnh trạng đó là thật đáng muốn mà thôi.

Phương thế này hay hơn hết để diệt sự ham muốn là nhận biết rằng “chân hạnh phúc của cảnh giải thoát ở trong sự diệt tận lòng ham muốn”.

Cái “tôi” tắt mất

Cơ thể hữu hình kết hợp với ý thức (sự nhận biết) sanh ra cái “tôi”. Nhờ có thuộc tính mà biết được chúng ta và phân biệt ông X hay ông Y.

Tư tưởng “tôi” hay là “của tôi” không còn phát hiện trong trí của kẻ đã nhận biết rõ rằng cả thảy đều là riêng biệt với bổn thể của tôi. Có chăng chỉ còn tư tưởng “không phải tôi”, “không phải của tôi” còn phát hiện nơi người. Quan niệm một cái “tôi” riêng tư không còn nữa. Thật sự, mọi hoạt động nhận thức chỉ sanh ra tư tưởng “không phải tôi” và “không phải của tôi”, tư tưởng “anattā” (vô ngã).

Chúng ta thì trái lại, chúng ta tư tưởng với những tiếng “tôi” và “của tôi” bởi vì chúng ta không biết phân biệt “chơn ngã” với cái “tôi” mộng ảo nghĩa là với nhơn tánh của chúng ta.

Thật vậy, có thể nào “tôi” có thể tái sanh, nếu “tôi” đó đã chết, nếu “tôi” đó đã tan rã, tiêu diệt và phân tán? Đó là sự mâu thuẩn vô lý, bởi vì cái mà không còn nữa, không thể tái sanh được.

Phải biết rằng sự chết và sự tái sanh chỉ ứng dụng cho những thuộc tánh, chớ không phải cho “chơn ngã” cũng như tôi có thể choàng cái áo lên mình và sau đó thay cái áo khác.

Bậc giải thoát sau khi chết là “tắt mất trọn”. Bậc giải thoát không bị tiêu diệt, trái lại sự chết không còn động đến người được nữa. Cái chết chỉ lấy mất sức hoạt động, cảm giác và như thế. Người được thảnh thơi tuyệt đối.

Đấng Trọn Lành tắt mất cũng như cây đèn tắt, bởi không còn ý muốn nào nổi lên nơi người nữa. Mà sự tắt của một cây đèn chỉ thuộc về những hiện tượng là những thuộc tánh của cây đèn nghĩa là dầu và tiêm, chớ không quan hệ đến chính mình cây đèn. Cũng như lửa, khi vật cháy đã tàn, lửa trở về chỗ nó, bản chất của lửa vẫn tồn tại.

Bậc giải thoát cũng tắt, Ngài cũng như lửa, Ngài trở về “quê hương”.

Đức Phật giảng nghĩa minh bạch rằng sự tắt mất chỉ ứng dụng vào 3 ngọn lửa:

-          Ngọn lửa thèm muốn (tham)

-          Ngọn lửa oán ghét (sân)

-          Ngọn lửa hôn mê (si)

Bởi đó Ngài định nghĩa chữ Niết Bàn là mục đích của đời đạo hạnh, là tắt mất sự khao khát, tắt mất lòng ham muốn. Không còn ham muốn những hình thể, thinh âm, mùi, vị, vật, r đụng được và tư tưởng.

Nếu tất cả sự khao khát và ý muốn đều không còn, thì tất cả sự biến chuyển trong cõi đời cũng không còn, những sự đó không chút nào ảnh hưởng tới cảnh giới bổn thể.

Cũng như tất cả sông rạch của trái đất và cả nước trong không khí, hiệp lại biển cả, thì nước trong biển cả cũng không tăng, không giảm cũng giống như cảnh giới Niết Bàn, không tăng không giảm, mặc dù có bao nhiêu số đạo sư tới trong đó.

Cảnh giới Niết Bàn, đó là quê hương thật của chúng ta. Bởi lẽ đó, cho nên nói khi lửa tắt, cũng như khi đấng Trọn Lành tắt “người cũ trở về quê cũ”.

Bài thuyết trình đến đây là chấm dứt.

Chúng tôi ch trình bày với những sự hiểu biết của chúng tôi, chân lý tối cao, vô thượng của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mong sao nó sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trên đường tu học và khảo cứu.

 

Nhập Hạ - Vassā

Theo thể lệ trong Phật Giáo, khi đến mùa mưa các vị Tỳ Khưu, Sa Di phải nhập Hạ trong 3 tháng là an cư trong một nơi.

Trước khi an cư nhập Hạ, phải chọn một chùa, một tịnh thất, một hang núi nào không có nạn khủng bố vì độc trùng, ác thú, không có tiếng ồn ào. Lại cũng phải chọn nơi thuận tiện trong sự học hỏi kinh luật hoặc hành thiền định, khi có điều chi nghi ngờ, chưa thông, dễ dàng cầu học, hoặc rủi có phạm lỗi muốn được sám hối dứt trừ, có vị Tỳ Khưu để sám hối.

Nhứt là trong chúng, tức chư Tăng sống chung không có vị ưa gây phá, không khỏi nhơn duyên phạm giới, bị thương tổn phạm hạnh, mạng nạn, làm trở ngại việc an cư. Ðiều cần yếu là phải chọn chỗ có đủ điều kiện thuận lợi, gọi là chỗ "không có năm lỗi" mới đặng ở nơi đó mà an cư.

Chỗ không có 5 lỗi là:

1.      Chỗ không quá xa xóm làng, tiện việc đi trì bình khất thực.

2.       Chỗ không gần thành thị, ồn ào huyên náo.

3.      Chỗ không có kiến, ruồi, muỗi nhiều, mình và chúng sanh khó tránh điều có hại.

4.      Chỗ có vị Tỳ Khưu đủ 5 đức để mình nương nhờ.

5.       Chỗ có thí chủ thuốc thang, cơm cháo.

Vị Tỳ Khưu có đủ 5 đức là:

1.      Chỗ mình chưa nghe, ông dạy cho mình nghe

2.      Chỗ mình nghe rồi, ông làm cho đặng thanh tịnh.

3.      Hay giải quyết dùm những chỗ nghi của mình.

4.      Thông suốt kinh luật, sẵn lòng dạy bảo.

5.      Có chánh kiến.

Nếu không được cùng an cư chung một chỗ, cần được ở gần để tiện bề lui tới trong ban ngày khi hữu sự. Như thế có nghĩa là không ở quá xa, mỗi khi đi, về phải gặp đều trở ngại không kịp trong ngày trở về nơi cư ngụ.

Theo Phật Giáo Nam Tông tức là Phật Giáo Nguyên Thủy Theravāda, chư tăng làm lễ nhập Hạ ngày 16 tháng 6 âm lịch.

Nhập Hạ tiếng Pali gọi là Vassā. Chữ Vassā dịch là Hạ hay nhập Hạ, có nghĩa là Chư Tăng phải đình trú trong một nơi không ra khỏi chỗ ngụ trước khi mặt trời mọc, trong 3 tháng mưa, trừ ra khi hữu sự cần thiết.

Lúc Ðức Phật còn tại thế, mấy năm đầu các vị Tỳ Khưu trọn năm đi từ làng này qua xã khác, sang thành nọ, đến quận kia, đi mãi không ngừng nghỉ. Chẳng quản gì nắng mưa cực nhọc, chỉ mong đem pháp lành gieo rắc cùng nơi khắp chốn cho nhơn sanh hưởng nhớ.

Ðến lúc mưa dầm, cỏ cây đâm chồi nảy lộc, côn trùng sinh nở nhiều nơi, khắp cùng mặt đất. Sự đi lại tránh sao khỏi dậm đạp phải các sinh vật và mầm non cây cỏ. Những kẻ ngoại đạo có cơ hội chê trách, nói rằng: Ðến mùa mưa loài chim, loài kiến còn biết làm ổ để ở, còn các nhà Sư trong đạo Phật cứ đi mãi, dậm nát cỏ non và côn trùng. Nhân cớ ấy, Ðức Phật mới dạy Chư Tăng phải nhập Hạ, là cư ngụ trong một nơi cho đến hết mùa mưa.

Xứ Ấn Ðộ một năm chia ra có 3 mùa: mùa nắng, mùa mưa và mùa lạnh. Mùa nắng kể từ ngày 16 tháng 2 đến Rằm tháng 6. Mùa mưa kể từ ngày 16 tháng 6 đến Rằm tháng 10. Mùa lạnh kể từ 16 tháng 10 đến Rằm tháng 2.

Mùa mưa, kể từ là 4 tháng, nhưng Chư Tăng chỉ nhập Hạ, là cư trú một nơi, trong ba tháng thôi, tức là ba tháng mưa dầm nhiều nhứt.

Cũng nên nói rõ là, không khi nào Ðức Phật tự ý chế định một thể lệ nào, hay một giới cấm nào, thậm chí đến những cảnh tượng mà người đời chưa gặp gỡ. Ngài cũng ít nói ra. Vì Ðức Phật không muốn bắt buộc ai ai đều phải tin Ngài. Ðến khi có cơ hội hay có vị Sư nào có phong độ không đẹp, làm cho người đời chê trách, Ðức Phật mới nhân cớ ấy mà dạy bảo làm điều răn cấm; hoặc có vị nào gặp gỡ những hiện tượng lạ lùng, như thấy ngạ quỷ chẳng hạn, đến bạch hỏi. Ðức Phật nhân đó nói ra và giảng giải. Ðó là tinh thần tự do và dân chủ của Ðạo Phật. Và cũng với ý đó mà kẻ ngoại đạo, hoặc người đời sau không thể nói Ðức Phật độc tài tự ý đặt ra luật lệ để trói buộc tín đồ.

Nhập Hạ có 2 cách:

1. Nhập Hạ kỳ trước, gọi là Tiền An cư Purimikāvassā, là nhập Hạ kể từ ngày 16 tháng 6 đến ngày Rằm tháng 9 âm lịch.

2. Nhập hạ kỳ sau gọi là Hậu An cư Pacchimikāvassā, là nhập hạ kể từ ngày 16 tháng 7 đến ngày Rằm tháng 10 âm lịch.

Nếu không có điều chi trở ngại, nên kiết Hạ Tiền An cư tức là nhập Hạ kỳ trước.

Trong thời gian 3 tháng an cư kiết hạ, Chư Tăng cũng vẫn đi trì bình khất thực như thường lệ. Vì đó là lề lối sống của Chư tăng hằng ngày.

Trong các xứ Phật giáo thạnh hành từ xưa, Chư Tăng đều được Thiện Tín để bát đủ sống hằng ngày. Cho nên các chùa không có nấu nướng món ăn, chỉ được nấu nước mà thôi.

Trong lúc an cư kiết hạ, chư tăng hội hiệp, có thì giờ trau đổi sự hiểu biết về Kinh luật, nghiên cứu Tam Tạng Pháp Bảo, hoặc tham thiền nhập định. Cũng trong dịp này, Chư Tăng sống tập thể với tinh thần hòa đồng mà các ngoại đạo không có. Ðó là sống đúng theo tinh thần Pháp Lục Hòa của Ðức Phật đã giáo truyền.

Chư Sư sống chung từ 4 vị trở nên gọi là Tăng, tiếng Pali là Saṅghā, có nghĩa là Hòa Hiệp Chúng. Pháp Lục Hòa là:

1.      Thân hòa đồng trụ, là giúp đỡ lẫn nhau chung sống.

2.      Khẩu hòa vô tranh, là dùng lời nói ôn hòa không tranh cãi.

3.      Ý hòa đồng duyệt, là tâm từ hòa khuyên bảo lẫn nhau

4.      Kiến hòa đồng giải, là sự hiểu biết trao đổi cùng nhau.

5.      Giới hòa đồng tu, là cùng nhau nghiêm trì giới luật.

6. Lợi hòa đồng quân, là lợi lộc đồng chia đều nhau.

Như đã nói, nhập Hạ thì phải cư ngụ đúng 3 tháng, nhưng khi hữu sự cần thiết được phép đi khỏi nơi ấy trong khoảng 7 ngày không phạm lỗi.

Trong trường hợp có bảy hạng người là: Cha, Mẹ, Tỳ Khưu, Tỳ khưu Ni, Sikkhamānā, Sa Di, Sa Di Ni đau yếu, bịnh hoạn tai nạn, có cho hay hoặc không cho hay, khi được biết thầy Tỳ Khưu được phép đi ra khỏi chỗ nhập Hạ trong khoảng 7 ngày. Nếu đi qua ngày thứ 8, mặt trời mọc lên, phạm tội Tác Ác.

Ngoài 7 hạng kể trên, trong Thiện Tín có tin đau chết, tai nạn, dù cho hay không mà nhà Sư biết được, cũng được phép ra đi thăm viếng, hoặc trong hàng Cư sĩ tại gia đến thỉnh đi Trai Tăng, thuyết Pháp, cũng được phép ra đi trong khoảng 7 ngày.

Cách thức đi trong khoảng 7 ngày, Pāli gọi là: Sattāhakicca, là Tỳ Khưu hay Sa Di trong Hạ trước khi ra đi đường xa phải nguyện trước 1, 2 hay 3 Tỳ khưu, hoặc trước Tăng hay trước Kim Thân hay ngọc Xá Lợi Phật, như vầy:

"Sace me antarāyo natthi, sattāhabbhantare ahaṃ puna nivattisāmi"

Dutiyamapi...
Tatiyampi...

Nghĩa là:

"Nếu không có sự rủi ro đến tôi, tôi sẽ trở về trong khoảng 7 ngày".

Lần thứ nhì…

Lần thứ ba...

Cách đi trong khoảng 7 ngày, Sattāhakicca, có 2 cách là:

1. Nhập Hạ được 1, 2 ngày, hoặc trong ngày mới nhập Hạ, từ buổi chiều cho đến rạng đông trước khi mặt trời mọc, nếu hữu sự thì phải nguyện trước Tam Bảo rồi ra đi trong khoảng 7 ngày. Phải kể ngày ra đi là ngày thứ nhứt, sau khi hoàn tất công việc, đến ngày thứ sáu thì phải trở về cho kịp trước khi mặt trời mọc ngày thứ 7. Nếu mới nhập Hạ trong buổi chiều rồi nguyện đi liền thì không nên, phải chờ đến gần sáng mới đi được như thế gọi là: "Việc phải làm trong khoảng 7 ngày thứ nhứt".

2.- Khi còn 7 ngày nữa ra Hạ, là ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, nếu nhập Hạ kỳ-trước, Tiền An Cư; hoặc mùng 9 tháng 10 âm lịch, nếu nhập Hạ Kỳ sau, Hậu An-Cư, khi hữu sự thì cũng được phép đi trong 7 ngày. Nhưng phải nguyện trở lại cho kịp trong khoảng 7 ngày. Nếu chẳng may công việc không thể xong trong 7 ngày thì phải làm lễ Tự Tứ Pavāranā chung với chư Tỳ Khưu nơi chùa nào gần đó cũng được.

Như thế thì không đứt Hạ. Ðó là trường hợp bất đắc dĩ. Còn như khi ra đi mà trong tâm đã nghĩ: "Ta sẽ không trở về", như thế đứt Hạ, và phạm tội từ khi đi ra khỏi chùa đến bước thứ hai. Như thế gọi là "Việc phải làm trong khoảng 7 ngày cuối cùng".

Ðức Phật sẵn lòng từ bi cho những vị Sư cố tâm tuân hành giới luật mà gặp phải trường hợp không giữ đúng tinh thần giới luật được. Nếu chỉ còn 7 ngày nữa ra Hạ, nhưng có việc cần phải đi và cố ý nguyện đi trong khoản 7 ngày, song vì tình thế bắt buộc, trở ngại, không thể nào trở về kịp cũng không sao, là không phạm tội Tác ác.

Lại có những nguyên nhân đứt Hạ, nhưng không phạm tội:

1. Trong Hạ bị thú dữ, ma quỷ khuấy phá, hoặc có kẻ trộm cướp ở gần, có thể bỏ chỗ ấy đi nơi khác được.

2. Xóm nhà mà vị Tỳ Khưu thường đi trì bình khất thực, nhưng vì hoàn cảnh nào đó mà thiện tín dời đi hết. Vị Tỳ Khưu không còn nhờ nơi nào khác được nên phải bỏ chỗ đó mà đi nơi khác.

3. Chỗ ở hư sập, lửa cháy, nước lụt hoặc không người để bát, thì phải đi tìm nơi khác.

4. Bị phụ nữ lân cận trêu ghẹo, cám dỗ, thì phải bỏ đi nơi khác.

5. Thấy có vàng bạc, ngọc ngà, châu báu chôn dấu gần nơi cư ngụ, sợ ở lâu tâm đầy tham lam mà lấy của ấy, nên phải bỏ đi nơi khác.

6. Nghe thấy chư Tỳ Khưu muốn chia rẽ Tăng.

7. Và Tăng đã chia rẽ nhau, được phép đến nơi ấy cố gắng giải hòa, thì không phạm tội, nhưng bị đứt Hạ.

Như vậy nhập Hạ không có nghĩa là giam hãm một nơi tuyệt đối không được tiếp xúc với người ngoài hay cấm không được đi đâu hết.

 

Mãn Hạ

Lễ Tự Tứ, Pavāranā

Chư Tỳ Khưu Tăng an cư mãn Hạ rồi phải hành lễ Tự Tứ cùng nhau. Ðức Phật có dạy: "Như Lai cho phép Chư Tỳ Khưu đã nhập Hạ đến mãn mùa mưa rồi phải hành lễ Tự Tứ Pavāranā theo 3 điều:

1.      Vì được thấy

2.      Vì được nghe

3. Vì được nghi.

Nếu An cư nhập Hạ kỳ trước là ngày 16 tháng 6 âm lịch thì phải hành lễ Tự Tứ Pavāranā trong ngày Rằm tháng 9 âm lịch. Nhập Hạ kỳ sau, là ngày 16 tháng 7 âm lịch, thì phải hành lễ Tứ Tự Pavāranā trong ngày Rằm tháng 10 âm lịch.

Tự Tứ Pavāranā là việc chỉ lỗi giùm, thức tỉnh cho nhau bằng 3 cách: thấy, nghe và nghi, chư Tăng tùy ý, tự do chỉ tội để sám trừ tội ấy. Ðây là một việc phê bình kiểm thảo một cách hài hòa xây dựng chung cho chư Tỳ Khưu Tăng cùng chung kiết hạ an cư trong một chùa.

Khi Chư Tỳ Khưu Tăng hội họp đông đủ vị Tỳ Khưu thông hiểu tuyên bố rằng: "Bạch Ðại Ðức Tăng, xin Tăng nghe tôi trình, này là ngày Tự Tứ Pavāranā đúng kỳ, xin Chư Tăng nên hành lễ Tự Tứ Pavāranā".

Vị Tỳ Khưu cao hạ nhứt, chấp tay nói lên: "Này Chư Tăng, tôi xin Tự Tứ Pavāranā với Tăng, nếu Chư Tăng có thấy, nghe hoặc nghi, xin Chư Tăng vui lòng tiếp độ, thức tỉnh tôi, tôi được biết tội, tôi xin thi hành đúng như pháp mà sám hối". Nói như thế 3 lần. Kế tiếp vị Tỳ Khưu thấp hạ hơn vị trước cũng xin Tự Tứ, lần đến vị Tỳ Khưu thấp hạ hơn hết. Nếu có vị Tỳ Khưu già, bịnh thì được phép cho vị ấy ngồi yên tại chỗ ở mà Tự Tứ. Nếu vị ấy nói lầm lộn, thì phải mỗi mỗi nhắc lời hoặc viết ra giấy cho vị ấy đọc lên 3 lần.

Nếu chỗ ở có 5 vị Tỳ Khưu hoặc 5 vị trở lên, phải cử một vị thông hiểu bạch tuyên ngôn Tự Tứ, rồi từ vị cao hạ Tự Tứ lần đến vị thấp hạ. Nếu trong chùa đông Tỳ Khưu, theo thứ lớp làm lễ Tự Tứ. Nơi chỉ có 2 vị Tỳ Khưu thì khỏi phải đọc tuyên ngôn. Vị Tỳ Khưu cao hạ Tự Tứ trước, vị thấp hạ Tự Tứ sau. Còn như nơi nhập Hạ chỉ có vị Tỳ Khưu thì tự mình đọc lên 3 lần mà Tự Tứ bằng cách tự xét mình: "Ngày nay chư Tăng Tự Tứ, tôi Tỳ Khưu ... cũng Tự Tứ".

Trong lễ Tự Tứ Pavāranā có đông Tỳ Khưu, không nên đọc lời Tự Tứ Pavāranā chung một lượt, phải đọc mỗi vị 3 lần. Trừ ra có duyên cớ như: thí chủ đương bố thí, Tỳ Khưu đương nghe pháp, đêm gần tàn, hành lễ Tự Tứ Pavāranā mỗi vị đọc 3 lần không kịp, hoặc có xảy ra 8 nạn như: nạn vua quan, nạn nước lụt, nạn lửa cháy, nạn bịnh, nạn thú dữ độc trùng, nạn người, nạn phi nhơn hay có việc nguy hiểm khác xảy ra làm lễ Tự Tứ không kịp đầy đủ; đã làm được phần nào rồi lo đi lánh nạn. Nếu nạn sự còn xa có thể nói lên đủ 3 lần mỗi vị, thì phải nói cho đủ. Nếu nạn sự tới gần, nói lên 3 lần không kịp thì được nói lên 1 lần mỗi vị. Nếu nạn sự cận quá, không thể mỗi vị nói lên 1 lần kịp, thì chư Tăng đồng nói chung với nhau 3 lần mà Tự Tứ.

Những vị Tỳ Khưu nhập Hạ kỳ sau, Hậu an cư, được phép cùng các Tỳ Khưu nhập Hạ trước, Tiền an cư làm lễ Tự Tứ, Tự Tứ xong phải ở đợi cho đủ ngày, tức là ngày Rằm tháng 10 âm lịch mãn Hạ.

Nếu có vị Tỳ Khưu phạm tội Bất Cộng Trụ, phải trục xuất rồi mới Tự Tứ. Nếu phạm tội Tăng Tàn, phải chịu phạt cấm phòng, sửa lỗi xong rồi cho chư Tăng giao thiệp lại, mới Tự Tứ. Nếu phạm các tội khác, phải sám hối rồi mới làm lễ Tự Tứ Pavāranā.

Một năm chia ra 3 mùa như trên đã nói, thì mỗi mùa phải là 4 tháng nhưng vì sao kiết hạ an cư chỉ có 3 tháng? Ðáp: "Thân sanh sống tạm này, phải nhờ món nuôi dưỡng nó, cho nên kiết hạ an cư 3 tháng trước, mở thêm 1 tháng sau, vì đợi có y phục, thuốc men để hộ thân. Sau đó mỗi vị lại cất bước lên đường, từ phương thi hành bổn phận. Rày đây, mai đó, tùy nơi giảng đạo, dạy kinh hoặc hành thiền định. Rồi mãi cho đến kỳ Hạ năm sau mới chọn nơi an cư kiết Hạ.

Cứ thế mãi, nối nghiệp Ðức Như Lai, đem giáo pháp hoằng khai cùng nơi khắp chốn, tế độ nhơn sanh cho những người hữu duyên tế độ. Gieo duyên lành cho tất cả mọi người không phân biệt màu da chủng tộc, mong tạo cõi đời hòa bình an lạc.

 

Ý Nghĩa Lễ Dâng Y Kahina

Lễ Kaṭhina thường gọi là lễ Dâng Y. Sở dĩ gọi là lễ Dâng Y là vì căn cứ vào sự việc của cuộc lễ đem Y Ca sa dâng đến chư Tăng rồi đặt lên cuộc lễ. Gọi lễ Dâng Y như thế chưa đúng nghĩa; vì lễ Kaṭhina có nghĩa cao quý hơn.

Chữ Kaṭhina có nghĩa là Bền vững, chắc chắn. Ý nghĩa khi thầy Tỳ Khưu thọ lãnh lễ Kaṭhina xong thì được 5 phước báo vững chắc. Chữ Kaṭhina chia ra làm 2 phần: Ka và Thina. Chữ Ka do chữ Karanasamatthāya nghĩa là làm cho có 5 phước báo. Chữ Thina do chữ Thiram nghĩa là chắc chắn. Hai chữ ấy ráp lại: Kaṭhina có nghĩa là có năng lực phát sanh 5 phước báo được chắc chắn.

Vậy nên dung hòa mà gọi cho đúng nghĩa là "Lễ Dâng Y Kaṭhina" để phân biệt việc dâng y thông thường.

Chữ Kaṭhina người Tàu dịch là Y Công Ðức có nghĩa là thọ lễ này được 5 công đức trong 5 tháng, là kể từ ngày ra Hạ Rằm tháng 9 đến Rằm tháng 2 âm lịch. Cũng gọi là Y thưởng thiện, phạt ác, nghĩa là thầy Tỳ Khưu an cư nhập Hạ đúng theo luật của Ðức Phật thì có công đức lành nên thưởng y này. Còn những thầy Tỳ Khưu phi pháp, phá an cư, đứt Hạ thì phạt bằng cách không được y nầy.

Lễ Dâng Y Kaṭhina long trọng hơn các lễ dâng cúng khác vì khi chư Tăng được thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina rồi, thì chư Tăng ấy được hưởng 5 phước báo hay 5 công đức chắc chắn.

Các cuộc lễ bố thí khác cũng cao thượng như là:

1.      Bố thí cho chư Tăng phương xa mới đến.

2.      Bố thí cho chư Tăng sắp đi xa.

3.      Bố thí trong khi thất mùa.

4.      Bố thí những vật đầu mùa, như hoa, quả.

5. Bố thí cho thầy Tỳ Khưu bịnh.

Những việc bố thí này thí chủ được làm nhiều lần trong một năm và bố thí lúc nào cũng được. Còn lễ Dâng Y Kaṭhina, trong một chùa chỉ được tổ chức một lần, trong một năm và cũng chỉ trong thời hạn 1 tháng là từ ngày 16 tháng 9 đến ngày Rằm tháng 10 âm lịch mà thôi.

 

Ðiều kiện căn bản lễ Dâng Y Kaṭhina.

 

Lễ Dâng Y Kaṭhina được tổ chức bởi những điều kiện đặc biệt mới thành tựu đầy đủ phước báo:

1. Phải có đủ từ 5 vị Tỳ Khưu trở lên dự lễ và khi hành lễ phải tụng tuyên ngôn.

2. Tỳ Khưu nhập Hạ kỳ trước, gọi là Tiền An Cư, Purimikāvassā, kể từ ngày 16 tháng 6 đến ngày Rằm tháng 9 âm lịch.

3. Trong 3 tháng nhập Hạ không bỏ đi khỏi chỗ đã nguyện an cư quá 7 ngày và khi đi phải có lý do chánh đáng theo giới luật.

4. Vị Tỳ Khưu thọ lễ Dâng Y Kaṭhina phải giới hạnh tinh nghiêm, nhứt là không phạm giới Bất Cộng Trụ và Tăng Tàn.

5. Vị Tỳ Khưu thọ lễ Dâng Y Kaṭhina phải thông thuộc 8 pháp của sư thọ Y Kaṭhina mới đáng thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina.

Ngoài ra những Tỳ Khưu nhập Hạ kỳ sau, gọi là Hậu An Cư, là kể từ ngày 16 tháng 7 đến ngày Rằm tháng 10 âm lịch cũng có thể được tham dự .

Không được tham dự là những vị:

- Tỳ Khưu đã phạm giới Bất Cộng Trụ, Tăng Tàn, đương bị phạt biệt trú là cấm phòng ở riêng.

- Tỳ Khưu phá Hạ, đã bỏ nơi an cư không lý do chánh đáng theo giới luật.

- Tỳ Khưu dầu đi có lý do chánh đáng theo giới luật, nhưng quá kỳ hạn 7 ngày mới trở về nơi an cư Kiết hạ.

- Tỳ Khưu nhập Hạ chùa khác, nơi khác đều không được thọ lễ Dâng Y Kaṭhina.

Bởi thế cho nên lễ Dâng Y Kaṭhina là lễ đặc biệt của mỗi chùa trong một năm, có nhiều phước báo cho người thí lẫn kẻ thọ.

 

Phước Báo của người chủ lễ

 

Người chủ lễ Dâng Y Kaṭhina được phước báo cao thượng là tái sanh trong kiếp nào cũng không thiếu vật dụng trang điểm tốt đẹp, quý giá và điều cao quý hơn là hết là trong kiếp nào gặp Phật thì được xuất gia bằng cách Thiện Lai Tỳ Khưu - Ehi Bhikkhu, nghĩa là khi Ðức Phật cho xuất gia, Ngài chỉ bảo rằng: "Ngươi hãy trở nên Tỳ Khưu" thì liền theo đó y phục của người giới tử trở thành Y Ca sa và có quả bát, râu, tóc đều sạch hết.

Ðây là phước báo của thí chủ lễ Dâng Y Kaṭhina.

Pháp cần yếu của vị Tỳ Khưu thọ lễ Dâng Y Kaṭhina.

Vị Tỳ Khưu thọ lễ Dâng Y Kaṭhina phải thông thuộc 8 pháp là:

1.      Pubbakarana: việc phải làm cho hoàn thành y ca-sa.

2.      Paccuddhā: Xả y cũ.

3.      Adhitthāna: nguyện đặt tên mới.

4.      Atthāra: cách thọ y đúng phép.

5.      Mātikā: nguyên nhân xả Kaṭhina.

6.      Palibodha: sự ràng buộc Kaṭhina.

7.      Uddhāra: cách xả Kaṭhina.

8. Anisansa: phước báo Kaṭhina.

Xin giải sơ lược 8 chi pháp trên:

1.      Pubbakarana. Việc phải làm hoàn thành y ca sa: giặt, dò, đo, cắt may lược, may xong, nhuộm, làm dấu y.

2.      Paccuddhāra. Xả y cũ. Vị Tỳ Khưu có 3 Y là:

a.       Y Tăng-Già-Lê, Saṅghati, gọi là Trùng Phục Y.

b.      Y Uất-Ðà-La-Tăng, Uttarasaṅgha, gọi là Thượng Trước Y.

c.       Y An-Ðà-Hội, Antaravasaka, gọi là Hạ Trước Y.

d.      Vị Tỳ Khưu muốn thọ y mới, là y nào thì phải nguyện xả y cũ theo là y hạng đó. Nếu sẽ thọ Y Tăng-Già-Lê mới, thì phải nguyện xả Y Tăng-Già-Lê cũ.

3.      Addhitthāna. Nguyện đặt tên Y mới.

4.      Atthāra. Cách thọ Y: Vị Tỳ Khưu thọ Y mới, phải tuyên bố ra tiếng rõ ràng có mấy vị khác đồng nghe thì mới có kết quả Kaṭhina. Nếu nói nhỏ chư Tăng không nghe được thì Kaṭhina không được kết quả.

5.      Mātikā: Nguyên nhân xả Kaṭhina.

6.      Palibodha. Ðiều ràng buộc Kaṭhina không hư hại tức là không cho xả.

7.      Uddhāra. Cách xả Kaṭhina.

8.      Anisansa. Phước báo của Lễ thọ Kaṭhina.

Vị Tỳ Khưu thọ Kaṭhina rồi được hưởng 5 phước báo là:

1.      Nếu Kaṭhina chưa xả, Tỳ Khưu không từ giả vị trong nhóm, rồi đi cũng được, nghĩa là không phạm tội trong điều học Cāritta.

2.      Tỳ Khưu không đem tam y theo mình, rồi đi cũng được, không phạm tội trong điều học Asamādānacāro.

3.      Tỳ Khưu thọ thực chung nhiều vị cũng được. Không phạm tội trong điều học Ganabhojana.

4.      Cất giữ Y, dù không "Nguyện đặt tên Y" Addhitthāna, không gởi cũng được, không phạm tội trong điều học Pathamakaṭhina.

5.      Y của Tỳ Khưu hoặc Sa Di tịch, hoặc Y dâng đến Tăng, hay Y phát sanh do tài sản của Tăng, thì vị Tỳ Khưu đã thọ Kaṭhina được phép lãnh dùng.

Tóm tắt 5 phần phước báo mà chư Tỳ Khưu Tăng thọ hưởng do nơi lễ Dâng Y Kaṭhina.

 

Lễ Dâng Y Kaṭhina có từ bao giờ?

Theo lịch sử Phật Giáo, từ khi Ðức Phật thành đạo dưới cội Bồ Ðề đến ngày nhập Niết Bàn là 45 năm. Chia ra làm 3 thời kỳ:

1.      Từ năm thứ Nhứt đến năm thứ 15, là thời kỳ thứ Nhứt.

2.      Từ năm thứ 16 đến năm thứ 30, là thời kỳ thứ Nhì.

3.      Từ năm thứ 31 đến năm thứ 45, là thời kỳ thứ ba.

Trong 3 thời kỳ ấy, Ðức Phật cho phép các thầy Tỳ Khưu thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina trong thời kỳ thứ Nhì.

 

Do nơi đâu có lễ Dâng Y Kaṭhina?

Lúc Ðức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên Tịnh Xá của ông Trưởng giả Cấp Cô Ðộc gần thành Xá Vệ, có 30 vị Tỳ Khưu tu tại thành Patheya, 30 vị này là anh em cùng cha khác mẹ, con của vua Kosala, xuất gia trong thời kỳ thứ Nhứt của lịch sử Phật Giáo. 30 vị này đều đắc quả từ Tu-Ðà-Hườn đến quả A-Na-Hàm. Các ngài đều muốn về thành Xá Vệ để hầu Ðức Thế Tôn. Nhưng vì đường xa, đi về không kịp, vì đã đến ngày nhập Hạ, nên các ngài phải nhập Hạ tại xứ Saketa. Khi trong Hạ, các ngài hằng nghĩ rằng: chỉ còn có 6 do tuần nữa đến nơi Ðức Thế Tôn nhập Hạ, mà chúng ta phải ở nơi này thật là khó chịu.

Ðến ngày làm lễ ra Hạ xong, các ngài đồng cùng nhau lên đường liền về hầu Ðức Thế Tôn. Trong khi ấy, vẫn còn mưa dầm lầy lội, nên các ngài phải bị ướt hết vật dụng và Y cũng rách. Khi đến nơi vào hầu Ðức Thế Tôn, Ðức Phật hỏi thăm sự hành đạo và sức khoẻ của các ngài. Các ngài đáp vẫn được an vui. Rồi các ngài mới tường thuật sự đi đường rất là vất vả cực nhọc cho Ðức Phật nghe. Ðức Thế Tôn nhân việc ấy mới thuyết về "Luân Hồi Khổ" cho các ngài nghe. Sau khi dứt thời Pháp tất cả đều đắc A-La-Hán quả.

Khi ấy Ðức Thế Tôn mới nghĩ rằng: Nếu trước kia Như Lai cho phép các thầy Tỳ Khưu thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina, thì các thầy khỏi phải đem Y Tăng-Già-Lê theo, thì đâu có sự cực nhọc như vầy. Chư Phật trong quá khứ đều cho phép đệ tử thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina.

Liền khi ấy, Ðức Thế Tôn mới hội chư Tăng lại và truyền rằng: "Nầy các Thầy Tỳ-Khưu, Như Lai cho phép các thầy đã nhập Hạ thọ lãnh để Dâng Y Kaṭhina. Này các thầy Tỳ-Khưu, khi các thầy thọ lễ Dâng Y Kaṭhina xong, thì được 5 điều phước báo". Ðây là nguyên nhân mà chư Tăng được phép thọ lãnh lễ Dâng Y Kaṭhina.

Xin nói thêm cho rõ. Ðức Phật không khi nào vô cớ tự ý chế ra một điều gì, một việc gì mà không có nguyên nhân, dù rằng Ngài là bậc toàn tri diệu giác.

 

Ai là người đầu tiên dâng Y Kaṭhina?

Người đứng ra tổ chức lễ Dâng Y Kaṭhina trước nhứt trong Phật Giáo là bà tín nữ Visakha. Cuộc lễ cử hành tại Kỳ Viên Tịnh Xá của ông Trưởng Giả Cấp Cô Ðộc, nhơn khi bà hay tin Ðức Thế Tôn cho phép chư Tỳ Khưu Tăng được thọ lãnh lễ Kaṭhina.

Bà là một tín-nữ và cũng là một đại thí chủ trong Phật Giáo.

Tóm lại lễ Dâng Y Kaṭhina là lễ đặc biệt hơn hết trong các lễ thí tài vật dâng cúng đến chư Tăng. Chẳng những có đủ tài vật do thí chủ hoan hỷ đứng ra tổ chức mà còn phải chọn đúng thời gian, vì mỗi chùa chỉ được hành lễ này có một lần trong một năm mà thôi.

Hơn nữa, cuộc lễ không phải dâng cúng riêng một cá nhân nào mà là chung cho chư Tỳ Khưu Tăng đã Kiết hạ an cư thi hành đúng theo tinh thần giới luật của Ðức Phật đã chuẩn hành.

Trong 3 tháng nhập hạ, chư Tăng phải thúc liễm thân tâm hơn nữa, chuyên chú tâm học Kinh học luật và hành thiền định. Ngoài ra, nhờ sự tụ họp sống chung một nơi, chư Tăng dễ bề kiểm thảo, nhắc nhở, khuyên dạy lẫn nhau, làm cho nết hạnh và nhân cách được dồi mài thêm cho tinh nghiêm, để cho xứng đáng là phước điền của chư Thiên và nhơn loại.

Vì thế, lễ Dâng Y Kaṭhina gọi là lễ Ðại Thí có đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần, phát sanh phước báo cao quý cho người thí chủ mà chư Tăng thọ thí cũng được công đức trọng đại.

 

Ý nghĩa Hạnh Trì Bình Khất Thực của nhà Phật.

Thuở Ðức Phật trở về cố quốc, xứ Ca-bì-la-vệ, một buổi sáng nọ, Ðức Thế Tôn cùng 1250 vị Tỳ Khưu vào thành, tuần tự đi trì bình khất thực.

Ðức Tịnh Phạn Vương còn đương trong phòng rửa mặt, chải tóc, bà Da Du Ðà La vào tâu rằng: "Muôn tâu Phụ Vương, Thái Tử Sĩ Ðạt Ða đã trở về, nhưng còn mang bát đi xin ăn dài theo đường". Ðức vua nghe qua rất bất bình, vội vàng quấn tóc, xốc áo xuống lầu đến đón ngay trước mặt Ðức Thế Tôn. Ðang đi, Ðức Phật dừng lại, với tướng hào quang minh, oai nghiêm, từ mẫn khác thường. Vua Tịnh Phạn trong lòng bối rối, nửa mừng nửa ngại. Nhưng vì lòng tự tôn của hoàng tộc, Ðức Vua cung kính bạch rằng: "Bạch hóa Ðức Thế Tôn, người trong hoàng gia luôn luôn sống trên trăm họ, ngọc ngà, châu báu, vàng bạc thiếu chi, Trẫm lấy làm xấu hổ mà thấy Ðức Thế Tôn đi hành khất mong nhận vật thí của dân gian để sống như vầy. Bạch hóa Ðức Thế Tôn từ nay Trẫm xin Ðức Thế Tôn cùng Chư Tăng ngự an một chỗ trong hoàng cung, cho Trẫm lo việc ăn uống hằng ngày, để Trẫm khỏi đau buồn tủi hổ".

Ðức Phật ôn tồn trả lời: "Kính thưa Phụ Vương, quả thật từ xưa, hàng vương tước vẫn sống trong cung vàng điện ngọc, khô lân chả phụng thiếu chi. Nhưng đây là đời sống của Phật, Như Lai hôm nay vẫn giữ hạnh trì bình khất thực theo Chư Phật trong quá khứ. Phụ vương chớ nên e ngại, hạnh trì bình khất thực này có nhiều phúc báu lớn lao cho tất cả bá tánh".

Sự tích tóm tắt hạnh trì bình khất thực của Ðức Phật mà Chư Tăng Phật giáo Nam Tông trên thế giới phải noi theo là thi hành đúng theo Pháp giáo của Ðức Phật Tổ Thích Ca.

Hơn nữa, hạnh trì bình khất thực còn có nhiều ý nghĩa, lợi ích lẫn kẻ thí và người thọ, nên Chư Tăng trong Phật giáo không được phép bỏ qua. Hạnh Trì bình khất thực có những ý nghĩa như dưới đây:

1. Diệt tánh tự cao ngã mạn

Khi đã thế phát, ly gia cắt ái, nguyện xuất gia làm Tăng đồ, tức là được sanh vào dòng Phật, dù trước kia là vua, quan nhà tướng, phù hộ, giàu sang quyền quí đến đâu, nay đã xuất gia rồi, có Tam y, quả bát là món cần thiết cho sự sống hằng ngày, để khỏi bận tâm lo sắm vật thực. Hằng ngày mang bát xin ăn, đi từ nhà này sang nhà khác, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo chủng tộc. Ðã là kẻ ăn xin, tự nhận mình gởi sự sống nhờ nơi kẻ khác, tùy lòng bố thí, dở, ngon, nhiều, ít, mặn, lạt cũng vui lòng nhận. Tánh tự cao, ngã mạn của mình đương nhiên bị mài dũa dưới cấp hạ đẳng bần dân là một kẻ ăn xin. Nếu gặp phải kẻ chê bai, chỉ trích, nhà sư cũng cam chịu với lòng nhẫn nại và thứ tha cho người kém sự hiểu biết. Nhờ đó mà lòng sân nộ, tự ái, không có cơ phát khởi.

Bình thản chịu đựng mọi lời dèm pha nhẫn nại với nắng chan, đá cứng, nhà sư đem cái thân Như Lai tướng ra gợi ý cho những người có lòng bác ái và nhân đó, họ suy nghĩ đến nền đạo đức của nhà Phật mà phát tâm thương xót, thể hiện bằng cách bố thí, rồi tìm hiểu giáo lý Ðạo Phật thêm.

 

2. Giản dị trong sự sống hàng ngày

Nhà sư đi trì bình khất thực, không còn phải chìu theo vị giác của miệng lưỡi nữa, không bị sự thèm ăn làm chủ. Thế thường, vì sự thèm ăn mà người đời phải nhọc nhằn, cực khổ và gây nên tội. Nhà sư chỉ cần ăn lấy no để cho cơ thể khỏi bịnh đói hoành hành, hầu rảnh tâm tu hành học tập. như thế, món ăn chỉ là thuốc trừ bệnh đói thôi. Những khi đau ốm khó chịu, vì muốn lành mạnh mà ta phải uống thuốc. Dù chua, hôi, cay, đắng đến đâu ta cũng phải uống, vì cần yếu là được mạnh lành. Sự ăn uống của nhà sư cũng như thế ấy, dù mặn, lạt, dở, ngon cũng phải ăn, phải nuốt cho xong.

Nhà sư nghĩ rằng: vật thực này chỉ là nguyên chất của đất, nước, gió, lửa, ta phải đem nhập vào thân thể để nuôi dưỡng xác thân, đất, nước, gió, lửa này cho nó đầy đủ, để khỏi phải yếu kém mà sanh bịnh hoạn, khó chịu, đặng ta nhờ nó mà tu hành theo Phạm Hạnh. Vì thế nên ai cho món ăn chi, thì nhà sư ăn nấy, không thể đòi hỏi theo ý mình hay cố chấp, món chay, món mặn. Hơn nữa, nếu nhà sư không giản dị trong thức ăn, không làm chủ vị giác được thì còn bao nhiêu việc thèm thuồng ham muốn khác, nó sẽ sai sử đòi hỏi, rồi phải chìu theo tức là làm nô lệ nó, thì nó sẽ dẫn dắt ta đi dần vào tội lỗi. Vì thế nên nhà sư phải làm chủ vị giác là trận tuyến đầu tiên mà nhà sư phải quyết thắng, mới mong tiến bước trên đường đạo pháp.

 

3. Trực tiếp thọ ân xã hội

Chúng ta sống trong trần thế không thể cô độc được. Ta phải chung sống với xã hội loài người, quần tụ nương tựa cùng nhau. Thử nghĩ, một người bị đắm thuyền trôi giạt vào một hoang đảo, hay một người đi lạc vào rừng sâu, sự sống cô độc sẽ gặp bao nhiêu điều khó khăn bất tiện. Từ việc ăn, ở, đến việc bảo toàn sinh mạng, sức khoẻ, làm sao chu đáo được. Vì thế nên loài người phải sống tập thể để có giúp đỡ, đổi chát lẫn nhau. Chúng ta thấy đồng bào miền sơn cước người Thượng, ít hiểu biết về văn hóa, trí khôn còn thấp kém, mà còn biết sống chung với nhau từng xóm, từng sóc. Khi có điều chi không vừa ý, thì dời đi nơi khác và cũng cùng đi hết cả xóm, cả sóc. Ðến loài chim, loài ong, loài kiến v.v... cũng sống hợp bầy cùng nhau. Thế thì sự liên quan mật thiết giữa ta và xã hội loài người thật rất quan trọng cho đời sống. Từ bộ lạc tiến lên thôn ấp, quốc gia, cũng không ngoài điều quan yếu ấy. Có nhiều người vì không để ý đến điều đó, nên dù sống giữa đô thị mà cũng không cảm thông sự quan hệ ấy, ỷ mình có tiền của, có quyền hành là có tất cả, muốn chi được nấy không cần nghĩ đến ai khác.

Là Phật Tử, trong bốn trọng ân, có ân xã hội là một mà chúng ta phải ghi nhớ.

Hạnh đi trì bình khất thực hằng ngày nhà Sư thọ vật thí của bá tánh, nhờ đó mà nuôi sống một cách chơn chánh, giản dị, nhà Sư được sự nhắc nhở rõ rệt hằng ngày ý nghĩa ơn xã hội. Rồi tự xét mình mà siêng năng, tu học, giữ gìn tịnh hạnh, để duy trì đạo đức hầu góp phần xây dựng hạnh phúc cho xã hội, phải làm những gì để khỏi phải phạm là kẻ vong ân xã hội.

4. Khước bịnh nhờ vận động cơ thể

Loài người là một trong các loài động vật. Nhờ có sự thay đổi điều hòa bốn oai nghi mà thân thể được khoẻ mạnh. Hàng xuất gia rất cần vận động cơ thể, vì không còn làm việc như ngưòi thường thế trong việc sinh sống hằng ngày nữa. Nếu không có hạnh trì bình khất thực thì hàng xuất gia ít có việc chi vận động toàn cơ thể. Nhờ đi bộ, đi trì bình, mà thân thể được khoan khoái, kiện khang. Nhứt là ban mai, không khí trong lành, nắng sáng không gay gắt, đi trì bình khất thực 1, 2 giờ đồng hồ cảm thấy khoẻ khoắn, vui tươi. Nhờ đó mà tinh thần sản khoái và ít đau ốm.

 

5. Tạo cơ hội cho bá tánh làm phước

Phần đông ai ai cũng bận việc công, tư. Người giàu cũng như người nghèo, quan cũng như dân. Vì thế cho nên không rảnh rang đi chùa, làm phước, nhứt là người nghèo, hay tự ti mặc cảm, nghĩ tủi phận bần hàn, tiền của chẳng dư, y phục không tốt đẹp, không có thì giờ rảnh rỗi và không có lễ vật xứng đáng như mọi người lại càng không nghĩ đến việc đi chùa; ít nghĩ đến việc làm phước. Lại cũng có đông người chưa hiểu rõ lợi ích của sự bố thí, làm phước nữa. Nhà Sư có thì giờ, có bổn phận đi trì bình khất thực để cho bá tánh có cơ hội làm phước dễ dàng và khỏi mất thì giờ. Nếu nhà sư không đi trì bình, cứ ở mãi tại chùa thì chỉ có những người giàu có, dư dả đến chùa dâng cúng, còn những người nghèo khó không có cơ duyên làm phước.

Vật để bát cho nhà sư không cần nhiều, ít mà cần nhứt là thí chủ hoan hỷ với vật thực mà tự tay mình để bát cho nhà sư. Một trái chuối, một cái bánh, một chút muối, đường thí chủ vui thích với sự làm phước của mình, tức là người ấy đã gieo duyên lành vào phước điền của Phật Giáo. Thí chủ được dịp bố thí, dù là ít oi, nhưng việc làm đơn giản này nó có phước báu vô lượng và sẽ mở đường cho việc tu hành giải thoát sau này.

Vì thế, nhà sư còn sức khoẻ, có thì giờ, phải đi trì bình khất thực để tạo cơ hội cho bá tánh dễ dàng gieo trồng thiện duyên trong Phật giáo.

6. Giữ gìn tịnh hạnh để trở nên phước điền.

Bố thí cho kẻ bần nhơn, ăn xin thường thế còn có phước thay, huống là bố thí cho nhà sư, nhứt là nhà sư có giới đức. Về phần nhà sư luôn luôn tự xét mình trong việc giữ gìn giới luật trong sự tinh tấn tu hành, thân tâm không biếng nhác, phải làm như thế nào cho đúng với bổn phận của bậc xuất gia, trở nên phước điền của chư Thiên và nhơn loại. Nếu đi trì bình thọ vật thí của bá tánh mà giới hạnh không tinh nghiêm, tu hành không chín chắn, thì không xứng đáng là phước điền, không sánh được với kẻ ăn xin thường thế, mà Ðức Phật gọi là kẻ cướp đội lốt nhà sư, sẽ mang lấy bao nhiêu khổ báo sau này. Nhờ hằng suy xét như thế, nhà sư càng thêm cố gắng giữ gìn tịnh hạnh và siêng năng tu học.

7. Rải tâm từ cho tất cả mọi người, tất cả chúng sanh

Trước khi ra đi khỏi tịnh thất, nhà sư khởi niệm Tâm Từ, tức bủa tư tưởng lành, rải khắp chúng sanh, nhứt là trên bước đường sẽ trải qua. Khi ra đường, nhà sư phải thu thúc lục căn, hướng tâm cầu nguyện cho bá tánh được hạnh phúc an vui, khỏi khổ, khỏi bịnh tật ốm đau và không điều oan trái lẫn nhau.

Không phân biệt tôn giáo, giai cấp, nam nữ, lão ấu, nhà sư mở rộng lòng Từ với tất cả, giữ tâm mềm mại, chan chứa tình thương, nhu hòa trong ngôn ngữ, cử chỉ. Khi đứng trước nhà nào, nhà sư lại phải thu tâm quán tưởng thân, thọ, tâm pháp. Khi trở về chỗ ngụ, nhà sư đi khoan thai, trang nghiêm bằng cách buộc tâm trong pháp niệm từng bước đi một nhà sư không để tâm phóng túng, gìn giữ oai nghi, tế hạnh, biểu lộ Tăng đồ nhà Phật khác hơn kẻ thế.

8. Truyền bá Phật giáo

Ở Việt Nam có nhiều nơi đồng bào ta chưa hiểu rõ phước báu của sự để bát, chưa biết hạnh trì bình của nhà sư, chưa hiểu giáo lý Nguyên Thủy của Ðạo Phật. Nhà sư đi trì bình khất thực có dịp tiếp xúc với đồng bào để giảng giải giáo lý đạo Phật, dù là vắn tắt, đơn sơ, những rất hữu ích trong việc góp phần hoằng dương Phật Pháp.

Trước khi đi sâu vào sự học hỏi giáo lý Ðạo Phật, việc mở đường cho bá tánh bằng nhiều phương tiện, mà hạnh trì bình khất thực là một. Vừa giúp ích cho người vừa lợi cho mình, nhứt là sự thực hành giới luật trong Giáo Pháp Phật giáo Nguyên Thủy Nam Tông.

Hàng xuất gia trong Phật Giáo Nguyên Thủy Nam Tông không vì lý do gì mà lẫn tránh việc đi trì bình khất thực trừ khi đau ốm và bận việc Phật sự.

Tóm lại đã là nhà sư xuất gia theo Chánh pháp của Ðức Phật Tổ Thích Ca, có tam y, quả bát thì phải xử dụng cho đúng bổn phận mình, nhứt là noi theo gương Ðức Phật đã xử dụng thời giờ trong buổi sáng. Một việc làm tuy đơn giản, nhưng bao hàm ý nghĩa sâu xa là lợi mình, lợi người, hàng xuất gia không thể bỏ qua vậy.

Còn phần thí chủ sau khi tự tay mình để vật thực vào bát của nhà sư, làm mình có phước rồi. Thí chủ phải chú nguyện hiến dâng phước báu này đến các bậc ân nhân đã quá vãng, nhứt là ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em và nguyện các điều lành khác tùy lòng mong muốn.

 

Bố thí vật thực có 5 quả báo:

1.      Āyu: sống lâu

2.      Vaṇṇa: sắc đẹp.

3.      Sukha: an vui.

4.      Bala: sức mạnh

5.      Pañña: trí tuệ (thấy đời là khổ, thấy đạo là vui).

 

1)      Sống lâu: Con người khi sự nuôi mạng được đầy đủ thưòng thường thì sức khoẻ được phát triển đồng đều, sinh mạng được sống đúng với tuổi thọ. Nếu ăn uống không đầy đủ, thiếu thốn thì sức lực suy kém sinh ra bịnh tật. Vì thế bố thí vật thực cho nhà sư, thí chủ được quả báo sống lâu.

2)      Sắc đẹp: Khi con người đói khát thì thân hình mỏi mệt tiều tụy, tinh thần bạc nhược, nếu thiếu ăn lâu ngày càng gầy ốm héo hon. Trái lại nếu có vật thực ăn uống no đủ thì con người trở nên tươi sáng, mạnh khoẻ, do đó tăng thêm vẻ đẹp, cái quả của sự bố thí vật thực sẽ đem lại cho thí chủ là sẽ được sắc đẹp.

3)      An vui: có no đủ mới có an vui, vì nếu thiếu thốn đói khát thì cơ thể suy yếu, do đó tinh thần hao kém, như cây đèn thiếu dầu, tất nhiên ngọn đèn sẽ lu, yếu lần lần, rồi tắt hẳn. con người cũng thế, thiếu ăn sẽ khô héo như cây khô nước thiếu phân, nhờ có ăn uống đầy đủ thì tức nhiên sẽ phấn chấn an vui. Cái quả báo an vui sau này sẽ đến cho thí chủ do sự bố thí vật thực hôm nay.

4)      Sức mạnh: vật thực hàng ngày ăn vào bồi đắp cho cơ thể được đầy đủ bù vào những sự tiêu hao. Nếu thiếu ăn hay ăn đi một ngày thì cơ thể thiếu sức bồi bổ, cho nên nhờ được ăn no đủ mà có chất bổ tăng thêm sức mạnh. Thí chủ bố thí vật thực cho nhà sư đầy đủ là giúp thêm sức mạnh, thì tinh thần tráng kiện vững mạnh nhờ đó mà giúp thêm nhà sư đủ năng lực để tu hành. Thí chủ sẽ được phước báu sau này là có đầy đủ sức mạnh.

5)      Trí tuệ: Nhà sư dù thông minh siêng năng tu học đến đâu mà thiếu sức khoẻ, gầy ốm, đau yếu thì không thể nào tươi tỉnh, sáng suốt được. Có được ăn uống no đủ thân thể kiện khang, tinh thần phấn chấn nhờ đó mà hành đạo được, mới phát sanh trí tuệ, nhận chân đời là khổ, đạo là vui, mới tinh tấn tu hành thêm nữa để chuyển thành giác, thoát khỏi luân hồi sanh tử. Bố thí vật thực sẽ được quả báo trí tuệ, sau này sáng suốt dễ dàng phân biệt nẻo chánh đường tà, tu hành tấn phát, tức là có trí tuệ vậy.

Một việc bố thí tùy của ít nhiều nhưng với tấm lòng hoan hỷ, vui thích, thí chủ có được 5 quả báo kể trên để làm vốn cho bản thân mình trong các kiếp về sau. Dành dụm tiền của, mua sắm ruộng vườn chỉ hưởng trong đời này, nếu khéo gìn giữ; còn trong các kiếp về sau không đem theo được. Phước báu thí chủ đã bố thí vật thực hôm nay là của dính theo mình trong ngày vị lai không sợ hư mất vậy.

Trong vài mươi năm gần đây, trong đất nước Việt Nam xuất hiện nhiều vị tu sĩ người Việt đi trì bình khất thực, tự xưng là tu Phật, nhưng không thi hành đúng theo tinh thần giới luật của Ðức Phật giáo truyền. Ở Việt Nam, Phật giáo có 2 Tông: Bắc Tông và Nam Tông.

Bắc Tông thì dùng Tam tạng chữ Tàu, chư Tăng mặc áo tràng màu đà, màu lam, không có đi trì bình khất thực.

Nam Tông thì có Tam tạng Pali, chư Tăng mặc Y Ca sa vàng và có bình bát là món tùy thân độ nhựt. Y Ca sa và bình bát đều y theo giới luật Phật, nghĩa là thể thức may Y Ca sa có kiểu mẫu đúng với ý nghĩa Puñña Kheṭam, phước điền cho nhân loại. Bình bát cũng có thể lệ tạo thành, chớ không phải tự ý riêng muốn dùng bình bát lớn, nhỏ hoặc bằng chất gì cũng được.

Trong khi đi trì bình khất thực, từ cách mặc Y Ca sa, mang bình bát, đến cách đi đứng và thọ vật thực cũng phải làm đúng theo qui tắc của Phật luật đã ấn định.

Một điều đáng để ý là nhà sư trong Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam khi đi trì bình thì không đi vào chỗ đông người, tránh chen lấn như trong chợ chẳng hạn, và không nhận tiền bạc, gạo thóc. Vật thí, nếu bố thí ít thì vui thích thọ lãnh ít, nếu cho nhiều thì chỉ thọ lãnh vừa đủ để sống qua ngày mạnh khoẻ tu hành lập công bồi đức. Nhà sư trong Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam cũng không đi cổ động tiền bạc trong bá tánh để về cất chùa hay làm việc nào khác. Nhà sư trong Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam cũng không được yêu cầu cho thức ăn chay hay mặn, ai muốn bố thí món chi tùy ý, tùy món ăn mình có. Như thế cái chánh nghĩa của hạnh trì bình khất thực mới được biểu dương đúng với tinh thần giới luật của Ðức Phật và đem lại phước báu cho kẻ bố thí.

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang