" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Q-R-S-T

Thành kiến-ngã chấp

Ngày đăng tin: 5 tháng trước
(5/1)
Nhận thấy những tài liệu sưu tập về “Thành Kiến Ngã Chấp” của bà G.Constant Lounsbery, chủ tịch hội người bạn của Phật Giáo tại Paris, đã in trong tạp chí “Tư tưởng Phật Giáo” rất hữu ích cho người học Phật, nên chúng tôi mạn phép in ra Việt ngữ cống hiến cho đồng bào Phật tử để chiêm nghiệm tính chất giả tạo của cái Ta, hầu mạnh tiến trên đường diệt khổ.
Thành kiến-ngã chấp


 

Tác giả

G.CONSTANT LOUNSBERY

 

 

 

 

 

THÀNH KIẾN – NGÃ CHẤP

 

 

Người dịch

Cư sĩ Trùng Quang

 

 

 

 

 

HỘI PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

PHÚC TUỆ TỊNH MÔN

491/12 Phan Đình Phùng-Sài Gòn

1971/2515


 

LỜI TỰA

Nhận thấy những tài liệu sưu tập về “Thành Kiến Ngã Chấp” của bà G.Constant Lounsbery, chủ tịch hội người bạn của Phật Giáo tại Paris, đã in trong tạp chí “Tư tưởng Phật Giáo” rất hữu ích cho người học Phật, nên chúng tôi mạn phép in ra Việt ngữ cống hiến cho đồng bào Phật tử để chiêm nghiệm tính chất giả tạo của cái Ta, hầu mạnh tiến trên đường diệt khổ.

                                                                                                                        Cư sĩ Trùng Quang

Pháp danh Sudatto

491/12 Phan Đình Phùng Saigon.

 


 

Con người từ đâu đến đây, và do đâu phát sinh? Cái mà mọi người đều gọi là “cái Ta”.

Trong quyển Nibbana, Đại Đức Narada Maha Thera có viết:

“Tất cả sự vật và chính ta đây, đều bị cấu tạo bởi một nhân hoặc nhiều nhân quá khứ”.

Sự tồn tại của tôi (cái Ta) được duy trì do năm nguyên nhân:

1-      Vô minh (si mê) trong quá khứ, và vô minh nảy sanh ra ái dục.

2-      Sự tham sống hay khát vọng được tồn tại mãi mãi.

3-      Sự quyến luyến nơi bản thân, nơi người chung quanh, nơi ngoại vật (ngoại trần).

4-      Cái nghiệp, hậu quả của hành động và tư tưởng trong quá khứ.

5-      Vật thực cần yếu để nuôi sống.

Vì vô minh, vì không hiểu được sự thật mà con người miệt mài bám dính trong ích kỷ cá nhân, ích kỷ giai cấp, ích kỷ nòi giống, ích kỷ tín ngưỡng.

Bởi con người tự cho mình là một thực tế cao nhất trong vũ trụ, và cách biệt với kẻ khác bởi một cái Ta tồn tại mãi mãi và hoàn toàn độc lập.

Thật ra vũ trụ không phải của con người, mà con người thuộc về vũ trụ, bởi con người nhờ vũ trụ để bồi bổ thân thể và duy trì kiếp sống của họ.

Các dân tộc Á-Đông đều cho rằng con người tham dự vào sự sinh tồn của vũ trụ, và nhờ vũ trụ mà sống.

Vì không hiểu rõ rằng tất cả chúng sanh phải sống trong vòng lệ thuộc lẫn nhau, và cũng vì lầm tưởng rằng mỗi người có một cái Ta đối lập với cái Ta của người khác, nên mới có sự xung đột giữa loài người.

Chỉ có Phật Giáo giải thích nguồn gốc của sự thù ghét, và giải thích tại sao sự thù ghét tồn tại mãi mãi.

Chính vì con người còn nặng mang các thành kiến ngã chấp tự tôn, và một khi biết được bản chất của cái Ta, con người mới có thể giải thoát khỏi vòng nô lệ của ích kỷ và sân hận.

 

Từ đâu tôi đến đây? Và do dâu tôi có cái thành kiến ngã chấp?

Con người tự sanh ra, hay đúng hơn tự sanh đi, sanh lại hoài hoài.

Xuyên qua thể xác và tư tưởng, con người có thể chiêm nghiệm những sự biến đổi, những sự tiếp nối thể chất và tinh thần từ chập này qua chập khác, và thấy rằng mỗi người là một dòng sống liến tục (succession de vies).

Tư tưởng và hành động ngày nay sanh ra con người ngày mai, và bởi do sức mạnh của tham dục, sự cố bám vào đời sống, sự khao khát sống mãi, sanh ra một kiếp sống vị lai của một con người mới, tùy theo định luật nhân quả (Kamma).

Vì vậy cần phải nghiên cứu cái Ta trong sự biến đổi thường xuyên của nó mới hiểu được sự tái sanh liên tiếp đương diễn tiến trong kiếp sống hiện tại.

Đại Đức Nyanatiloka Maha Thera có viết:

“Học thuyết về sự biến đổi không ngừng của cái Ta (bản ngã) là giáo lý đặc biệt duy nhứt của Phật Giáo.

Chân lý giải thoát của thuyết “Vô ngã” chỉ có Đức Phật dạy rõ ràng:

Danh từ Anatta (Vô ngã) được hiểu là tính chất hiện tượng của tất cả đời sống, là tính chất vô thường của cái Ta.

Nhưng chẳng nên nói rằng không có cái Ta, mà phải hiểu rằng cái Ta thay đổi luôn như cát chao, đồng tính vô thường với thể xác và tư tưởng, cả hai đều là nền tảng của cái Ta, cái Tôi.

Chúng ta nên hiểu rằng không có cái Ta bất biến, trường tồn, không thay đổi.

Giáo lý diệt ngã không nhận có cái Ta bất biến, sẽ giúp chúng ta diệt trừ tất cả những tai hại của ích kỷ, như sự thù ghét giai cấp, chủng tộc, và tất cả những tham vọng vô độ.

Chúng ta chớ nên quên rằng đức độ từ bi của Phật giáo đối với tất cả chúng sanh cho đến loài sinh vật vi tế, phát sinh từ chỗ nhận thấy cái khổ gây ra bởi tham vọng mù quáng, ích kỷ của muôn loài vạn vật.

Nơi đây, tưởng cần phải nhắc lại pháp Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo để thấu rõ ý nghĩa xác thực của danh từ “Khổ”, hay nói cho rõ hơn cái gì thể hiện cái khổ trong thân người.

Đức Phật đã phân tích thân người ra năm uẩn:

Sắc (Rūpa), Thọ (Vedanā), Tưởng (Sañña), Hành (Saṅkhārā), Thức (Viññāna).

Và giải thích cho thấy ngũ uẩn đều rỗng không, vô thực thể, vô bản chất, hỗ trợ lẫn nhau, dính liền với sự sống và khao khát sống mãi.

Mỗi uẩn có tính chất khát khao sống mãi, bám chặt vào sự sống kiên trì chiếm lấy sự sống, không chịu buông tha.

Ví dụ như sắc uẩn (thể xác) đòi hỏi vật thực, cần phải ăn, ăn bất cứ sanh vật nào chung quanh để được sống. Chính thể xác là hiện thân của sự khổ.

Như thọ uẩn (cảm giác) chỉ biết rượt bắt cảm giác này đến cảm giác khác không thấy nhàm chán.

Hành uẩn là những hướng động lực cấu tạo nghiệp báo.

Và thức uẩn thì bám chặt vào sự sống.

Thức uẩn cũng như bốn uẩn kia, liên tiếp thay cũ đổi mới từ chập. Chính vì đó mà chúng ta thấy rõ mối uẩn là rỗng không, không có gì gọi là trường tồn, bất biến.

Ngoài năm uẩn không có cái gì gọi là cái Ta.

Những gì cấu hợp bởi những yếu tố không bền vững, luôn luôn thay đổi, không thể gọi là trường tồn, không thể nhận đó là cái bn ngã hay cái Ta bất biến.

Thành kiến mà mọi người cho rằng mình có một cái Ta độc lập, không thể chấp nhận được, cũng không thể gọi đích xác là một chúng sanh mà chỉ là một phối hợp lực thay đổi không ngừng.

Hình dáng ổn cố bề ngoài chỉ trong chốc lát. Đứng về mặt khách quan người nào lưu ý dòm lại bản thân mình, thì thấy nó thay đổi luôn luôn, từ sơ sanh đến trẻ con biết đi, biết nói, đến thanh niên, đến lão niên.

Chúng ta thấy người khác già, mà không thấy chúng ta già.

Phần vô minh là thọ, tưởng, hành, thức thay đổi trong chớp nhoáng, và lập lại thăng bằng trong mỗi chập tư tưởng.

Nếu lưu ý quan sát, theo dõi từ cái cảm giác, từ cái tư tưởng, liên tiếp nổi lên do sự tiếp xúc của lục căn với lục trần, chúng ta sẽ thấy phần vô hình của chúng ta, như một dòng suối cuộn chảy không dứt, lôi cuốn tất cả bất cứ vật gì dơ sạch trong lòng sông.

Con sông ấy như thế nào? Là vô số giọt nước kế tiếp chảy hoài từ trên nguồn xuống biển.

Ta phân biệt được con sông nhờ nó có hai bờ, và ta cũng tưởng rằng con sông ấy không thay đổi.

Cũng như thế ấy, dòng suối của tâm liên tục chảy hoài, theo chiều hướng quanh co của đủ loại tư tưởng tốt xấu, xuất hiện kế tiếp nhau (như những giọt nước) làm cho ta cảm giác rằng ta có một linh hồn, một cái Ta cố định, bất biến, trường cửu, bất diệt đương làm chủ cái thân.

          Danh từ Atta dịch là cái Ta, và danh từ Anatta dịch là Vô ngã, với ý nghĩa là không có cái Ta trường cửu, giống nhau như một.

          Bức đồ vừa mô tả như trên rất xa lạ với quan niệm của phần đông chúng ta, nhưng rất phù hợp với sự sưu tầm của khoa học tân tiến.

          Phật giáo cũng như khoa học tân tiến nghiên cứu đời sống con người một cách khách quan, không thiên theo thành kiến cố hữu, không cần biết đẹp hay không đẹp, mà chỉ tìm hiểu coi sự sống là thật hay giả.

          Nhờ vậy mới phát giác sự vô thường của tất cả hiện tượng, trong đó có sự vô thường của cái Ta.

          Phật giáo và khoa học cũng phát giác tình trạng khốn khổ ca vạn vật hiện ra cùng khắp vũ trụ, hoặc chung quanh từ khối riêng biệt, hoặc riêng tư cá nhơn và một phần do tính chất vô thường biến đổi của vũ trụ.

          Từ là một khoa học gia, người Phật tử trở thành một y sĩ, tìm cách trị khổ.

          Muốn trị khổ, trước nhứt phải nhận ra căn bịnh và biết những đặc chất sâu kín của vạn vật. Khi biết được những định luật cấu tạo vũ trụ, người ta mới có thể dùng định luật ấy để cải thiện bịnh trạng của mình.

          Bám chặt trong lý tưởng ích kỷ hưởng thụ lạc thú và hạnh phúc cá nhơn, chiếm đoạt nơi kẻ khác, con người dựng lên một cái Ta riêng biệt, tham tàn. Vì đó con người phải rước lấy hậu quả của cái khổ do chính họ gây ra cho kẻ khác, mà họ và kẻ khác ấy đều là bạn đồng hành có liên quan mật thiết với nhau, trong sự sống chung hằng giờ, hằng phút.

          Chúng ta thường có tánh quen quan sát và phân biệt con người theo nòi giống, chủng tộc, nhưng đúng hơn phải tìm hiểu con nghười như một thành phần của vũ trụ.

          Sự giải thoát ấy, sự diệt trừ cái bẩm tính vô thường bị che án bởi cái thành kiến ngã chấp, chỉ khởi đầu đúng lúc chúng ta có một thị giác sáng suốt (vision éclaiée) về cái ngã chấp ấy.

          Đạt được thị giác ấy rồi, chúng ta mới bắt đầu hiểu biết được đời sống của vạn vật, và sự liên quan tùy thuộc giữa chúng sanh này với chúng sanh khác trong guồng máy tiến triển vĩ đại phi thường của càn khôn, vũ trụ.

          Kinh Lankavatara (Lăng già a-tỳ bạt đa kinh) có viết: Có thể nói một cách tương đối rằng có một luồng tiến triển (courant de devenir) một sự thay đổi từ chập và liên tiếp của một hình dáng này qua hình dáng khác (apparence).

          Dĩ nhiên Phật giáo không chối cãi rằng có một luồng sống cá nhân (courant d’existense individuelle), nhưng Phật giáo lại nói rằng luồng sống cá nhân ấy chỉ có là nhờ sinh lực cung cấp bởi con sông vô tận của nguồn sống vũ trụ.

          Đúng hơn là con sống của nguồn sinh lực độc nhất ấy biểu hiện trong những luồng sống của mỗi cá nhân.

          Nhưng phải coi chừng, chẳng nên nhân cách hóa hoặc phân giới nguồn sinh lực độc nhất ấy đương tràn ngập mọi nơi trong vũ trụ.

          Dựa theo khoa học tân tiến, rất dễ cho chúng ta thấy rõ sự vô thường biến đổi của xác thân, mà chúng ta tưởng tượng rằng “thân tôi là của tôi”, bởi chúng ta cảm thấy nó là một vật riêng biệt, không tùy thuộc nơi nguồn sống của vũ trụ.

          Thật vậy, theo hình dáng bề ngoài, không có một xác thân, hay một khuôn mặt nào giống nhau. Nhà mỹ thuật cho rằng đó chỉ là một vấn đề tỷ lệ. Những tỷ lệ tương đối của hình vóc, cơ thể là một sự khác nhau giữa những nét mặt, dung mạo, thần sắc, v.v...

          Hơn nữa chẳng quên rằng tư tưởng cũng có tham gia trong việc nắn đúc khuôn mặt con người.

          Chúng ta sẽ bàn thêm, trong đoạn sau, sự tin tưởng của người Phật tử về năng lực cấu tạo của tư tưởng, và vai trò của tư tưởng trong cái Ta.

          Chúng ta xem coi cái thể xác có vẻ bền chặt, và riêng biệt với thể xác khác, được cấu tạo bằng cách nào? Và tìm coi chúng ta có thể gặp được nơi nào trong thể xác một cái Ta trường tồn, hoặc một linh hồn bất diệt hay không?

          Bây giờ chúng ta quan sát một thể xác bình thường, khỏe mạnh, xuyên qua ánh sáng của khoa học tân tiến.

          Thể xác ấy cấu tạo bởi những mô (tissus), tế bào (cellules)...hệ thống thần kinh, hô hấp, bài tiết, tiêu hóa, huyết quản...những nguyên tố hóa học (éléments chimiques) và những năng lực vật lý học (forees physiques).

          Khi khoa học nghiên cứu thể xác trong mọi phương diện khác nhau: sinh lý (biologie), vật lý (physique) và hóa học (chimie), người ta thấy rằng cả ba đều liên kết nhau cho đến đổi không thể nào giải thích cái này mà không có cái kia.

          Khoa học sinh lý, khi nghiên cứu những hiện tượng sinh lực trong các mô (tissus) đã tìm ra chính những tính chất hóa học cấu tạo tế bào (cellules) của các mô (tissus) do sự hóa hợp của một chất kiềm (Alcali) cùng chất chua (acide) nào đó v.v...

          Sự phân tích các mô (tissus) đưa tới chỗ sát định phần cấu hợp hóa học, như lục thủy toan (Acide Chlorhydrique (3H_CI), lưu toan (Acide snlfurique SO4H2), nước (H2O) v.v...

          Nhưng muốn giải thích sự khác biệt giữa nguyên tố hóa học (éléments chimiques), phải nhờ khoa vật lý học tân thời (physique moderne) xác định năng lực (forces), làn sóng (ondes) và khi lực (éneergie) luôn luôn chuyển động (dynamiques) luôn luôn thay đổi, phối hợp không bền.

          Chung qui, những mô sống (tissus biologiques) là kết quả của những phản ứng hóa học.

          Phản ứng hóa học lại bị tạo ra bởi những năng lực, tìm trong khoa vật lý.

          Kết cuộc xác thân không phải như ta thấy bằng con mắt, các mô (tissus) kết hợp bởi những tế bào (cellules), tế bào kết hợp bởi những phân tử (molécules), phân tử lại được cấu thành bởi những nguyên tử (atomes). Giữa nguyên tử có một hột Proton được bao quanh bởi những quĩ đạo (orbites), chiếm cứ bởi  những điện tử (électrons) chứa đầy âm điện (éléctricite négative).

          Trong việc khảo cứu, khoa học đi lần từ chỗ thô sơ đến chỗ vi tế.

          Sir James Jeans viết rằng: Đã chứng nhận rằng vật chất chỉ là sự góp nhặt nhiều phần vi tế (particules) chứa đầy điện lực.

          Vậy còn có cái chi ở sau những phối hợp lực ấy (jeu de forces)?

          Tới điểm này khoa học đã dừng bước và hiện giờ vẫn lặng thinh.

          Nhưng có một số khoa học gia nói rằng:

          Cái thái dương hệ trong thân (systeme solaire dans le corps) có thể so sánh ở nhiều phương diện với thái dương hệ ngoài vũ trụ (systeme solaire celeste), và cả hai thái dương hệ có nhiều kẽ hở (espaces interstitiels) như nhau, giữa những điện tử.

          Các khoa học gia ấy thêm rằng: Những điện tử hoạt động cũng như có một trí khôn, một tư tưởng sau điều khiển. Nhưng nên nhớ rằng danh từ tư tưởng ở đây, không bắt buộc phải có một người tư tưởng theo ý nghĩa thông thường.

          Khoa học cũng như Phật giáo, không nhân cách hóa cái nguồn lực tư tưởng ấy.

          Chung qui, chúng ta có thể nào nói rằng những phối hợp lực ấy (jeux de forces), những tổ hợp hóa học (combinaisons chimiques) ấy là của chúng ta chăng?

          Tựa hồ hình như các phối hợp lực ấy thuộc thành phần của triều lưu diễn tiến của vũ trụ (processus universels).

          Con mắt chúng ta-với tầm thị quan giới hạn-chỉ thấy những dạng thô kịch bề ngoài của thể xác, có thể nào khoa học sáng chế được một thứ kiếng hoàn hảo để thấy những điện tử (electrons) và những tổ hợp hóa học lực trong thân chúng ta?

          Khoa học chưa nghĩ đến việc đó.

          Các nhà hiền triết Tây tạng, trong lúc nhập định nhờ thiên nhãn lực, thấy thân xác như nhiều đốm lửa chớp nhoáng rất nhanh.

          Nếu thấy được những nguyên tử, thì chúng ta cũng không tháy bằng cách nào khác hơn các hiền triết ấy. Tuy nhiên, những giác quan của chúng ta chẳng những có giới hạn, lại còn sai lầm, vì bẩm tính si độn (vô minh). Sự si độn ấy do nơi:

1- Không thấy, bởi không biết thấy.

2- Lấy cái dạng bề ngoài làm sự thật.

3- Xét đoán sự thật theo dạng bề ngoài.

          Chính đó cách thức hành động của chúng ta. Cũng chính đó mà chúng ta tưởng có một linh hồn trường cửu đương ở trong thân, vì tưởng rằng tất cả những gì có trong thế giới hiện tượng này đều là bền vững lâu dài. Kỳ thật, tất cả những gì phối hợp cái Ta đều không bền, đều là kết quả của những phối hợp lực. Chỉ sự liên tiếp của những phối hợp lực ấy cho chúng ta một cảm giác trường tồn.

          Theo Phật giáo, sự sai lầm tối trọng nhứt là sự không thấu rõ được cái bản chất thiên nhiên của đời sống là vô thường, khốn khổ là vô thực chất.

          Chúng ta đã tìm hiểu vật chất và sự chuyển hóa của vật chất ra thể xác, từ chỗ thô sơ đến chỗ vi tế, từ các mô (tissus) cấu thành bởi những nguyên tử (atomes), điện tử (electrons) và sinh lực vận chuyển của cơ thể.

          Như đã nói, nếu chúng ta có thể thay đổi được số lượng của điện tử chung quanh hạt Proton hoặc tự nhiên số lượng ấy thay đổi thì chúng ta sẽ nắm được mối huyền vi của sự sinh hóa thể chất (như sự biến chất một thực thể trong một thực thể khác (transmutation d’ une substance dans ume antre), hay sự biến chất của một yếu tố hóa học trong một yếu tố hóa học khác.

          Nếu ảo vọng này đạt được thì chúng ta có thể thấy được số lượng của điện tử trong một nguyên tử. Chính số lượng ấy xác định bản chất của nguyên tố, thành phần vi tế của cơ thể (deter miner la nature l’ element).

          Mỗi nguyên tố (element) mỗi tổ hợp hóa học (combinaison chimique) trong thân thể thay đổi luôn luôn.

          Luật vô thường đã được chứng minh trong khi quan sát rõ cách nào những tế bào (cellules) sanh và diệt, và cùng lúc sanh diệt, tạo ra những tế bào mới.

          Luật vô thường ấy cũng được chứng minh xuyên qua sự phối hợp của các năng lực (phối hợp lực) gây ra hoạt động trong cơ thể.

          Trong những sự phối hợp ấy, không có gì bền bĩ, vững chắc, bởi giữa các tiểu bộ phận (particules) dều có kẽ hở của không gian.

          Một tảng đá gọi là kiên cố, cấu hợp bởi những thủy tinh (cristaux) tương kết do luật hấp dẫn (Loi d’attraction) và đồng thời đẩy ra (repulsions) những thủy tinh khác không đồng một sức rung động (vibrations). Tình thương và thù ghét của chúng ta không khác chút nào.

          Chúng ta cũng nhận ra sự biến chuyển liên tục (flux perpetuels) của những năng lực và sự tác động giữa năng lực này với năng lực khác thì có thể nào chúng ta tìm cho ra, trong cái thể xác bất ổn này, một cái Ta hoặc những yếu tố của một linh hồn bất biến (ego fixe).

          Kết cuộc, chẳng phái sự khác biệt của vật chất, mà chính là sự khác biệt phân lượng (dosage) giữa những nguyên tố cấu hợp (constiuants) sinh lý, hóa học và vật lý của thể xác, làm cho bộc lộ sự khác biệt giữa thể xác này và thể xác khác.

          Cũng chính số phân lượng (dosage) giữa những tư tưởng trọng yếu nằm trong tâm ta xác định sự khác biệt giữa tâm này và tâm khác.

          Số phân lượng sinh lý và số phân lượng tinh thần hợp lại, xác định cái mà chúng ta gọi là bản tính của một người trong một chập nhất định.

          Những phân lượng ấy luôn luôn thay đổi chập này qua chập khác. Tất nhiên là nó không bền vững và luôn luôn mất thăng bằng.

          Trong thể xác này, một chút thăng dư chất chua (acide) hoặc chất kềm (alcali), hoặc sự bài tiết quá độ, cùng sự suy yếu của các hạch (seceretions glandulaires) đủ làm xáo trộn sức khỏe, và thay đổi hình dạng của thể xác.

          Nếu thân này thật là của tôi, thay vì là một diễn tiến của các sức mạnh (jeu de forces) tạm thời phối hợp, thì tôi phải có quyền gạt bỏ những phối lực ấy.

         

          Những gì thay đổi liên tiếp và không thể kiểm soát được, có thể nào gọi là thuộc quyền sở hữu của ta không?

          Lãnh vực của tâm cũng như thế ấy: ví dụ trong trường hợp phân lượng bị tán loạn, vì nhiều tư tưởng thù hận xen vào làm cho tâm mất thăng bằng, con người hiền hậu bỗng chốc trở nên kẻ sát nhân.

          Như Đại Đức Narada Maha Thera nói: Tâm là  một dòng liên tục tư tưởng thoáng qua.

          Sự thăng bằng giữa tư tưởng lành hoặc dữ không thể nói là bền hay không bền.

          Phải chăng tôi là chủ của tư tưởng ấy, hoặc tư tưởng ấy là của tôi, hay tư tưởng ấy thường bị kích thích bởi đủ loại ảnh hưởng từ ngoài đưa tới?

          Tất nhiên những tư tưởng ấy không phải là của tôi. Những gì đã đến từ ngoài và thay đổi từ chập, không thể gọi là của tôi, và tôi cũng không thể nói rằng cái này thuộc của tôi, hoặc tôi là cái này, cái này là hồn của tôi.

          Kết cuộc, trong đó cái tôi ở chỗ nào?

          Kinh Lankavatara (Lăng già) có viết:

          Những gì người ta có thể quả quyết (nói cách tương đối) là cái nhân cách cá nhân, chỉ là một sự phối hợp duy nhứt trong chốc lát của những yếu tố vật chất và tinh thần.

          Nên lưu ý rằng chỉ sự phối hợp trong chốc lát là cái gọi là duy nhứt bởi không tìm đâu ra một thể chất, một linh hồn duy nhứt giống như một, không tùy thuộc nơi thể chất nào khác.

          Cái Ta giống như một con sông đổi mới luôn luôn nước của nó. Ta gọi dòng nước chảy là con sông, vì có hai bờ phân ranh. Nước sông chảy hoài tựa hồ giống nhau, cũng như sự nối tiếp của cái Ta cho thấy cái dạng bề ngoài của một cái Ta không thay đổi.

          Về sự nối tiếp, khoa học giải rằng những hiện tượng phát sanh thường thường theo một chiều quen (trong thời gian và không gian tối thiểu).

          Một người hôm nay có vẻ tương tợ (chớ không giống như một) với người ngày hôm qua, là gì những khuynh hướng kết tụ của tư tưởng và hành động lập đi lập lại.

          Những khuynh hướng ấy hay những hoạt động tinh thần ấy lập đi lập lại là do sự nối tiếp liên tục của những tâm trạng tương tợ; vì vô minh con người lầm nhận cái tương tợ là cái giống như một.

          Hầu hết chúng ta hiểu cái thác sống ấy (flenve de vie) như một linh hồn trường cửu, vững chắc, cúng như chúng ta thấy con sống hôm qua giống như một với con sông hôm nay.

          Thói quen khí lực (habitude energie) là nền của những khuynh hướng tốt hoặc xấu tạo ra trong một lúc; đó là cái mà chúng ta gọi là bẩm tính. Những khuynh hướng ấy đến từ nơi xa xăm, đã châm gốc rễ trong nhiều kiếp quá khứ.

          Đúng hơn, chính những khuynh hướng ấy làm cho chúng ta tưởng đến cái linh hồn của con người, những khuynh hướng ấy thay đổi rất chậm chạp, nên chúng ta tưởng đó là cái bẩm tính của con người.

          Schterbatsky nói: Nếu những linh hồn đều tương đối (tùy thuộc cái này, cái khác) thì linh hồn đâu phải thật có.

          Chúng ta đã thấy rằng thể xác luôn luôn thay đổi, nó tùy thuộc nơi quả địa cầu nhờ quả địa cầu cung cấp cho các phần cấu hợp , như khoáng thạch (mineraux) và động vật (animauax) v.v...

          Chính đó là tư tưởng Phật giáo, Đại Đức Nyanatiloka có viết trong tác phẩm “Phật ngôn”: Hình thể (sắc uẩn) không có thực chất, nghĩa là rỗng không, không có gì trường cửu, không giống nhau như một.

          Nếu có người cãi bác rằng cách giải thích theo khoa học như trên sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa duy vật. Điều đó có thể đúng, nếu chúng ta giam hãm tri giác của chúng ta trong bình diện nhục thể.

          Chung qui, vật chất chỉ là kết quả của những phối hợp lực. Chẳng sm thì chầy, khoa học sẽ chấp nhận câu cách ngôn đông phương: “Tất cả là tâm”.

          Trong quyển “Vũ trụ huyền bí” (Le Mysterieux Univers), Sir James Jeans có viết: Thuyết của nhị nguyên luận về tinh thần và vật chất, tựa hồ như tiêu diệt, chẳng phải vì vật chất đã trở thành cơ năng tác dụng của tâm thần, mà lại chính vì vật chất chỉ là sự sáng tạo và sự biểu hiện của tinh thần.

          Chúng ta đã quan sát sự tiến triển của đời sống, trong thân thể, từ những phần cấu tạo thô sơ, thấy được đến những thành phần cấu tạo ví tế vô hình, giờ đây chúng ta nên quan sát via trò của tâm thức và thành phần cấu hợp của nó.

          Cách đây 250 năm, tại Âu châu, ông Swedenborg, một khoa học gia, trước khi trở thành một nhà tiên tri thấu thị (biết quá khứ, vị lai) tin tưởng rằng mình đã khám phá ra nhiều trạng thái của tâm linh.

          Ở đông phương, những mức độ của tâm linh được nhận là có nhiều, được phân thi và khảo cứu từ mấy trăm năm về trước, và vừa rồi ông bác sĩ Jung sang Ấn độ và Trung hoa khảo cứu những kho tài liệu to lớn.

          Sự sưu tầm mới đây của bác sĩ Freud và bác sĩ Jung về bản chất của tiềm thức (Subconscience) đã mở rộng chơn trời của lãnh vực đen tối này.

          Những sự sưu tầm của hai vị bác sĩ nói trên chỉ chú trọng về bịnh lý học (Pathologie) nhân và chứng bịnh.

          Chỉ có bác sĩ Rost, quân y trưởng của quân đội Anh quốc tại Miến điện, có xuất bản một quyển sách về “Bản chất của tâm, trích lục trong Tam Tạng Pali”.

 

          Tâm là gì?

          Trong việc khảo cứu, chúng ta chỉ nhắm vào mục đích tìm hiểu coi cái tâm của ta có phải là cái Ta không? Cái tâm ấy có chứa đựng một yếu tố gì bất biến hay không?

          Nơi đây, tâm nghĩa là “Triều lưu phát xuất tư tưởng”.

          Chúng ta buộc phải dùng ngay danh từ “Triều lưu tư tưởng” chính vì định luật vô thường là căn bản của tất cả sự sống, tất cả hiện tượng.

          Về luật vô thường, khoa học không hề cãi bác, vậy chúng ta tìm hiểu cái tư tưởng dưới hình thức của tâm theo luận cứ của Phật giáo.

          Trước tiên, phải nhớ rằng tâm kể như là giác quan thứ sáu. Điều này chắc chắn làm cho các bạn ngạc nhiên.

          Kinh Phật có ghi: Tâm là cái nội giác quan, tiếp nhận với hình thức tư tưởng (quan niệm, ý tri, ý kiến) tất cả những cản giác chuyển vào từ năm giác quan khác, do những kích thích bên trong hoặc bên ngoài.

          Những tưởng nghĩ (perception) ấy của tâm là trường tồn hay vô thường.

          Những cảm giác, những xúc động (sensation emotion) đã khêu gợi suy tưởng là trường tồn hay vô thường?

          Dĩ nhiên, tất cả đều vô thường, nên được coi là vô thực thể (vide de substantialité).

          Tt cả lĩnh vực tinh thần (champ mental) luôn luôn thay đổi tùy theo suy tưởng (perception) do giác quan đánh thức.

Nơi đây ta có ba câu hỏi:

1- Tâm thức có thể nào được xem như một giác quan (dĩ nhiên tâm phối trí, sắp đặt những sự tương hợp của giác quan khác, tâm là giác quan bên trong để ghi chú những cảm giác từ ngoài đưa vào)?

2- Từ đâu cái tâm thức này đến?

3- Tâm gồm có những gì?

1/ Tâm thức có thể nào được xem là một giác quan?

          Để trả lời câu thứ nhứt, chúng ta quan sát hệ thần kinh theo luận cứ của khoa học. Chúng ta gặp một hệ thống trung ương phát xuất từ não tủy. Một hệ thống gọi là giao cảm (sympathique) kiểm soát các cơ quan của thân thể và hoạt động của các cơ quan ấy.

          Và một hệ thống gọi là đối giao cảm (parasympathique) hiện giờ rất ít người biết. Đó là một thí nghiệm trường cần yếu mà các nhà giải phẫu sinh thể (vivisectionnistes) rất tiếc chưa đạt được.

          Về hệ thống giao cảm, chúng ta biết khi mắt thấy vật thực ngon, thì hạch miệng phát tiết nước dãi, dạ dày cũng phát tiết nước vị dịch. Chúng ta biết rằng người nào lầm tưởng một sợi dây là con rắn, người ấy có phản ứng sợ sệt như họ gặp một con rắn thiệt.

          Đó là những ý niệm phối hợp mà nhà thông thái Nga Pawlow đã giải thích luận thuyết về những trường hợp phản ứng tự vệ (reflexes) khi ông muốn chứng minh rằng sự hiện diện của một linh hồn không cần yếu để khêu khích những tác động và phản tác động trong thân thể và tâm linh.

          Một cách máy móc, tâm luôn luôn đăng ký tất cả những cảm giác đúng hay sai cũng như khi nó tưởng sợi dây là con rắn.

          Cũng một cách đó, con mắt đăng ký hình ảnh. Cảm giác của tâm thức và cảm giác của nhãn quan cũng vậy.

Tâm thức, theo Phật giáo là một giác quan, vì tâm hành động như một giác quan.

II/ Từ đâu cái tâm thức đến?

          Theo Phật giáo, cái tâm thuộc về thức uẩn, một trong năm uẩn kết hợp con người.

          Thức này hoạt động như một sức mạnh. Theo phương Đông, tư tưởng được coi như một sức mạnh.

          Phải chăng cái thức, cũng như thân thể, cũng như vạn vật được nuôi dưỡng bởi nguồn sống vô tận thiên nhiên (fleuve de vie immense).

          Phải chăng cái thức là cái sức mạnh, một khi được điều kiện hóa bởi cái máy thu nạp (récepteur) là bộ óc, bởi những hệ thống thần kinh xuyên qua những tế bào thịt (cellules) và tế bào thần kinh (neurones) v.v...và sức mạnh ấy hoạt động như một tư tưởng?

          Giả thuyết này có thể chấp nhận và có lợi ích để theo đuổi nhưng lại không đúng theo Tam Tạng Pali (xem câu đáp thứ ba).

          Nói về nguồn gốc vô tận của vũ trụ, đương chảy và chảy mãi mãi, chúng ta đã nhận ra những luồng sống cá nhân. Những luồng sống cá nhân ấy được mục kích rõ ràng, chẳng khác nào như sông Rhône. Khi chảy qua hồ Gennève, vẫn giữ rõ rệt dòng nước của nó. Hình ảnh này có giá trị, nếu ta nhớ rằng chính dòng sông Rhône luôn luôn thay đổi những chất phối hợp (constituants) của nó, như nước và tất cả những gì bị lôi cuốn.

III/ Tâm gồm có những gì?

          Theo Phật giáo, cái triều lưu của thức (tư tưởng) không phải đơn giản, mà rất phức tạp, cũng như con sông phối hợp bở nhiều ngọn rạch.

          Chúng ta đã phân biệt nhiều loại tư tưởng trước nhứt là những tư tưởng khêu gợi sự hoạt động của bộ óc. Khi bộ óc đã ghi chú những cảm giác của ngũ quan (thọ), thì sự hồi tưởng những cảm giác quá khứ tương tợ lại đánh thức quan năng phân tích và quyết đoán (hành). Đây là sự tiến triển (processus) của nảo giác phối hợp với việc làm của bộ óc.

          Còn một tiến triển nữa mà Nietzche gọi là nghiền ngẫm, suy tư về những tư tưởng sẵn có (sự trầm tư mặc tưởng).

          Rồi tới một tinh thần giới khác rất quan trọng, gọi là trực giác tư tưởng (pensée intuitive)… chẳng nên hiểu lộn Bản năng (instinct) với trực giác (intuition).

          Khi một con thú lo sợ một trận cuồng phong sắp xảy ra, hoặc một hiện tượng bất ngờ (như nạn sụp đất), thì người ta cho rằng sự biết trước của con thú đó là do nơi bản năng của nó.

          Nếu là con người, thì người ta cho rằng đó là do nơi sự quan trắc, chiêm nghiệm (observation).

          Nếu là một con người man rợ, thì người ấy nhờ trực giác mà biết được.

          Cái mà người ta thường gọi là bản năng (instinet), Phật giáo cho rằng đó là những kết quả của những kinh nghiệm của chúng sanh, và của các tông tộc (races) xuyên qua nhiều kiếp tái sanh liên tiếp. Chớ lầm tưởng rằng đây là một cuộc hành trình của một chúng sanh, của một linh hồn bất biến trong kiếp luân hồi.

          Phải hiểu sự tái sanh liên tiếp của một chúng sanh là kết quả của những tư tưởng và hành động quá khứ. Sự tái sanh ấy tùy thuộc nơi định luật nhân quả, và xảy ra y như chúng ta thay đổi tế bào, tư tưởng và hành động liên tiếp trong kiếp này.

          Còn về trực giác tựa hồ như nó sẵn có nhiều hành tích trong những tâm trạng mà ta không thể biết được. Đôi khi nó dẫn đường cho tâm suy luận.

          Một hệ thống trực giác khác đóng một vai trò tối quan trọng trong Phật giáo. Đó là cái tâm trực giác đang chuyển thành cái tâm siêu thế, một tâm tinh khiết không thể tả được. Tâm ấy vận chuyển trong những trạng thái sâu kín, và có thể phát triển thêm mãi, đưa đến chứng ngộ chân lý của một A-la-hán hoặc một vị trong hàng Tứ Thánh.

          Chẳng nên lầm lẫn cái tâm an trụ trong lúc tọa thiền. Đây là một cái tuệ lực quang minh (vision éclairée) trong lúc cận định.

          Lược đồ của giới trực giác vừa kể qua chỉ tạm hiểu tiến trình của tâm trực giác ra tâm siêu thế, theo nhận định của tác giả, khác hẳn với sự phân loại của tâm trong tạng Vi Diệu Pháp.

          Đại Đức Vajirarama có giải thích sự vận chuyển của tâm theo Tam Tạng Pāli như sau:

          Thời gian của một chập tư tưởng (moment de pensée)là thời gian của hơi thở ra và hơi thở vô bình thường. Và thời gian của một đời sống con người là thời gian của một chập tư tưởng, nghĩa là sau thời gian đó, con người đã hoàn toàn thay đổi, không còn hoàn toàn như một nữa. Chẳng bao giờ hai chập tư tưởng giống nhau như một.

          Ý nghĩa của chập tư tưởng được giải thích như sau:

          Triều lưu của tâm trong trạng thái yên lặng (bhavanga citta) chảy hoài không dứt. Khi bị khêu khích bởi những kích thích của giác quan, một tư tưởng nổi lên (như một bọt nước trên sóng) chiếm cả bầu tư tưởng (champ mental). Tư tưởng ấy được nhận thức, gây ra một quyết đoán và có thể một cử động, rồi liền đó tắt mất, chìm lặng trở lại trong triều lưu yên lặng của tâm. Triều lưu này tiếp tục chảy trong yên lặng, không một tư tưởng nào nổi lên.

          Thường khi khoảng cách giữa hai tư tưởng rất ngắn, không thể nhận ra được. Liền sau đó một tư tưởng khác nổi lên, kéo dài rồi tắt mất.

          Trong thời gian một tư tưởng bị khêu gợi, được nhận thức, được nhận thức, được phát triển, rồi tắt mất, thì cái Ta được tư tưởng phù du ấy biến hình hoàn toàn thay đổi. Thử hỏi những tư tưởng phát sanh trong dòng suối của tâm, mà tôi gọi là tư tưởng của tôi, có phải hoàn toàn xuất xứ từ nơi tâm của tôi không?

          Có lẽ một ngày kia khoa học sẽ tìm ra là chính bộ óc tiếp nhận và phát ra những phóng xạ tuyến hoặc hoặc làn sóng điện. Kinh nghiệm này đương tiến hành.

          Trong khi chờ dợi kết quả của khoa học, người Tây tạng đã nhận ra rằng những tư tưởng được gọi là của tôi có nhiều thứ từ ngoài đem lại.

          Một vị Lạt-ma nói với bà David Neel: Bà thử tưởng tượng vô số đốm lửa, từ mỗi đốm bắn ra những tia lửa. Có tia rớt trong đốm lửa kế cận, tia khác bay đi rất xa. Cũng như thế ấy, dù muốn dù không, dù chúng ta có ý thức hay không, chúng ta đương rước lấy, từ chập, những tia lửa (tư tưởng) do những đốm lửa sống (vivants) đưa đến.

          Chính ta là một ngọn thủy triều tràn ngập, lôi cuốn những tư tưởng hiện đại, tư tưởng nòi giống, gia tộc, kết quả của nền giáo dục xã hội, của sự cấu thành xã hội.

          Hỏi vậy, trong những tư tưởng ấy, có cái nào thuộc quyền độc hữu của ta không?

          Những tư tưởng ấy có thay đổi với tốc độ, mau hơn tốc độ phản ứng của thể xác, hoặc trong nháy mắt, như làn chớp nhoáng (onde lumineuse) mà Einstein đã cổ xúy như đơn vị tốc độ vận hành của đời sống?

          Tại Miến Điện, người ta hiểu rằng vũ trụ trong một chập nhứt định, là tổng số của tất cả tư tưởng hiện tại (kết quả của tư tưởng quá khứ). Tư tưởng đau khổ, sân hận, tham lam, cũng như tư tưởng hạnh phúc, hòa bình, chẳng riêng của loài người, mà của tất cả những gì có sự sống trong vũ trụ.

          Sir James Jeans có viết: Trong tất cả cái gì mà ta gọi là đời sống, có một sự biểu hiện giống như tư tưởng và hoạt động như tư tưởng.

          Nếu hỏi người Phật tử Bắc tông có những gì sau tất cả những biểu hiện của năng lực trong thể xác và tinh thần. Họ trả lời đó là tâm.

          Người Phật tử Nam tông nói rằng: Vạn vật đều do tâm tạo, phát nguồn từ tâm, thuộc về tâm, nhưng ta không nhân cách hóa cái tâm. Họ không tìm cách giải nghĩa những gì gọi là tuyệt đối.

          Về vấn đề này, chính Đức Phật cũng lặng thinh. Ngài chỉ dạy những phương pháp giải thoát khỏi vòng vô thường biến đổi, và khuyên chẳng nên luống công miêu tả những gì có thể gọi là trường tồn bất diệt, là thực thể mà chúng ta không nhận thức nỗi.

          Bổn phận phải làm của người học Phật là rửa lòng trong sạch, chẳng nên mê say theo những biện luận ảo huyền.

          Nếu hiểu được tính chất vô thường của cái Ta, con người của ta sẽ thay đổi như thế nào?

          Trước hết, ta sẽ nhận thức được những cảm giác nhứt thời, những cảm xúc, những phẫn nộ, sanh ra bởi lòng tự ái; ta sẽ không bị cột trói vào đó, bị mắc bẫy; bởi tất cả chỉ có một giá trị tương đối.

          Kế đó, diệt bỏ thành kiến ngã chấp, tự kiêu và tham vọng; lần lần mới nhận thức được tính chất hùng vĩ của đời sống vũ trụ.

          Các bậc thiền sư dạy rằng: Trau dồi đức tính được trong sạch, và tiến bộ về mặt tinh thần, đó là phục vụ tất cả sinh linh.

          Biết như vậy, chúng ta tìm cách giảm thiểu những gì dung dưỡng sự chia rẽ, sự thù hận, sự đau khổ.

          Tính chất vô thường của cái ta có hai nghĩa: Trạng huống bập bềnh của bản ngã vô thường, và trạng huống xác thực của đời sống vũ trụ, vượt khỏi ranh giới của bãn ngã phù du.

          Sau khi hiểu biết như vậy, tâm thức của chúng ta sẽ biến đổi hoàn toàn. Chán nản trạng thái vô thường, chúng ta sẽ tìm cái thường tồn bên kia lẫn mức của sự phân phối, chia rẽ, hận thù. Đó là sự yên lặng không tả được của Niết Bàn, mà hiện giờ ta có thể nói rằng đó không phải là hư vô, cái tuyệt diệt, như một số người đã lầm tưởng.

          Nhưng phải làm sao để gội rửa cho tinh khiết cái ta, để tiến đạt đến Niết Bàn?

          Chúng ta đã thấy rằng khi đổi cái số lượng của điện tử trong một nguyên tử, người ta đổi một nguyên tố ra một nguyên tố khác (biến chất: transmutation).

          Cũng như thế ấy, chúng ta có thể đổi cái bầu tư tưởng (champ mental) và cai bản tính (caractère) cố hữu bằng cách loại bỏ những tư tưởng thô lậu, vô tri thức, và vun bồi những tư tưởng tinh vi (subtil) siêu việt (spirituel).

          Muốn đạt mục đích đó, chỉ có phương pháp tập trung những tư tưởng mà mình muốn gieo trồng. Nhưng những tiến bộ trong sự gội rửa cho trong sạch tinh thần, còn tùy thuộc nơi nếp sống trong sạch, do chính sự gội rửa tinh thần nung đúc.

          Thể xác và tinh thần tuy riêng biệt, nhưng cả hai đều liên quan tùy thuộc lẫn nhau.

          Sự tinh khiết của thể xác phụ trợ sự tinh khiết của tinh thần. Người có tư tưởng lành không thể sống trong cường bạo, và dung dưỡng những thèm khát thô bỉ.

          Chính vì tính chất vô thường của cái Ta, mà chúng ta có thể nhứt quyết thay đổi. Bằng cách áp dụng luật nhân quả, và liên tục khai hóa nó thêm mãi mãi về mặt tinh thần.

          Nguồn sống (couranl de vie) chảy mãi, không ngừng một chập nào trong thời gian vô tận. Nơi đây có biểu hiện như một sinh lực (force vitale), nơi kia như một tâm thức, như một luồng tư tưởng, dưới vô số hình thức.

          Cái Ta cũng thay đổi với những sự thay đổi của tất cả yếu tố (facteurs) tinh thần và vật chất, cấu hợp cái Ta. Chúng ta có thể lợi dụng các yếu tố thay đổi ấy bằng cách giống nhau như cơ thể tuyển lọc vật thực đồng thời tâm có thể chọn lọc và đồng hóa (assimiler) với những tư tưởng tinh khiết và khôn ngoan, hoặc đào thải những tư tưởng xấu xa đương làm cho tăng trưởng sự tranh đấu và đau khổ.

          Cũng như cách thức cơ thể biến hóa vật thực ra thịt và gân, tâm có thể biến hóa những tư tưởng ra hòa bình và hạnh phúc, chẳng phải hòa bình, hạnh phúc của ta mà chính là hòa bình, hạnh phúc trong vũ trụ.

          Pháp Cú Kinh dạy:Bậc hiền nhân tự trau dồi lấy mình”.

          Sự sống của chúng ta tùy thuộc theo tổ chức xã hội, chúng ta phải nhận thức trách nhiệm lớn lao của chúng ta.

          Những sự thù ghét nhỏ nhặt của chúng ta có ảnh hưởng đến kẻ khác và tăng cường lò lửa hận thù trong vũ trụ.

          Tất cả những điều khổ mà chúng ta gây cho kẻ khác làm giảm bớt lòng trắc n của ta và gia tăng đau khổ cho toàn thể.

          Việc thiện cũng như việc ác, những danh từ tương đối này ám chỉ trách vụ hỗ tương phù trợ của con người đối với xã hội, với hoàn cầu; chẳng phải trách vụ này riêng của con người, mà của toàn thế chúng sanh có sự sống, được nguồn sống duy nhứt( courrant de vie-une) bồi dưỡng để sống.

          Người Phật tử thực hiện tâm từ (metta) bao la, bình đẳng, không phân biệt, không giới hạn, đối với toàn thể chúng sanh là vì họ không bao giờ chống chọi với vũ trụ, mà họ lại đồng hóa với sự sống của vạn vật, muôn loài. Đây là kết quả của một trí khôn luôn luôn được trau dồi, và một thị giác tinh nhuệ thấu đáo tính chất sâu kín của vạn vật, căn cứ trên sự quan sát tính cách vô thường của cái Ta.

          Bao giờ con người còn cố tâm chia rẽ, thì xã hội còn tranh đấu, còn thù hận.

          Khi con người nhận thức được sự đồng nhất, thì họ quên mất cái ta, chừng đó mới có sự hổ trợ lẫn nhau để tiến đến hòa bình.

          Một nhà hóa học anh quốc xuất gia Tỳ Khưu suy tưởng về cái khổ ở đời: Nhân sanh khổi là Ái dục, một thứ Ái dục ích kỷ, hoàn toàn ích kỷ. Bởi tất cả chúng sanh đều muốn dựng lên một cái Ta riêng biệt để chống lại nguồn sống duy nhứt vô tận, mà chính họ là một thành phn của nguồn sống duy nhứt ấy. Họ muốn làm việc, muốn được mãn nguyện, muốn sống, chẳng phải để phục vụ nhân loại, cùng toàn thể chúng sanh mà chỉ để phụng sự cái Bản ngã của họ, mội bản ngã mà họ tưởng là của riêng của họ, hoàn toàn cách biệt với vũ trụ.

          Bi thế, ngược lại với Chân lý, cái khổ theo họ mãi mãi trong các kiếp sống, cho đến khi nào họ học được cái bài học tối cao về đời sống. Cho đến khi nào họ từ bỏ được cái Ta riêng biệt của họ, và những tham vọng cá nhân, thì họ mới biết sống và biết phục vụ cho toàn thể chúng sanh trong vũ trụ.

          Lần lượt, con người từ bỏ cái thành kiến Ngã Chấp và thực hiện được sự đồng nhứt với đời sống chung, họ mới biết nỗi lực cải thiện đời sống của tất cả, để cùng nhau tiến tới chỗ diệt khổ.

          Đại Đức ANADA METTEYA viết rằng: “ Kiếp sống của chúng sanh chẳng khác nào như những lượn sóng giữa đại hải của nguồn sống duy nhứt vô tận (Océan de vie-une).

          Nếu chúng ta đã diệt bỏ được sự quyến luyến của cái Ta, và thấy sự sống bao hàm toàn thể vạn vật, chúng ta sẽ sống bằng cách nào?

Thật ra chúng ta sống tự tại,

Không thù hận giữa kẻ thù hận

Giữa người thù hận

Chúng ta sống không thù hận”.

 

“ Thật ra chúng ta sống tự tại,

Hiền lương giữa người độc ác

Giữa người độc ác

Chúng ta sống hiền lương”.

 

“Thật ra chúng ta sống tự tại,

Vô tư lự giữa người phiền não

Giữa người phiền não

Chúng ta sống vô tư lự”.

 

Mong cho nhân loại được sống như thế ấy, trong hoàn cảnh ấy sự thù hận sẽ tiêu diệt.

 

6-8-71

 

Dầu chinh phục hằng triệu người trên chiến trường,

Tuy nhiên,

Quả thật vậy,

Chinh phục được chính mình

Là chiến thắng cao quý.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang