" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Đ

Đời sống của Đức Phật

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Tôn giáo anh là gì? _Tôn giáo tôi là Phật giáo. Phật giáo là gì? _Phật giáo là giáo lý của Đức Phật. Đức Phật là ai? _Đức Phật là bậc toàn giác.
Đời sống của Đức Phật
 

 

ĐỜI SỐNG

CỦA

ĐỨC PHẬT

Do Đại Đức NARADA MAHA THERA

 

Phiên dịch tiếng Anh ra tiếng Việt

Bởi cô Cinta Huỳnh Kim Chi

Và sửa chửa bởi Đại Đức SUVANNAJOTI THERA - KIM QUANG

 

Tháng năm 1963 - Phật lịch 2507     

JETAVANA VIHARA - KỲ VIÊN TỰ SÀI GÒN

 


 

LỜI TỰA

Thanh thiếu niên phật tử Việt Nam rất mộ đạo. Cũng như thanh thiếu niên phật tử Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan, các em không được may mắn có nhiều sách dành riêng cho các em để trao dồi kiến thức về đạo cao siêu của các em.

Cũng như các xứ Phật giáo khác, nơi đây không có nhiều trường dạy đạo cho các em. Một số rất ít đến nghe thuyết pháp tại chùa, đôi khi những bài pháp cao hơn trình độ của các em.

Cha mẹ hoặc nhà Sư nên dạy đạo cho các em hoặc nếu có những sách Phật cho các em đọc một cách hữu ích và thú vị.

Với mục đích ấy, chúng tôi định phát hành một loạt sách về đời sống Đức Phật và căn nguyên sơ đẳng của Phật giáo.

Bản dịch này không phải do một học giả mà do một nữ sinh Việt Nam dịch ra, giữa lúc em còn đi học.

Bần tăng khen ngợi dịch giả về bước đầu tiên khiêm tốn của em.

Và cũng cám ơn Đại Đức Suvannajoti Thera đã có công sửa chửa bản thảo.

                                                                                                                                            Nārada


 

ĐỜI SỐNG CỦA ĐỨC PHẬT

Tôn giáo anh là gì?

_Tôn giáo tôi là Phật giáo.

Phật giáo là gì?

_Phật giáo là giáo lý của Đức Phật.

Đức Phật là ai?

_Đức Phật là bậc toàn giác.

 

Sự Giáng Sinh Của Thái Tử Sỉ-Đạt-Ta

Đức Phật tên gì?

_Ngài tên là Siddhattha Gotama, Sỉ-Đạt-Ta Cồ-Đàm.

Ngài là ai?

_Ngài là thái tử xứ Ấn Độ.

Cha Ngài là ai?

_Cha Ngài là vua Suddhodana (Tịnh-Phạn).

Mẹ Ngài là ai?

_Mẹ Ngài là hoàng hậu Mahā Mayā.

Ngài sinh lúc nào?

_Ngài sinh trong năm 623 trước Thiên chúa, vào ngày trăng tròn tháng Vesak nhằm tháng 5 dương lịch.

Ngài sinh ở đâu?

_Ngài sinh trong vườn Lumbini (Lâm-tì-ni) tại ven xứ Kapilavatthu (Ca-bì-la-vệ) là Nepal.

Có chuyện gì xảy ra cho người mẹ sau khi sinh thái tử?

_Bảy ngày sau khi sinh thái tử, hoàng hậu thăng hà.

Sau khi thăng hà bà tái sinh về đâu?

_Bà tái sinh về cõi trời Tāvatimsa (Đạo-lợi).

Ai nuôi thái tử?

_Dì của thái tử tên Mahā Pajāpati Gotami nuôi Ngài.

Có phải bà Gotami cũng kết duyên với vua Suddhodana (Tịnh-Phạn) không?

_Phải, bà cũng kết duyên với vua Suddhodana (Tịnh-Phạn).

Bà có con không?

_Có, bà có một người con trai tên Nanda và một người con gái tên Nandā.

Dân chúng có vui sướng khi thái tử Siddhattha (Sỉ-đạt-ta) sinh ra không?

_Có, dân chúng rất vui sướng.

Có gì lạ xảy ra trong ngày sinh nhật của Ngài?

_Có nhiều điều lạ xảy ra trong ngày sinh nhật vui vẻ của Ngài.

Anh có thể dẫn chứng một vài điều lạ xảy ra chăng?

_Thái tử sơ sinh Ngài đi trên bảy hoa sen.

Thái tử nói gì?

_Ngài nói: “Aggo ham asmi lokassa…” và tiếp tục như thế.

Câu Pali ấy nghĩa là gì?

_Nghĩa là: “Ta cao cả hơn hết trên đời này”.

Tại sao Ngài nói như thế?

_Vì sau này Ngài sẽ thành Phật.

Thái tử có phải là một đứa trẻ tầm thường không?

_Không, Ngài là một đứa trẻ phi thường.

 

Một Vị Hiền Triết Viếng Thái Tử

Có bậc thiện trí thức nào đến viếng thái tư sơ sinh này chăng?

_Vị hiền triết tên Asita (A-tư-đà) cũng gọi là Kāla Devala đến hoàng cung viếng Ngài.

Nhà vua làm gì?

_Vua bế thái tử ra trao cho vị hiền triết ấy.

Rồi có chuyện gì xảy ra chăng?

_Chân thái tử xoay lại và để lên chiếc khăn quấn đầu của vị hiền triết.

Cử chỉ đó làm cho vị hiền triết bất bình chăng?

_Không, vị hiền triết vội đứng dậy và chấp tay làm lễ Ngài.

Tại sao ông làm như vậy?

_Vì ông biết rằng: Sau này thái tử sẽ thành Phật.

Vua cha làm gì?

_Vua cũng làm lễ thái tử như vị hiền triết ấy.

Vị Hiền triết có thay đổi thái độ gì không?

_ Thoạt tiên Ông cười rồi sau lại khóc.

Tại sao Ông cười?

_ Ông cười vì Thái tử sẽ thành Phật.

Tại sao Ông khóc?

_ Ông khóc vì Ông sẽ không được thất Đức Phật.

 

Lễ Quáng Đính

Có chuyện gì xảy ra trong ngày thứ năm sau khi sinh Thái tử?

_ Vua mời các học giả Bà-la-môn đến đặt tên Thái tử

Thái tử tên gì?

_ Ngài tên Siddhattha (Sỉ-đạt-ta) có nghĩa là Vạn sự Như ý.

Những vị Bà-la-môn có tiên đoán điều gì không?

_ Bảy người trong nhóm đưa hai ngón tay và nói rằng: Thái tử sẽ thành vua Chuyển luân hoặc một vị Phật.

Vị trẻ tuổi nhứt tên Kondañña (Kiều-Trần-Nha) nói gì?

_ Kondañña đưa một ngón tay và quả quyết Thái tử sẽ thành Phật.

Tại sao Thái tử được gọi là Gotama?

_ Vì Gotama (Cồ-Đàm) là tên của gia tộc Ngài.

 

Lễ Hạ Điền

Có điều gì xảy ra trong tuổi thơ ấu của Thái tử không?

_ Có một điều lạ xả ra trong ngày lễ hạ điền         

Lễ hạ điền là gì?

_Vào ngày lễ vua cùng thái tử, các bà vú của thái tử và nhiều người khác xuống ruộng để cày.

Thái tử được đặt ở đâu?

_Ngài được đặt nằm trên cái giường để dưới cội trâm.

Ai hầu cận Ngài?

_Những bà vú nuôi hầu cận Ngài. Nhưng sau họ cũng bỏ đi lại bên cạnh xem lễ.

Thái tử làm gì khi Ngài còn ở lại một mình?

_Thái tử trầm lặng ngồi tham thiền trên giường.

Đó có phải là một điều lạ chăng?

_Hẳn là một điều rất lạ đối với trẻ con.

Nhà vua làm gì khi thấy cảnh lạ lung ấy?

_Vua rất hân hoan đảnh lễ Ngài và nói: “Này, con yêu quí, đây là sự đảnh lễ lần thứ nhì của ta”.

 

Thời Thơ Ấu Của Thái Tử

Thái tử sung sướng lắm phải không?

_Thái tử rất sung sướng vì con một dòng quí tộc.

Ngài có hấp thụ một nền học vấn tốt chăng?

_Có, ngay cả ông thầy dạy học, Ngài cũng giỏi hơn.

Ngài có tinh thông về nghệ thuật không?

_Là con nhà thượng võ, Ngài được huấn luyện đặc biệt về binh pháp.

Ngài có phải là một đứa con biết vâng lời không?

_Ngài là một người rất vâng lời và tốt.

Ngài có từ bi không?

_Ngài từ bi đối với tất cả chúng sinh nhất là đối với những con vật đáng thương.

Ngài có hay buồn không?

_Không bao giờ, nhưng Ngài hay trầm tư mặc tưởng.

 

Đời Sống Hôn Nhân Của Thái Tử

Có chuyện gì xảy ra lúc thái tử lên mười sáu tuổi?

_Ngài cưới một người em họ rất đẹp, đó là công chúa Yasodharā (Gia-du-đà-la).

Tại sao Ngài lập gia đình sớm thế?

_Vì đó là phong tục của Ấn Độ thời cổ.

Yasodharā (Gia-du-đà-la) là ai?

_Nàng là con gái của bà Pamitā, người cô thái tử.

Cha nàng là ai?

_Cha nàng là vua Suppabuddha, Thiện Giác.

Nàng có anh chăng?

_Nàng có một người anh tên Devadatta (Đề-bà-đạt-đa).

Khi đám cưới nàng được mấy tuổi?

_Nàng cũng 16 tuổi.

Hãy dẫn chứng một vài người khác cùng tuổi này?

_Kāludāyi (Ca-lưu-đà-di), Channa (Xa-nặc) và ngựa Kanthaka (Kiền-trắc).

Cây gì mọc cùng lúc với ngày sinh thái tử?

_Cây bồ đề tại Bồ đề đạo tràng.

Thái tử cưới Yasodharā (Gia-du-đà-la) bằng cách nào?

_Bằng cách biểu diễn sự tinh vi về binh pháp.

Thái tử và công chúa có sống hạnh phúc khi họ đã thành hôn rồi chăng?

_Họ rất được hạnh phúc, vì họ rất tâm đầu ý hiệp về mọi phương diện.

Họ có bao nhiêu cung điện?

_Họ có ba cung điện dùng cho ba mùa.

Sau cuộc hôn nhân thái tử làm gì?

_Người sống trong cung điện, tận hưởng mọi thú vui trên đời.

Thời gian qua có gì xảy ra?

_Thái tử một mình luôn luôn trầm ngâm suy nghĩ.

Ngài có điều chi phiền muộn chăng?

_Không, Ngài thấy thương xót chúng sanh.

Ngài nghĩ gì?

_Ngài nghĩ rằng rồi đây Ngài sẽ già, bịnh hoạn và chết.

Một ngày nọ, khi Ngài ngự đi dạo cảnh huê viên, thì có chuyện gì xảy ra?

_Ngài thấy bốn cảnh lạ.

Những cảnh ấy là gì?

_Một người già, một người bịnh, một tử thi và một vị tu sĩ.

Thấy họ, thái tử có thay đổi gì chăng?

_Thái tử có sự thay đổi rất lớn, Ngài nhận thức được bản chất của đời.

Ngài nghĩ gì?

_Ngài nghĩ đến sự xa lánh cõi đời, để đi tìm chân lý và sự thái bình.

Ngài có nhận được tin vui gì khi đang ở trong vườn?

_Ngài được tin đứa con trai Ngài vừa chào đời.

Ngài có mừng khi nghe tin ấy không?

_Ngài không mừng mà xem đứa con trai ấy như một chướng ngại vật.

Ngài nói gì?

_Ngài nói Rāhu jāto, lại một chướng ngại vật hiện đến với Ngài.

Nghe vậy, vua Suddhodana (Tịnh-Phạn) đặt tên cháu nội là gì?

_Ngài đặt tên Rāhula (Ra-hầu-la).

Trên đường về hoàng cung, có gì xảy ra?

_Một thiếu phụ tên Kisā Gotami thấy Ngài mới nói: “Nibbutā…”

Câu kệ này có nghĩa là gì?

_Ngài là người tiêu trừ điều khổ của mẹ, tiêu trừ điều khổ của cha, tiêu trừ điều khổ của vợ, hạnh phúc thay ai có người chồng như Ngài.

Lời nói này có hiệu quả đối với Ngài không?

_Có, vì Ngài có ý định đi tìm sự giải thoát.

Thái tử đã tỏ lòng biết ơn thiếu phụ bằng cách nào?

_Ngài cởi xâu chuỗi ngọc nơi cổ tặng cho thiếu phụ.

 

Sự Xuất Gia

Về hoàng cung, Ngài nghĩ gì?

_Ngài nghĩ đến sự xa lánh đời để tìm chơn lý và sự thái bình.

Lúc nửa đêm Ngài làm gì?

_Ngài đến phòng bà Yasodharā (Gia-du-đà-la) mở cửa ra và đứng nơi ngưỡng cửa.

Ngài có hôn con không?

_Không, Ngài nhìn vợ và con đang an giấc.

Ngài có yêu vợ con chăng?

_Ngài yêu họ tha thiết cũng như Ngài yêu tất cả chúng sanh vậy.

Tại sao Ngài lại muốn xa những kẻ thân yêu này?

_Ngài vì lòng trắc ẩn họ và những chúng sinh khác.

Vì tình thương nhân loại, thái tử Siddhattha (Sỉ-đạt-ta) đã làm gì?

_Nửa đêm, Ngài rời bỏ cung điện và ngay đến người cha thân yêu quí Ngài cũng không báo trước.

Ngài ra đi bằng cách nào?

_Trên lưng ngựa Kanthaka (Kiền-trắc) thân yêu, với Channa (Xa-nặc) người đánh xe của Ngài, Ngài giục ngựa đi trong đêm tối.

Ngài xuất gia vào năm bao nhiêu tuổi?

_Ngài xuất gia vào năm 29 tuổi.

Ngài đi đâu?

_Ngài đi thật xa, băng qua sông Anomā (A-no-ma) và dừng nghỉ trên bờ sông.

Ngài làm sao với y phục của Ngài?

_Thái tử cởi y phục ra và trao cho Channa (Xa-nặc).

Ngài nói gì với Channa (Xa-nặc)?

_Ngài nói: “Này bạn Channa (Xa-nặc) hãy đem y phục và ngựa này trở về hoàng cung, từ đây ta tự lo liệu lấy”.

Channa (Xa-nặc) có muốn theo thái tử không?

_Có, nhưng thái tử Siddhattha (Sỉ-đạt-ta) không cho phép.

Có chuyện gì xảy ra cho con ngựa?

_Vì buồn rầu con ngựa chết và tái sinh về cõi trời Tāvatiṃsa (Đạo-lợi).

Thái tử tự lo liệu bằng cách nào?

_Với thanh kiếm, Ngài cạo râu và tóc, mặc y vàng Ngài trở thành một tu sĩ.

Ai đã dâng y ấy cho Ngài?

_Một người bạn cũ của Ngài tên Ghatīkāra Mahā Brahma.

Có phải Ngài chỉ nhận được y không?

_Không, Ngài nhận được tất cả tám món vật dụng của một nhà Sư.

Tiếng Pāli nào dùng để chỉ tám món vật dụng ấy?

_Tiếng Pāli là Attha Parikkāra (tám món vật dụng).

Hãy kể tám món vật dụng ấy?

_Đó là: Tăng-già-lê (Y hai lớp), Y-quốc-đà-la-tăng (Y vai trái), An-đà-hội (Y nội), bát, dao, kim, giây lưng và bình lược nước.

Siddhattha (Sỉ-đạt-ta) có còn là một vị thái tử nữa không?

_Không, Ngài đã trở thành một đạo sĩ sống lang thang không một đồng xu dính túi.

Người ta còn gọi Ngài tên là chi nữa?

_Ngài được gọi là Bodhisatta (Bồ-tát).

Bodhisatta (Bồ-tát) có nghĩa là gì?

_Bodhisatta (Bồ-tát) có nghĩa là đầy trí tuệ. Đó là tên để gọi người nào cố gắng trở thành Phật.

Bodhisatta (Bồ-tát) có nơi nhứt định để ở không?

_Bodhisatta (Bồ-tát) không có chỗ nào ở nhứt định, Ngài ở trong hang hoặc dưới cội cây.

Ngài sống bằng cách nào?

_Ngài sống bằng của bố thí của các nhà từ thiện.

Ngài đã sống một đời sống như thế nào?

_Ngài sống cô độc, với một đời sống trong sạch để tìm chân lý và sự thái bình.

 

Phấn Đấu Để Đắc Chánh Đẳng Chánh Giác

Sau khi xuất gia Bodhissatta (Bồ-tát) làm gì?

_Ngài đã nhịn ăn trong một tuần lễ trong vườn xoài Anupiya và tận hưởng sự hạnh phúc trong cảnh vắng lặng.

Đến ngày thứ tám Ngài làm gì?

_Với cái bát trên tay, mắt nhìn xuống đất, Ngài đi từ nhà này sang nhà nọ trên đường phố Rājagaha (Vương-xá) để khất thực.

Đó có phải là cảnh lạ đối với dân chúng không?

_Dân chúng và vua Bimbisāra (Bình-sa-vương) rất ngạc nhiên khi thấy một người có vẻ quí phái lại đi khất thực trong thành phố.

Nhà vua ra lịnh như thế nào?

_Nhà vua ra lịnh cho dân chúng theo xem Ngài là ai.

Bodhisatta (Bồ-tát) làm gì sau khi tìm được thức ăn?

_Sau khi xin được thức ăn vừa đủ dùng Ngài đến tảng đá Pāndava.

Bodhisatta (Bồ-tát) có cảm giác gì khi nhìn thức ăn?

_Khi thấy những thức ăn lẫn lộn với nhau, Ngài như muốn buồn nôn vì thức ăn đó Ngài chưa từng thấy bao giờ.

Ngài có dùng thức ăn đó không?

_Ngài quán tưởng và dùng thức ăn.

Khi những người đưa tin về báo cho vua hay thì có chuyện gì xảy ra?

_Nhà vua vội vã đến nơi Bồ-tát ngụ và xin dâng ngôi báu của mình cho Bồ-tát.

Ngài có chấp thuận không?

_Không, Ngài từ chối và nói rằng: Ngài có ý muốn đắc quả Phật.

Nhà vua bất mãn không?

_Vua rất hoan hỷ khi nghe nói mục đích cao siêu của Ngài.

Nhà vua nói gì?

_Nhà vua thỉnh Bồ-tát viếng nước của mình trước tiên, sau khi Ngài đắc quả Phật.

 

Tìm Chân Lý

Ngài tìm chân lý bằng cách nào?

_Đầu tiên Ngài đến vị đạo sĩ rất danh tiếng tên Alara Kālama và học giáo lý của vị này.

Ngài có bằng lòng về phương pháp của vị này không?

_Ngài không bằng lòng về phương pháp này, vì vị đạo sĩ chỉ dạy Ngài tới một vài cảnh thiền thôi.

Ngài có rời bỏ vị này không?

_Vì không tìm được điều mà Ngài muốn tìm, nên Ngài đến một vị đạo sĩ danh tiếng khác tên là Uddaka Rāmamaputta.

Ngài có thỏa mãn với phương pháp của ông thầy thứ hai này không?

_Ngài cũng không hài lòng với phương pháp này, vì ông thầy chỉ dạy cho Ngài đắc đến quả thiền cao hơn thôi.

Tại sao Ngài không hài lòng về những phương pháp này?

_Vì Ngài tìm cảnh Nibbāna (Niết-bàn) nơi dứt mọi sự thống khổ.

Ngài có vì vậy mà nản lòng không?

_Ngài không nản lòng, mặc dầu Ngài gặp sự thất vọng. Ngài tự trau giồi tâm mình để tìm ra chân lý.

Ngài chọn nơi nào để hành thiền định?

_Ngài chọn rừng Uruvelā, một nơi đẹp đẽ yên tịnh.

Ai theo Ngài trong khi Ngài đang tìm chân lý?

_Năm vị tu sĩ tên là Kondañña (Kiều-trần-như), Bhaddiya, Vappa, Mohānāma và Assaji theo Ngài.

Kondañña (Kiều-trần-như) là ai?

_Ông là vị Bà-la-môn trẻ tuổi nhất đã tiên đoán tương lai của Ngài vào ngày lễ quáng đính (đặt tên).

Còn những vị kia là ai?

_Họ là con của những vị Ba-la-môn đã có mặt trong dịp lễ ấy.

Bodhisatta (Bồ-tát) phấn đấu trong thời gian bao lâu để đắc Chánh Đẳng Chánh Giác?

_Ngài phấn đấu trong sáu năm trường.

Ngài cố gắng như thế nào để đắc quả Phật?

_Ngài hành khổ hạnh và chịu đựng nhiều sự đau khổ. Ngài hành theo những hình thức khổ khắc. Ngài hành xác đến nỗi thân Ngài chỉ còn gần như là một bộ xương.

Có chuyện gì xảy ra cho tấm thân gầy yếu của Ngài?

_Màu da vàng của Ngài trở nên xanh xao. Máu khô lại, đôi mắt sâu quắm Ngài như là sắp chết.

Ai đến gần Ngài lúc ấy?

_Māra (Ma vương) đến gần Ngài.

Māra (Ma vương) nói gì?

_Māra (Ma vương) nói: “Ông gầy và gần chết rồi. Ô! Ông ơi, ông hãy sống. Đời đẹp lắm. Ông sống mới có thể tạo phước được.

Bodhisatta (Bồ-tát) trả lời sao?

_Ngài trả lời: “Này Ma vương, ngươi hãy lo cho ngươi. Ta đây không cần phước, sự sống đối với ta cũng không cần. Ta chỉ muốn quả Phật thôi.

Bodhisatta (Bồ-tát) có nói với Māra (Ma vương) về quân binh của chúng ra sao?

_Ngài nói rằng: Quân binh của Māra (Ma vương) là mười loại dục vọng.

Māra (Ma vương) có thành công trong sự cám dỗ đức Bodhisatta (Bồ-tát) không?

_Không, nó đi một cách thất vọng.

 

Đắc Quả Chánh Đẳng Chánh Giác

Bodhisatta (Bồ-tát) có đổi phương pháp tu của Ngài không?

_Ngài đổi phương pháp tu, vì sự khổ hạnh là vô ích.

Ngài chọn con đường mới nào?

_Ngài bỏ những sự thái quá và theo con đường Trung đạo ‘Majjhimā Patipadā’.

Ngài có nghĩ rằng Ngài không thể đắc quả Phật được với xác thân gầy yếu của Ngài không?

_Ngài nghĩ rằng muốn đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác thì phải bỏ sự nhịn ăn và Ngài thọ thực.

Năm vị tu sĩ nhóm Kiều-trần-như có thỏa thích về việc đổi phương pháp tu không?

_Năm vị tu sĩ rất thất vọng bỏ Ngài ở lại một mình mà đi về rừng Isipatana (Lộc-giả).

Ngài có nản lòng không?

_Không, Ngài bền chí và vui sống một mình.

Một ngày kia, Ngài ngồi dưới tàn cây thì chuyện gì xảy đến?

_Một thiếu phụ quảng đại tên Sujātā dâng cơm sữa cho Ngài.

Thức ăn này có làm cho Ngài lại sức không?

_Có, Ngài cảm thấy mạnh khỏe và nguyện sẽ không rời khỏi chỗ ngồi cho đến khi đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ngài ngồi dưới cội cây nào?

_Ngài ngồi dưới cội cây trứ danh là Bodhi (Bồ-đề) tại Buddha Gayā (Bồ đề đạo tràng).

Tại sao được gọi là cây Bodhi (Bồ-đề)?

_Được gọi là cây Bodhi (Bồ đề) vì Bodhisatta (Bồ-tát) đã đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội cây này.

Lúc canh một có chuyện gì xảy ra?

_Ngài đắc Túc mạng minh do Ngài có thể nhớ lại những tiền kiếp.

Đến canh hai nửa đêm Ngài đắc quả gì?

_Ngài đắc Thiên nhãn minh, nhờ đó Ngài có thể thấy được sự sanh tử của chúng sinh.

Canh ba có chuyện gì xảy ra?

_Ngài đắc Lậu tận minh, thông suốt Tứ diệu đế và trở thành bậc Sammā Sambuddha “Chánh Biến Tri”.

Sammā Sambuddha “Chánh Biến Tri” có nghĩa là gì?

_Sammā Sambuddha “Chánh Biến Tri” có nghĩa là người đầy trí tuệ hay người đã hoàn toàn giác ngộ.

Diệu đế thứ nhứt là gì?

_Diệu đế thứ nhứt là Khổ đế.

Diệu đế thứ hai là gì?

_Diệu đế thứ hai là Tập đế (nguyên nhân sự khổ).

Nguyên nhân sự khổ là gì?

_Nguyên nhân sự khổ là lòng ái dục.

Diệu đế thứ ba là gì?

_Diệu đế thứ ba là Diệt đế.

Diệt đế là gì?

_Diệt đế là Nibbāna (Niết-bàn).

Diệu đế thứ tư là gì?

_Diệu đế thứ tư là Đạo đế - con đường đưa đến sự diệt khổ.

Đức Bodhisatta (Bồ-tát) đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác vào ngày nào?

_Vào ngày trăng tròn tháng Vesak nhằm ngày tháng 5 dương lịch (rằm tháng 4 âl).

Năm nào Ngài thành Phật?

_Ngài thành Phật năm Ngài 35 tuổi.

Sau khi đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác Ngài tên gì?

_Ngài tên là Buddha Gotama (Phật Cồ-Đàm).

Anh có thể thành Phật không?

_Có, tất cả chúng ta đều có thể thành Phật.

Có chư Phật trong kiếp quá khứ không?

_Có nhiều vị Phật trong kiếp quá khứ.

Có chư Phật trong kiếp vị lai không?

_Sẽ có nhiều vị Phật trong kiếp vị lai.

Đức Phật vi lai tên là gì?

_Meteyya (Di-lạc) sẽ là tên của Đức Phật vị lai.

 

Sau Khi Đắc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Sau khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác Phật đã tuyên ngôn những gì?

_Ngài nói lên những sự phỉ lạc.

Hãy đọc lời tuyên ngôn về sự phỉ lạc đầu tiên của Phật?

_Khi Như Lai đang tìm chưa gặp người thợ cất nhà, tức là thân ngũ uẩn của Như Lai, Như Lai từng trải đi luân hồi trong hồi trong vô lượng kiếp, sự sanh hằng đem thống khổ đến Như Lai, không ngừng nghỉ. Này người thợ cất nhà! Nay Như Lai đã tìm thấy ngươi rồi. Từ đây ngươi hết cất nhà cho Như Lai nữa, kèo tức là phiền não của Như Lai đã bẻ gãy, nóc nhà tức là vô minh cũng bị Như Lai diệt trừ rồi. Nay tâm Như Lai đắc Niết-bàn. Như Lai đã giác ngộ A-la-hán là pháp tiêu diệt ái dục.

Ngay sau khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật sống cách nào?

_Phật nhịn ăn trong bảy tuần lễ.

Ngài có cảm thấy đói không?

_Không, Ngài vui hưởng quả vị Nibbāna (Niết-bàn).

Tuần lễ đầu Ngài làm gì?

_Trong tuần lễ đầu, Ngài ngồi dưới cội cây Bodhi (Bồ đề), tận hưởng sự giải thoát của mình.

Đến ngày thứ bảy Ngài làm gì?

_Ngài ngồi tham thiền về “Bánh xe luân hồi”.

Tuần lễ thứ hai Ngài làm gì?

_Ngài đứng xa ra một khoảng và nhìn chăm chú cội Bodhi (Bồ đề).

Vì sao Ngài làm như vậy?

_Ngài làm như thế để tỏ lòng biết ơn đến cội Bodhi (Bồ đề).

Cây Bodhi (Bồ đề) đã giúp đỡ Phật bằng cách nào?

_Cây này chỉ có cho Ngài một chỗ ngụ trong khi Ngài chú tâm hành đạo.

Bài học đầu tiên mà Đức Phật dạy cho thế gian là bài gì?

_Bài học về sự biết ơn.

Tuần lễ thứ ba Ngài làm gì?

_Ngài đi kinh hành.

Tuần lễ thứ tư Ngài làm gì?

_Ngồi trong phòng, Ngài tham thiền về Vi diệu pháp.

Tuần lễ thứ năm Ngài làm gì?

_Ngài ngồi dưới cội cây Ajapāla.

Khi ấy ai đến cám dỗ Ngài?

_Ba cô con gái của Marā (Ma vương) đến cám dỗ Ngài?

Hãy kể tên ba cô gái ấy?

_Ái dục, tật đố và tham ái.

Có phải họ là những dục vọng không?

_Họ không thể là dục vọng được, vì việc này xảy ra sau khi Đức Phật đắc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Tuần lễ thứ sáu Ngài làm gì ở đâu?

_Ngài ngồi dưới cội cây Mucalinda.

Trong tuần này có chuyện gì xảy ra?

_Trời mưa to và một con rắn chúa đến quấn che cho Ngài.

Vào ngày năm mươi có chuyện gì xảy ra?

_Hai người thương mãi tên Tapussa và Bhallika dâng bánh bột khô và mật ong cho Ngài.

Sau khi họ bố thí họ làm gì?

_Họ qui y Phật bảo và Pháp bảo.

Họ qui y bằng cách nào?

_Họ đọc: Tôi đem hết lòng thành kính xin qui y Phật. Tôi đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp.

Vì sao họ không qui y Tăng bào?

_Vì lúc đó chưa có Tăng bảo.

Họ có muốn Phật cho họ vật gì không?

_Vâng, họ muốn Phật cho họ món quà để thờ.

Phật cho họ những gì?

_Phật rờ đầu Ngài, vuốt cho họ vài sợi tóc.

Hiện nay những sợi tóc đó thờ ở đâu?

_Những sợi tóc này được thờ trong chùa Shwe Dagon ở Ngưỡng quang.

Ai là người thiện nam đầu tiên của Đức Phật?

_Tapussa và Bhallika là người thiện nam đầu tiên của Phật.

Thiện nam là người như thế nào?

_Thiện nam là người sống theo lời dạy của Phật.

 

Đức Phật Truyền Bá Pháp Bảo

Đức Phật nghĩ gì về Pháp bảo của Ngài?

_Ngài nghĩ rằng Pháp của Ngài rất sâu xa và đối với người đời khó mà hiểu nổi Pháp bảo.

Khi ấy có ai hiện đến trước mặt Ngài?

_Có vị Phạm thiên Tên Sahampati hiện đến trước mặt Ngài và thỉnh Ngài thuyết pháp.

Ngài có biết được dân chúng có thể hiểu pháp của Ngài không?

_Với thiên nhãn thông, Ngài quan sát và thấy có người hiểu được Pháp của Ngài.

Phật định thuyết cho ai trước hết?

_Cho ông Alāra Kālāma, người thầy đầu tiên của Ngài.

Ngài có thuyết pháp cho ông ấy không?

_Không, Ngài biết rằng ông này đã tịch bảy ngày rồi.

Rồi Ngài nghĩ đến ai nữa?

_Ngài nhớ đến ông thầy thứ hai của Ngài là vị Uddaka Rāmaputta.

Có chuyện gì xảy ra cho ông này?

_Phật cũng biết rằng ông này cũng vừa tịch chiều hôm qua.

Cuối cùng Phật nghĩ đến ai?

_Ngài nhớ đến năm thầy Kiêu-trần-như đã hộ trợ Ngài khi trước.

Lúc ấy các ông này ở đâu?

_Họ ở tại Isipatana (Lộc-giả) xứ Benares.

Tên của các ông ấy là gì?

_Kondañña (Kiểu-trần-như), Bhaddiya, Vappa, Mahānāma và Assaji.

Phật có đến viếng họ không?

_Do lòng bác ái Phật đến viếng họ.

Trên đường đi Ngài có gặp ai không?

_Ngài gặp một vị đạo sĩ tên Upaka.

Ông Upaka hỏi Phật những gì?

_Ông hỏi Phật ai là thầy của Ngài.

Phật trả lời như thế nào?

_Phật trả lời rằng Ngài không có thầy.

Tại sao thế, ông Alāra Kālāma và ông Uddaka Rāmaputta không phải là thầy của Ngài sao?

_Họ là thầy của Phật trước khi Ngài đắc Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi đắc quả Phật thì Ngài không có thầy.

Năm thầy Kiều-trần-như nghĩ gì khi thấy Phật từ xa?

_Họ không nghĩ đến sự cung kính Đức Phật vì Phật đã bỏ sự tinh tấn tu hành.

Khi Phật đến gần thì họ làm thế nào?

_ Họ không thể nào không tỏ ra cung kính Đức Phật.

Họ gọi Phật như thế nào?

_Họ gọi Ngài là “thầy Gotama” (Cô-đàm).

Đức Phật nói gì?

_Phật khuyên họ đừng gọi như thế vì Ngài đã thành Phật rồi.

Họ có tin lời Ngài không?

_Họ không tin Ngài, mặc dầu Đức Phật nói hai ba lần.

Khi ấy Đức Phật nói gì?

_Đức Phật hỏi họ: Ôi! Các thầy Tỳ Khưu, các thầy có nhớ rằng Như Lai không bao giờ nói đến việc này trước kia không?

Phật có thuyết phục được họ không?

_Có, Đức Phật thuyết phục được họ.

Họ có sẵn sàng nghe pháp không?

_Có, họ rất kiên nhẫn ngồi nghe pháp.

 

Bài Pháp Đầu Tiên

Bài pháp đầu tiên mà Phật đã thuyết là bài pháp gì?

_Bài Dhammacakka Sutta (Chuyển pháp luân kinh).

Dhammacakka có nghĩa là gì?

_Có nghĩa là làm cho phát triển trí tuệ hay bánh xe chơn lý.

Vào ngày nào bài pháp này được thuyết ra?

_Vào ngày trăng tròn tháng āsalha.

Phật thuyết bài pháp này ở đâu?

_Tại vườn nai vùng Isipatana gần Benares.

Ai có mặt ở đây để thính pháp?

_Trong nhóm năm thầy Kiều-trần-như.

Và ai có mặt nữa?

_Chúng ta phải nói rằng có rất nhiều Chư thiên và Phạm thiên.

Đức Phật mở đầu thời pháp bằng cách nào?

_Ngài khuyên các bậc xuất gia phải vỏ hai thái cực.

Hai thái cực này là gì?

_Hưởng thú vui trụy lạc và khổ khắc thân tâm (khổ hạnh).

Có phải mọi người đều phải bỏ sự sung sướng không?

_Không, lời khuyên này chỉ nhắc nhở đến các bậc xuất gia.

Tại sao Đức Phật lại đề cập đến vấn đề khổ hạnh?

_Vì nhân loại tin rằng có khổ hạnh mới được trong sạch.

Năm thầy Kiêu-trần-như có tin sự khổ hạnh này không?

_Có, họ rất tin tưởng điều ấy.

Đức Phật đã có sa vào những thái cực này chưa?

_Có, khi là một thái tử Ngài hưởng thụ mọi thú vui nhục dục. Đến khi là đạo sĩ Ngài hành rất khổ hạnh.

Phật đã tìm ra con đường nào?

_Ngài tìm được con đường Trung đạo.

Chữ Pāli viết con đường trung đạo như thế nào?

_Majhimā Patipadā.

Vì sao Đức Phật bỏ những thái cực?

_Vì nó bất lợi.

Đường trung đạo là gì?

_Đó là Bát chánh đạo.

Đường trung đạo đưa người đến đâu?

_Đưa đến Nibbāna (Niết-bàn).

Hãy kể hai chi đầu của Bát chánh đạo?

_Chánh kiến (Sammā ditthi) và Chánh tư duy (Sammā samkoppa).

Hãy kể ba chi kế?

_Chánh ngữ (Sammā vācā), Chánh nghiệp (Sammā kammantā), và Chánh mạng (Sammā ājīva).

Hãy kể ba chi cuối cùng?

_Chánh tinh tấn (Sammā vāyāma), Chánh niệm (Sammā sati) và Chánh định (Sammā Sammādhi).

Trong bài pháp đầu Đức Phật còn thuyết những gì khác nữa?

_Ngài thuyết về Tứ diệu đế.

Tứ diệu đế là những gì?

_Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

Phật nói gì về Tứ diệu đế theo ý kiến Ngài?

_Ngài nói rằng: Ánh sang từ những vật mà trước kia Ngài không nghe nói giờ được phát lên.

Cái chi là nguyên nhân của khổ?

_Sự tham ái là nguyên nhân của sự khổ.

Cái chi để diệt khổ?

_Nibbāna (Niết-bàn) là nơi diệt khổ.

Khi nào Phật mới nói mình là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

_Chỉ sau khi Ngài thông hiểu Tứ diệu đế.

Dứt thời pháp này có gì xảy ra?

_Ông Kondañña (Kiều-trần-như) hiểu được pháp và đắc Sotāpanna (Tu-đà-hườn).

Sotāpanna (Tu-đà-hườn) nghĩa là gì?

_Là người đã đắc quả Thánh thứ nhứt, có nghĩa là Nhập lưu, tức là người đã thấy Nibbāna (Niết-bàn) lần đầu tiên.

Chư thiên và Phạm thiên làm gì?

_Tất cả đều đồng thanh hô: Sādhu, Sādhu (Lành thay, lành thay).

Có điều chi lạ xảy đến không?

_Có một tia hào quang tủa ra khắp thế gian.

Có điều chi xảy đến cho bốn thầy Kiều-trần-như kia?

_Sau đó họ cũng đắc Sotāpanna (Tu-đà-hườn) cả.

Họ có đắc quả A-la-hán không?

_Họ có đắc quả A-la-hán sau khi nghe bài pháp Anattalakkana (Vô ngã tưởng kinh).

Bài kinh này đề cập đến vấn đề gì?

_Đề cập đến sự vô ngã (không có linh hồn).

Một bực A-la-hán có nghĩa là gì?

_A-la-hán có nghĩa là người đáng cung kính (Ứng cúng).

 

Sáu Mươi Vị A-La-Hán

Ai là người đệ tử thứ sáu của Đức Phật?

_Yasa, con một nhà triệu phú là đệ tử thứ sáu của Đức Phật.

Ông này giác ngộ bằng cách nào?

_Chán thế gian, ông bỏ nhà ra đi trong dêm tối mà không một lời báo trước. Đến gặp Đức Phật, ông nghe pháp và đắc quả A-la-hán.

Có chuyện gì xảy ra cho cha ông?

_Cha ông trở thành một người cận sự nam (thiện nam) vì người đã quy y Tam bảo.

Có chuyện gì xảy ra cho mẹ và vợ ông?

_Họ quy y Tam bảo và trở thành hai người cận sự nữ (tín nữ) đầu tiên của Phật.

Ông Yasa có bạn không?

_Ông có năm mươi bốn người bạn quí phái.

Họ đã giác ngộ chưa?

_Có, họ thỏa thích nghe pháp và đắc quả A-la-hán cả.

Bên cạnh Phật, có bao nhiêu vị A-la-hán trên hoàn cầu lúc bấy giờ?

_Có tất cả sáu mươi vị A-la-hán trên hoàn cầu.

Đức Phật có tìm được một cấp bậc mới nào không?

_Với sáu chục vị A-la-hán này, Đức Phật đã tìm được dòng tu cao thượng của hành tăng lữ.

Phật khuyên các vị này những gì?

_Này các thầy Tỳ Khưu, các ngươi nên đi xa để làm gương tốt cho quần chúng, hãy thuyết pháp về những điều hạnh phúc cho họ, và hãy nói lên đời sống của bậc Thánh nhân cho họ biết,

Các vị truyền đạo này làm gì?

_Họ đi mỗi người một nơi khác nhau để thuyết pháp.

Phật làm gì?

_Đức Phật cũng ngự một mình và thuyết những bài pháp mới của Ngài.

 

Sự Hoằng Pháp Của Đức Phật

Nhiệm vụ hoằng pháp của Phật kéo dài bao lâu?

_Bốn mươi lăm năm.

Ngài có thành công trong việc hoằng pháp không?

_Ngài thành công trong việc hoằng pháp này, và lâu dài nhất đối với tất cả các giáo chủ.

Cái gì là nguyên nhân sự thành công của Ngài?

_Phẩm hạnh thanh cao của Ngài, sự cao thượng của pháp bảo và phương pháp dùng để hoằng pháp.

Ngài có nhiều người hộ trợ không?

_Có, Ngài có rất nhiều người hộ trợ như vua Kosala, vua Bimbisāra (Bình-sa-vương), Anāthapindika (Cấp-cô-độc) và bà Visākhā.

Ngài có những kẻ đối lập không?

_Có, ông Devadatta (Đê-bà-đạy-ta) em họ của Ngài và cũng là học trò Ngài, là thủ lãnh đối lập.

Ngài có kẻ phản nghịch không?

_Có, những kẻ phản nghịch vì ganh tỵ môn phái, nhưng Ngài chống lại họ rất dũng cảm.

Đầu tiên Đức Phật đến viếng hoàng thành của ai?

_Hoàng thành của vua Bimbasāra (Bình-sa-vương).

Đức Phật đã thuyết những gì nơi đó?

_Đức Phật đã thuyết về Túc sanh truyện của Đại Đức Narāda Kassapa.

Nhà vua có thức tỉnh không?

_Có, nhà vua đắc quả Sotāpanna (Tu-đà-hườn).

Vua có dâng gì cho Đức Phật không?

_Vua dâng rừng tre (Trúc lâm tự) cho Đức Phật và chư Tăng.

 

Hai Đệ Tử Bậc Nhất

Hại vị đệ tử rường cột của Đức Phật là ai?

_Đại Đức Sāriputta (Xa-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên).

Sāriputta là ai?

_Ngài là con của một thiếu phụ Ba-la-môn tên Sāri.

Ngài có tên nào khác nữa không?

_Ngài có tên khác là Upatissa.

Moggallāna là ai?

_Ngài là con của một thiếu phụ tên là Magali.

Ngài có tên nào khác nữa không?

_Ngài có tên khác là Kolita.

Hai người bạn Sāriputta và Moggallāna này làm gì?

_Hai ông nhận thức được hư ảo của những thú vui ở đời và muốn tìm sự hòa bình.

Đầu tiên các Ngài đến ai?

_Các Ngài đến ông thầy tên Sānjaya.

Các Ngài có hài lòng về sự dạy dỗ của ông thầy này không?

_Không, các Ngài không hài lòng với lối dạy này và bỏ ông thầy ra đi.

Về sau Sāriputta gặp ai?

_Ngài gặp vị A-la-hán Assaji.

Đại Đức Assaji có thuyết pháp cho ông nghe không?

_Có, Đại Đức đã thuyết pháp về luật nhân và quả.

Hãy đọc câu kệ ngôn mà Đại Đức đã thuyết?

_Vạn vât phát sanh đều do nhân. Cái nhân ấy đã được Đức Phật nói đến và giảng giải cho ta biết sự diệt nó rồi.

Ngài Sāriputta có hiểu được pháp bảo chăng?

_Khi nghe được hai câu đầu, Ngài đắc Sotāpanna (Tu-đà-hườn).

Có chuyện gì xảy đến cho Moggallāna?

_Khi Sāriputta về thuật lại câu kệ ngôn kia cho Moggallāna nghe thì ông này cũng đắc Sotāpanna.

Về sau, các Ngài có đến viếng Đức Phật không?

_Có, các Ngài đến viếng Đức Phật và sau khi nghe Phật thuyết pháp các Ngài đều đắc Arahat.

Các Ngài có cầu xin điều gì chăng?

_Các ngài yêu cầu Đức Phật nhận vào hàng Tăng lữ.

Các Ngài được nhận vào bằng cách nào?

_Bằng một danh từ rất cao thượng “Etha Bhikkhu” đến đây hỡi các Tỳ Khưu.

Trong hàng Tăng lữ chúng học Ngài làm được chức vụ gì?

_Phật cho Đại Đức Arahat Sāriputta làm đệ tử rường cột bậc nhất, và Đại Đức Arahat Moggallāna làm đệ tử rường cột bậc nhì của Ngài.

 

Phật Viếng Nơi Sinh Trưởng Của Ngài

Đức Phật có viếng nơi sinh trưởng của Ngài không?

_Đức Phật viếng nơi sinh trưởng của Ngài do sự ước vọng của phụ hoàng.

Ai đã khuyến khích Phật làm việc này?

_Vị quan thượng thư Kāludāyi (Ca-lưu-đà-di) bạn chơi của Đức Phật (trong thời thơ ấu).

Đức Phật đi bộ đến xứ Kapitavaṭṭhu (Ca-bì-la-vệ) trong bao lâu?

_Vì trên đường đi Ngài có thuyết pháp nên phải mất hai tháng trường.

Những vị cao niên dòng Sakya (Thích Ca) có cung kính lễ Phật không?

_Không, họ rất kiêu căng nên họ để những người trẻ đến chào Đức Phật.

Đức Phật khắc phục được tánh kiêu căng của họ bằng cách nào?

_Bằng cách Phật hóa thần thông bay lên hư không và hóa phép nước và lửa (Yamaka Patihāriya).

Thần thông này là gì?

_Bằng phép thần thông, Phật làm cho nước và lửa từ những bộ chân lông của Ngài phát ra cùng một lúc.

Thấy pháp thần thông của Phật nhà vua làm gì?

_Tức khắc vua đến lễ Phật và nói: “Đây là sự đảnh lễ lần thứ ba”.

Lúc ấy những người khác cùng dòng Sakya làm gì?

_Họ cùng nhau cung kính lễ Phật.

Tên của Jātaka (Túc sanh truyện) mà Phật thuyết cho họ hàng Ngài nghe là bài gì?

_Vessantara Jātaka (Túc sanh truyện) Tu-đại-na.

Qua ngày sau Đức Phật làm gì?

_Với cái bát trên tay Phật đi từ nhà này đến nhà nọ trên đường thành phố xứ Kapilavāṭṭhu để khất thực.

Nghe Đức Phật đi khất thực nhà vua làm gì?

_Vua đến hỏi Đức Phật vì sao Ngài làm nhục ông vậy?

Phật trả lời ra sao?

_Phật trả lời rằng đó là phong tục của chư Phật.

Vua có thấy được ánh sáng chơn lý không?

_Trước hết vua đắc quả Sotāpanna rồi lại đắc quả Sakadāgāmi (Nhứt lai). Nghe bài trì pháp Jātaka, vua đắc quả Anāgāmi (Bất lai). Trên long sàng lúc hấp hối đức vua đắc quả Arahat (A-la-hán).

Sakadāgāmi có nghĩa là gì?

_Sakadāgāmi có nghĩa là Nhứt lai, bậc nào đắc quả Thánh thứ hai này rồi, thì chỉ còn sanh lại thế gian một lần nữa mà thôi.

Anāgāmi có nghĩa là gì?

_Anāgāmi có nghĩa là Bất lai. Bậc nào đắc quả Thánh thứ ba này, thì không còn tái sanh trở lại thế gian nữa. Sau khi chết họ được tái sanh về nhàn cảnh cho đến khi đắc quả Arahat.

Arahat có nghĩa là gì?

_Arahat có nghĩa là Ứng cúng. Bậc nào đắc quả Thánh thứ tư này, thì không còn sanh về cõi nào cả. Sau khi chết người ấy sẽ nhập Niết Bàn (Parinnibbāna).

Công chúa Yosadnarā có đến đảnh lễ Đức Phật không?

_Nàng nghĩ rằng: Nếu khi nào ta có đức tánh chi thì tất Đức Phật sẽ đến thăm ta. Khi ấy ta sẽ làm lễ Ngài.

Phật có đến thăm nàng không?

_Với lòng bác ái Phật đã đến thăm nàng.

Khi thấy Phật đến nàng làm gì?

_Nàng ôm nơi mắt cá của Phật và để đầu vào chân Ngài, nàng đảnh lễ Phật rất cung kính.

Vua Soddhodana có nói gì về nàng không?

_Vua ca tụng nàng và kể cho Phật nghe về lòng chung thủy của nàng.

Nàng có xuất gia không?

_Về sau nàng xuất gia và đắc quả Arahat.

Có chuyện gì xảy ra cho ông Nanda (Nan-da) em của Phật?

_Ông cũng xuất gia và đắc quả Arahat.

Thấy Đức Phật, hoàng tử Rāhula (Ra-hầu-la) làm sao?

_Vâng lời mẹ, hoàng tử đến gần Đức Phật và đòi gia tài.

Rāhula có nói gì không?

_Rāhula nói: “Ô! Ông đạo sĩ chỉ cái bóng của ông cũng làm cho tôi mát mẻ rồi”.

Lúc ấy ông mấy tuổi?

_Ông chỉ mới bảy tuổi.

Ông có xuất gia không?

_Ông được xuất gia lúc bảy tuổi và về sau ông đắc quả Arahat.

Ananda là ai?

_Ông là em họ của Phật.

Ông này có xuất gia không?

_Ông xuất gia và đắc quả Sotāpanna.

Trong hang Tăng, lữ ông có phận sự gì?

_Ông là một kho tàng pháp bảo và cũng là một đệ tử hầu cận của Đức Phật.

Ông đắc quả Arahat lúc nào?

_Ông đắc quả Arahat sau khi Đức Phật tịch diệt.

Ông có làm điều gì quan trọng không?

_Ông đã đọc lại pháp bảo trong kỳ kết tập lần đầu tiên.

Ông có giúp việc gì cho hàng phụ nữ không?

_Ngài đã giúp đỡ trong việc thành lập giáo hội Tăng Ni.

Devadatta (Đề-bà-đạt-ta) là ai?

_Devadatta là em họ và cũng là anh vợ của Đức Phật.

Bạn có thể nói về đời sống của Ngài không?

_Ngài cũng xuất gia và đầu tiên là một vị Bhikkhu (Tỳ Khưu) tốt. Về sau ông trở thành kẻ thù Phật nhất.

Ông đã hành động thế nào với Đức Phật?

_Ông cố tâm giết Đức Phật.

Cuối cùng ông ra sao?

_Vì những hành động ác của ông, ông bị đọa sanh vào cảnh khổ.

Kiếp vị lai của ông sẽ ra sao?

_Ông sẽ thành Phật Độc Giác tên Atthissara.

Có chuyện gì xảy ra cho bà Mahā Pajāpati Gotami?

_Sau khi vua Suddhodana (Tịnh-phạn) thăng hà, bà xuất gia làm Tỳ Khưu Ni và đắc quả Arahat.

Ai đã xin Đức Phật thành lập giáo hội Tăng Ni?

_Bà Mahā Pajāpati Gotami.

Trong hàng Tăng Ni, ai là đệ tử rường cột?

_Bà Khemā và Uppalavannā là hai nữ đệ tử rường cột.

Ai đã thành lập giáo hội cho phụ nữ trước nhứt?

_Đức Phật đã thành lập giáo hội cho giới phụ nữ đầu tiên.

Giáo hội Tăng Ni có còn tồn tại không?

_Ngày nay giáo hội Tăng Ni không còn nữa.

 

Những Ân Nhân Của Phật

Ai đã giúp Đức Phật thành công trong việc truyền đạo?

_Các vị vua và những nhà triệu phú giúp Ngài.

Những hoàng gia nào đã giúp đỡ Ngài?

_Vua Bimbisāra (Bình-sa-vương), vua Kosala (Ba-tư-nặc), vua Ajātasattu (A-xà-thế)

Nam, ai là ân nhân chánh của Phật?

_ Nhà triệu phú Anāthapindika (Cấp-cô-độc).

Ông có dâng cho Đức Phật tịnh xá nào không?

_Ông dâng ngôi Jetavanārāma (Kỳ viên tịnh xá).

Nữ, ai là ân nhân chánh của Phật?

_Bà Visākhā, một người đàn bà cao thượng.

Ngôi chùa mà bà dâng cho Đức Phật tên là gì?

_Bubbārāma tịnh xá.

Đức Phật ngụ ở những tịnh xá nào nhiều nhất?

_Jetavanārāma và Bubbārāma ở xứ Sāvatthi (Xá vệ).

Vết tích (hoang tàn) của những ngôi chùa này còn thấy được không?

_Vết tích (hoang tàn) của những ngôi chùa này hãy còn thấy ở Sahet Mahet.

 

Đức Phật Nhập Niết Bàn

Lời khuyên cuối cùng của Đức Phật là lời gì?

_Chẳng nên dễ duôi.

Hãy dẫn chứng bằng tiếng Pāli?

_Appamādena sampādetha.

Phật nói theo ý kiến Ngài hình thức thờ cúng cao thượng nhất như thế nào?

_Đức Phật dạy: Người thực hành theo lời chỉ giáo của Như Lai là cúng dường Như Lai bằng cách cao thượng.

Ai dâng bữa ăn cuối cùng cho Đức Phật?

_Ông thợ rèn Cunda.

Những bữa ăn nào quí nhất dâng đến cho Đức Phật?

_Bữa ăn đầu là trước khi Ngài thành Phật và bữa ăn cuối cùng là trước khi Ngài tịch diệt.

Ai là đệ tử cuối cùng của Đức Phật?

_Vị đạo sĩ Subhadda là học trò chót của Phật.

Đức Phật có chỉ định người kế nghiệp Ngài, trước khi Ngài tịch diệt không?

_Không, Ngài khuyên các đệ tử nên xem giáo pháp của Ngài như là thầy vậy.

Đức Phật tịch diệt bằng cách nào?

_Ngài đã đắc được Jhāna (thiền na) và tịch diệt không có một sự phiền não.

Đức Phật tịch ở nơi nào?

_Đức Phật tịch diệt tại Kusinarā.

Lúc tịch diệt, Ngài thọ được bao nhiêu tuổi?

_Ngài thọ được 80 tuổi.

Vào ngày rằm tháng nào?

_Vào ngày rằm tháng Vesak (tháng 5 dl).

Đức Phật tịch diệt trước Thiên chúa bao nhiêu năm?

_Năm 543 trước Thiên chúa.

Ngày nay chúng ta có thể thấy Đức Phật không?

_Có, vì Phật nói rằng: Ai thấy pháp bảo chính là thấy ta.

Thánh thể của Phật làm sao?

_Sau khi Phật tịch, thánh thể của Ngài được trà tỳ sau ba tháng.

Có gì xảy ra cho Xá lợi của Ngài?

_Xá lợi của Ngài được phân phát trong hàng đệ tử quí phái của Ngài.

Những Xá lợi này còn thấy được không?

_Còn, Xá lợi răng của Ngài còn được thấy tại chùa thờ răng ở Tích Lan.

Sau cuộc lễ trà tỳ có việc quan trọng nào xảy đến?

_Sau cuộc lễ trà tỳ bốn tháng kết tập lần đầu tiên họp lại đọc về Pháp bảo và Luật của Phật.

Cuộc kết tập này họp ở đâu?

_Cuộc kết tập này họp tại Rājagaha (Vương xá thành).

Ai chủ tọa cuộc kết tập đầu tiên này?

_Đại Đức Arahat Kassapa (Ca diếp).

Ai được chọn để đọc những điều luật và pháp bảo?

_Đại Đức Arahat Upali đọc Luật và Đại Đức Arahat Ananda đọc Pháp.

Vì sao phải họp để kết tập?

_Để cho giáo lý của Phật được tồn tại và vẫn nguyên ý chính của nó.

Tiếng Pāli nào để chỉ chung tất cả giáo lý của Đức Phật?

_Tipitaka có nghĩa là Tam Tạng (ba cái giỏ).

Bộ Tipitaka (Tam Tạng) này còn tồn tại không?

_Còn, Tipitaka vẫn còn tồn tại với nguyên ý.

Tipitaka được viết đầu tiên vào lúc nào?

_Tiputaka đầu tiên được viết ra ở Tích Lan vào năm 83 trước Thiên chúa.

Pitaka đầu tiên là tạng gì?

_Tạng đầu là Tạng Luật, bộ này nói về giới luật.

Tạng thứ hai là tạng gì?

_Tạng thứ hai là tạng Kinh, bộ này nói về những bài thuyết pháp.

Tạng thứ ba là tạng gì?

_Tạng thứ ba là bộ nói về những điều vi diệu “Tạng Luận” Abhidhamma.

Bộ Tam Tạng dày bao nhiêu?

_Dày độ mười một lần quyển Thánh kinh.

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang