" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 M-N-O-P

Mười pháp Ba la mật

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Quyển sách nhỏ nầy gom nhiều truyện ngắn, diễn tả Mười pháp Ba la mật (Pāramis) mà người Phật tử cần phải thực hành.
Mười pháp Ba la mật

 

CHUYỆN TÍCH PHẬT GIÁO

 

DIỄN TẢ

 

MƯỜI PHÁP BA LA MẬT

 

 

 

SOẠN GIẢ:

Đ.Đ. NARADA MAHA THERA


 

LỜI TỰA

Đạo Phật rất phong phú về truyện tích có tánh cách luân lý; các trẻ em lẫn người lớn có thể đọc để thưởng thức và thu thập nhiều điều lợi ích.

Quyển sách nhỏ nầy gom nhiều truyện ngắn, diễn tả Mười pháp Ba la mật (Pāramis) mà người Phật tử cần phải thực hành.

Sách nầy viết ra cốt để giúp ích các em học sinh, không may mắn được cung cấp đủ sách vở về Phật giáo.

Vấn đề tôn giáo giáo dục cho thế hệ thanh niên ngày nay không thể chểnh mảng được.

Tôi rất hoan hỉ được nhận thấy hàng thanh niên phật tử Việt Nam rất nhiệt thành mộ đạo, nhưng thương hại cho các em không có cơ hội thuận tiện để tìm tòi học hỏi cho thông suốt tôn giáo cao thượng của các em, nơi học đường cũng như trong gia đình.

Sự hoạt động của các Phật tử hướng đạo sinh ngày nay đã đem lại nhiều lợi ích cho các em.

Các em hướng đạo sinh cần có những cơ hội thuận tiện, chẳng những để các em học tập, thực hành và truyền bá Phật pháp, mà còn phải được giúp đỡ tổ chức các cuộc vui chơi, hoặc tham gia vào công việc từ thiện, cùng các công tác xã hội.

Cần phải xuất bản nhiều sách vở về Phật giáo cho các em.

Em Đàng Thị Tố Nga, pháp danh Nītā, đệ tử của tôi, hiện đang tùng học tại trường Đại học, đáng được khen ngợi về sự cố gắng lần đầu tiên của em, để phiên dịch ra Việt ngữ, quyển sách nầy, do tôi viết bằng Anh văn.

Chúng tôi rất cám ơn Ô. Nguyễn Văn Hiểu đã ra công sửa chữa bản dịch.

Xin hồi hướng phước báu đến Quí vị Thí chủ đã vui lòng ấn tống quyển sách nhỏ nầy cho các trẻ em.

NARADA

               Kỳ Viên tự - Saigon

                 1 – 12 – 59 / 2503


 

NAMO TASSA BHAGAVATO

ARAHATO SAMMĀ SAMBUDDHASSA

-----------------

SᾹSA JᾹTAKA

(Chuyện con Thỏ)

-----

Bố thí Ba la Mật (Dāna)

Một thuở nọ, Đức Bồ Tát sinh làm một con thỏ. Thỏ ấy có ba người bạn tốt: con khỉ, con chó sói và con rái cá, đều sống vui vẻ trong rừng. Thỏ là con vật khôn ngoan nhứt trong bốn con.

Chúng thường đi đây đi đó để tìm thức ăn, và trong mười ngày chúng gặp nhau một lần để nói chuyện với nhau về các điều thiện. Thỏ thường bảo các bạn nó rằng: Hỡi các bạn, các bạn nên giúp đỡ kẻ khác, nên bố thí, làm việc phước thiện, phải có giới hạnh, giữ cho đời sống được trong sạch.

Một ngày nọ nhằm ngày trăng tròn, thỏ mới bảo các bạn nó rằng: “Các bạn thân mến, mai nầy là ngày rằm, chúng ta hãy thọ bát quan trai cho trong sạch, nên trau dồi giới hạnh. Nếu có ai cần dùng chi đến ta, ta hãy sẵn sàng bố thí đến cho họ những gì mà ta có. Sự bố thí được thực hành cùng với sự trì giới thì phước báu nhiều lắm. Các bạn của thỏ đều tán thành ý kiến ấy và tất cả đều sẵn sàng bố thí ngày hôm sau. Thỏ tìm được một mớ cỏ, rái cá để dành được ít con cá, khỉ được vài quả xoài, chó sói tìm được vài con cá khô.

Đến ngày rằm, tất cả bốn con đều thọ giới. Thỏ nguyện rằng nếu có ai đến để xin vật thực thì nó sẽ vui sướng mà bố thí chính thịt của nó.

Chúng ta biết rằng khi ở thế gian nầy có người nào có giới hạnh thật trong sạch thì nơi chỗ ngồi của Đức Đế Thích sẽ nóng lên tức khắc. Thế nên vào ngày đó chỗ ngồi của Đức Đế Thích tự nhiên nóng do oai lực giới đức của con thỏ. Nhờ thiên nhãn thông, Ngài nhìn xuống thế gian và hiểu rõ nguyên do, và để thử lòng con thỏ, Ngài bèn biến thành một vị Bà La Môn, hiện đến con chó sói trước nhất.

Chó sói mới hỏi rằng: “Này thầy Bà la Môn, tại sao thầy lại đến đây?” Đức Đế Thích nói rằng: “Này bạn ôi! Nếu tôi có gì để ăn, tôi cũng sẽ giữ giới như bạn vậy”. Chó sói rất đỗi vui mừng khi nghe những lời ấy và nó vội vã tặng cho thầy Bà la Môn mấy con cá của nó. Đức Trời Đế Thích vội cám ơn nó, nói rằng bây giờ còn sớm và Ngài đi đến chỗ khác.

Đến con rái cá thì rái cá cũng sẵn lòng bố thí cho Đức Đế Thích, Ngài cám ơn nó và đi đến con khỉ. Khỉ cũng rất hoan hỉ mà bố thí đến Ngài. Sau cùng Ngài đi đến con thỏ và xin của bố thí. Thỏ rất vui mừng thấy cơ hội đã đến để thực hiện lời nguyện của nó. Đầy lòng hoan hỉ thỏ bảo: “Ôi thầy Bà la Môn hiền đức, thật là thầy có lòng tử tế nên đến tôi xin vật thực; tôi sẽ dâng cho thầy một vật mà trước đây tôi chưa hề cho”. Nhờ thầy vui lòng gom góp một mớ củi khô và nhúm cho tôi một đống lửa, rồi tôi sẽ vui sướng nhảy vào đấy để hiến cho thầy mạng sống của tôi. Khi thịt tôi vừa vàng xin thầy cứ tự tiện dùng, khi đó thầy có thể giữ giới được”.

Theo lời thỉnh cầu, đức Đế Thích bèn dùng thần thông biến ra một đống lửa đỏ hực. Lập tức thỏ đi tắm và rung mình ba lần để cho các con bọ chét ở mình nó văng ra để khỏi bị cháy, rồi chẳng chút sợ hãi, thỏ nhảy vào lửa đỏ.

Thật là một sự hy sinh phi thường; thỏ vui sướng mà hy sinh thân nó. Tuy là một con vật nhưng thỏ biết hy sinh chính bản thân cho kẻ khác; nó để yên cho các con bọ chét tự tiện hút lấy máu nó mà sống. Nhưng lạ lùng thay nó không hề bị cháy, thậm chí đến một sợi lông ở mình nó vẫn còn nguyên. Đức Đế Thích đã dùng phép thần thông cầm thỏ nơi tay Ngài để cứu mạng cho nó.

Muốn để cho chúng sinh ở thế gian nầy biết rõ hành động cao thượng của thỏ nên Đức Đế Thích vẽ ra một cái đấu giống hình con thỏ trên mặt trăng.

Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, đức Phật dạy rằng: “Khi kẻ nào đến ta để nhờ của bố thí, ta hy sinh cả tánh mạng của ta để cho người, không hề thoái thác chút nào cả. Đó là hạnh bố thí Ba la Mật của ta vậy”.

------------------------------

 

SAMKHAPᾹLA JᾹTAKA

(Chuyện con Rồng)

--------

Giới Ba la Mật (Sīla)

Một thuở nọ, Đức Bồ Tát sanh làm một con rồng. Rồng ấy sống trong cảnh giới của loài rồng (Nāgaloka), và vì không thích cuộc sống nơi ấy, nên thường lên đến thế giới nầy để thọ Bát quan trai, trong ngày rằm và 30, qua ngày hôm sau mới trở về.

Vào một ngày giới, rồng ta quấn tròn trong một ổ kiến ở vệ đường và nguyện rằng: “Nếu có người nào cần dùng đến da ta, thịt ta hay xương ta, ta sẽ vui lòng hiến cho họ”.

Cũng cùng một ngày đó, có 16 người thợ săn, tay cầm côn chỉa trở về không có con mồi nào cả. Thấy con rồng tưởng là rắn chúa, họ đến đập giết nó để mang về ăn thịt. Trước tiên, họ dùng côn đập để làm cho nó yếu đi. Rồng chẳng hề tỏ vẻ giận dữ. Nó có thể giết lại họ một cách dễ dàng, nhưng nó không muốn phạm giới dù phải hy sinh đến mạng sống. Nó vui lòng nhận chịu sự đau đớn không hề thù hận. Thân mình cuộn tròn lại chỉ để cái đầu phía bên ngoài, rồng nằm im không cựa động để mặc tình cho bọn thợ săn đánh đập.

Khi thấy nó đã kiệt sức, họ lấy dây xỏ qua lỗ mũi rồi kéo đi, ôi thật là biết bao đau đớn khổ sở, nhưng tuyệt nhiên nó không hề phẫn oán.

Vừa khi có một người lái buôn tên ALARA đi ngang qua với 500 cổ xe, thấy tình cảnh thương tâm của rắn mới động mối từ tâm, liền cho tiền và vật dụng đến đám người thợ săn tàn nhẫn ấy để cứu rắn ra khỏi cảnh cực hình.

Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, đức Phật dạy rằng: “Mặc dù bị đâm, bị đánh đập tàn nhẫn, ta không khi nào biết oán hận đám người thợ săn ấy. Đó là hạnh trì giới Ba la Mật của ta vậy”.

-----------------------------------

 

MAKHĀDEVA JĀTAKA

(Chuyện vua MAKHĀDEVA)

-----------

Xuất gia Ba la Mật (Nekkhamma)

Một thuở nọ đức Bồ Tát sanh làm Đông cung thái tử của một vị đại vương tên là MAKHĀDEVA. Khi vua cha thăng hà, thái tử nối ngôi và trị vì thiên hạ rất nghiêm minh chánh trực.

Theo dòng thời gian, đức vua trẻ tuổi càng ngày càng trở nên bậc có nhiều trí tuệ. Ngài không say mê theo các thú vui vương giả, vì Ngài đã ý thức rõ rệt sự phù hoa của nó. Ước vọng của Ngài là xa lánh trần tục để vào rừng tham thiền quán tưởng.

Một ngày nọ, Ngài bảo người thợ hớt tóc khi nào thấy một sợi tóc bạc trên đầu Ngài thì cho Ngài biết.

Đức vua bấy giờ đã già, mớ tóc xanh của Ngài cũng theo thời gian mà biến ra màu trắng bạc, thế nên người thợ hớt tóc thấy tóc bạc trên đầu Ngài mới tâu cho Ngài rõ. Đức vua muốn nhìn tận mắt sợi tóc bạc nên người thợ bèn dùng một đôi kẹp bằng vàng nhổ sợi tóc đưa cho Ngài xem. Đức vua thấy sợi tóc bạc mới nghĩ rằng: “Ôi đã đến lúc ta phải xuất gia tìm đạo vì tuổi già đã thắng ta rồi”. Ngài ra lịnh triệu tập tất cả quan và dân trong xứ và phán rằng: “Hỡi các thần dân thân mến, tóc bạc tuổi cao, trẫm đã già rồi, ý nguyện của trẫm bây giờ là xuất gia để vào rừng tham thiền quán tưởng. Hỡi các thần dân, hãy vui lòng mà thông cảm cùng ta”. Không người nào có thể cản ngăn ý định ấy. Trong lúc mọi người, từ hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa chí những thần dân đều than khóc mến tiếc, Ngài âm thầm rời khỏi hoàng cung ra đi, đi đến tận núi Hy Mã Lạp Sơn hoang vắng một hình một bóng; Ngài đi chẳng mảy may luyến tiếc.

Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, Ngài dạy rằng: “Ta xem cả một vương quốc của ta chẳng khác chi một bọt nước, ta đã thản nhiên xa lìa nó chẳng chút lưu luyến.

Đó là hạnh xuất gia Ba la Mật của ta vậy.

------------------------------------------

 

SENAKA JᾹTAKA

(Chuyện nhà học giả SENARA)

--------

Trí tuệ Ba la Mật (Paññā)

Một thuở nọ, đức Bồ Tát sanh trong một gia đình Bà la Môn, Ngài tên là Senaka. Ngài là một người có nhiều trí tuệ và thường hay khuyên bảo mọi người nên tìm sự an vui về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Thuở ấy có một ông Bà la Môn già, ông nầy vừa lãnh được một ngàn đồng tiền vàng. Ông đưa số tiền nầy cho một gia đình kia giữ giùm.

Không may những người trong gia đình ấy đã xài tiêu tất cả số tiền; để thay thế, họ bèn đưa người con gái trẻ kết duyên với ông. Người Bà la Môn này rất bằng lòng với sự đổi chác nầy. Đôi vợ chồng nầy sống trong hạnh phúc được một thời gian. Về sau người đàn bà độc ác ấy muốn sống một cuộc đời theo ý thích, nàng bắt buộc người chồng già phải đi tìm một người tớ gái. Nàng cho ông một mớ cơm rang và bột để làm vật thực cho cuộc hành trình, đi tìm cho ra một người tỳ nữ về cho nàng sai khiến.

Ông già bạc phước ấy bèn để đồ ăn vào một cái bị, lìa ngôi nhà thân mến ra đi. Ông đi lang thang từ nơi nầy đến chỗ nọ, dành dụm được chút đỉnh tiền. Một ngày kia, ông nghỉ chân dưới một gốc cây, lấy cơm ra ăn. Ăn xong, ông mới đến suối gần đấy để uống nước, nhưng ông vẫn để chiếc bị hở miệng không đậy lại. Vừa khi đó có một con rắn vì ngửi mùi bột nên bò vào trong bị. Uống nước xong, ông trở lại lấy chiếc bị đậy miệng lại; mang đi chẳng hề hay là có con rắn độc nằm trong ấy.

Có một vị Trời ở trên cây muốn làm cho mọi người biết cái trí tuệ của đức Bồ Tát, bèn bảo rằng: “Này ông Bà la Môn, nếu ông đi về nhà thì vợ ông sẽ chết, còn nếu ông ở lại dọc đường thì ông sẽ chết”. Ông Bà la Môn sợ hãi chẳng biết làm sao và ông cũng không hiểu ý nghĩa của những lời nói ấy. Cũng may ngày ấy nhằm ngày rằm. Dân chúng tụ hợp rất đông để nghe nhà học giả Senaka thuyết pháp. Ông Bà la Môn đến nơi, tìm một chỗ ngồi trong một góc phòng mà khóc.

Nhà học giả Senaka thấy ông khóc mới tìm biết nguyên do, Ngài dùng thiên nhãn thông thấy rõ mọi việc đã xảy ra, Ngài bảo một người mang đến một cây gậy để giở chiếc bị ra. Lập tức con rắn từ từ bò ra. Con rắn bị đuổi đi và chẳng hề bị làm hại, ông Bà la Môn được cứu khỏi chết do nhờ trí tuệ của đức Bồ Tát.

Sau khi thành bậc Chánh đẳng, Chánh giác, đức Phật dạy rằng: “Do nhờ trí tuệ, ta đã cứu người Bà la Môn khỏi chết. Về mặt trí tuệ không ai bằng ta cả.

Đó là hạnh trí tuệ Ba la Mật của ta vậy”.

--------------------------------------

 

KALANDAKA JᾹTAKA

(Chuyện con sóc)

-------

Tinh tấn Ba la Mật (Viriya)

Một thuở nọ đức Bồ Tát sanh làm một con sóc. Sóc ấy sống với ba con sóc con trong một cái tổ trên cây gie ra biển. Một ngày kia, bão tố nổi lên làm cho nhánh cây gãy rơi xuống biển, tất cả ba con sóc con đều té xuống nước. Con sóc cha bèn nghĩ cách làm cho biển cạn để vớt chúng lên, cho nên nó cố sức tát biển bằng chiếc đuôi lông xù của nó.

Thấy hành động gương mẫu ấy, Đức Đế Thích bèn đến gần hỏi: “Sóc kia mi làm gì đó?” Sóc nói rằng: “Tôi đang cố sức tát cho biển cạn để cứu con tôi”.

Đức Đế Thích cười mà bảo: “Ôi sóc ơi, mi không thể nào làm việc ấy nổi. Làm cách nào để cho biển cạn được, đừng có điên rồ như vậy”. Sóc cương quyết trả lời: “Xin Ngài đừng nói thế, Ngài vui lòng đi đi, tôi có đủ can đảm và nghị lực để làm việc ấy cho đến khi nào tôi thành công”.

Đức Đế Thích rất hoan hỷ mà thấy ý chí cương quyết của Sóc, nên Ngài vớt các con sóc con lên và trả lại cho cha chúng.

Đầy sự yêu thương và khen phục, Ngài dùng 3 ngón tay để vuốt ve lưng con sóc, vì thế nên tất cả các con sóc đều có 3 cái sọc ở trên lưng, đó là kết quả của sự vuốt ve của đức Đế Thích.

------------------------------------

 

MAHĀ JANAKA JᾹTAKA

(Chuyện ông thương gia Janaka)

--------

Tinh tấn Ba la Mật (Viriya)

Thuở nọ, Đức Bồ Tát sanh làm một lái buôn tên là Janaka, ông nầy là người rất thích sống cuộc đời phiêu lưu mạo hiểm, nên vượt biển đi tìm nguồn lợi, rủi thay đi đến giữa biển thì bị chìm tàu, một số người không biết lội nên bị chết đắm, một số khác thì cầu trời khẩn Phật phù hộ cho khỏi chết. Chỉ riêng có đức Bồ Tát rất tự tín, Ngài hiểu rằng mình nên nương nhờ riêng mình, nên Ngài tẩm dầu đầy mình mẩy và leo lên cột tàu rồi nhảy xuống thật xa, xa khỏi bầy cá mập đang bu lại chực ăn thịt các người bị chết đắm. Ròng rã bảy ngày, Ngài cố sức bơi mãi mà chưa thấy bờ bến. Đến ngày thứ tám, Ngài vẫn chơi vơi nơi biển cả, mặc dù thế Ngài vẫn tinh tấn thọ trì Bát quan trai giới. Một vị Thiên nhìn thấy Ngài đang cố sức tranh đấu với tử thần bèn hiện ra và cho Ngài một dĩa vật thực. Vì quá ngọ nên Ngài lễ phép từ chối dù đã bảy ngày Ngài chưa ăn gì. Để thử người lái buôn Janaka, vị Thiên cố nói để làm cho chàng ngã lòng, bảo rằng chàng đang làm một việc hoài công vô ích vì bờ chẳng thấy đâu cả.

Đức Bồ Tát đáp lại rằng: Đấy không phải là một điều nhục nhã khi tôi đã gắng công làm việc ấy dù tôi biết rằng sẽ thất bại; nhục là khi nào tôi không gắng sức, để tự cứu rỗi thân tôi cho đến cùng.

Vị Thiên rất hoan hỉ với chí khí cao thượng và đức kiên nhẫn của Bồ Tát nên cứu Ngài thoát khỏi lượng nước có thể làm mồ chôn một người can đảm như Ngài, Ngài được đưa về nhà bình yên vô sự.

Do nhờ lòng tự tín và tự cường, đức Bồ Tát được tưởng thưởng một cách xứng đáng trong khi những người khác chỉ biết có cầu nguyện nên bị chết một cách thảm thương.

Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, Đức Phật dạy rằng: “Ở giữa biển cả bao la không thấy bờ bến, tất cả mọi người đều chết đắm chỉ có ta vẫn tự tín.

Đó là hạnh tinh tấn Ba la Mật của ta vậy”.

-----------------------------------

 

KHANTIVĀDI JᾹTAKA

(Chuyện thầy đạo sĩ Khantivādi)

-------------

Nhẫn nại Ba la Mật (Khanti)

Một thuở nọ đức Bồ Tát sanh làm một thầy đạo sĩ, Ngài đang ngồi thiền định dưới một cội cây trong một ngôi vườn của đức vua. Ngài ở đây do lời yêu cầu của một viên quan tể tướng của nhà vua.

Một ngày nọ đứa vua ngự ra vườn thượng uyển cùng với cung tần mỹ nữ. Trong lúc say sưa, Ngài ngủ mê trong lòng một nàng hầu duyên dáng nọ. Thấy Ngài đang say ngủ, các nàng khác bèn lén đi đến thầy đạo sĩ để nghe Ngài giảng đạo.

Đức vua thức dậy mới hay rằng các cung phi mỹ nữ đều lẻn đến thầy đạo sĩ để nghe thuyết pháp, Ngài bừng bừng nổi giận và đi đến thầy đạo sĩ vô tội kia để chất vấn bằng một giọng hết sức hằn học: “Này, thầy đạo sĩ, thầy đang giảng dạy gì đấy?”

_Tâu hoàng thượng, tôi đang giảng về đức nhẫn nại, thầy đạo sĩ trả lời một cách trầm tỉnh.

_Thế nào là nhẫn nại?

_Nhẫn nại là không bao giờ giận hờn oán ghét khi mình bị hành hạ hoặc bị đánh đập.

_Được, để ta xem lòng nhẫn nại của người ra sao?

Đức vua liền truyền lịnh cho quân hầu lôi ông xuống đất và đánh ông bằng roi gai.

Thầy đạo sĩ vô tội kia bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi rách cả da, toàn thân đẫm máu. Nhưng thầy vẫn luôn luôn hành pháp nhẫn nại của thầy, thầy kiên tâm chịu mọi cực hình.

_Thầy đạo sĩ kia, thầy còn hành pháp nhẫn nại của thầy nữa thôi?

_Tâu bệ hạ, hạ thần vẫn còn hành pháp nhẫn nại.

Thấy thế nhà vua bèn truyền chặt cả hai tay và hai chân của thầy và hỏi lại lần nữa, và bao lần hỏi thì bao lần cũng cùng một câu trả lời thốt ra nơi miệng thầy đạo sĩ.

Đầy sự phẫn nộ, nhà vua hạ lịnh cắt cả mũi và tai thầy đạo sĩ, quân hầu vâng lời thi hành mệnh lệnh. Với một thân hình cụt cả chân tay, thầy đạo sĩ nằm sòng sượt trên vũng máu. Nhà vua hỏi lại lần nữa.

_Thầy đạo sĩ kia, vậy chớ thầy còn hành pháp nhẫn nại của thầy nữa không?

_Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ đừng nghĩ rằng sự nhẫn nại của hạ thần ở trong da, trong tay hoặc chân của hạ thần, hay sự nhẫn nại ở trong lỗ mũi, lỗ tai của hạ thần. Nhẫn nại của hạ thần ở trong tâm cang của hạ thần. Với oai thần tối thượng của bệ hạ, bệ hạ có thể làm đau đớn xác thân của hạ thần được.

Thầy đạo sĩ trả lời một cách trầm tỉnh và không mảy may oán ghét đức vua, cũng không nhìn nhà vua với đôi mắt thù hằn. Trái lại lòng căm giận của nhà vua thì không bờ bến. Điên cuồng bởi sự sân hận, nhà vua nhẫn tâm đạp gót giày vào ngực người đạo sĩ. Thương thay máu từ miệng người đạo sĩ tuôn ra xối xả.

Vị Tể tướng, người đã thỉnh thầy đạo sĩ, nghe tin thầy đang ở trong tình cảnh thê thảm như vậy vội vàng đi đến nơi. Lập tức ông lấy thuốc xức vào chỗ bị thương và cầu xin thầy chớ nên nguyền rủa nhà vua.

Thầy nói: “Người đã chặt đứt chân tay ta, mũi và tai ta, cầu xin cho người được sống lâu sức khỏe! Ta không bao giờ oán hận.”

Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, đức Thế Tôn dạy rằng: “Dù cho ta bị đâm chém bởi các thứ búa rìu sắc bén, ta vẫn không hề nao núng, ta chẳng chút oán hận đức vua Kasi.

Đó là hạnh nhẫn nại Ba la Mật của ta vậy.”

------------------------------------

 

Chuyện đức vua Mahāsutasoma

----------

Chân thật Ba la Mật (Sacca)

Một thuở nọ, đức Bồ Tát sanh làm một vị vua tên là Sutasoma. Cũng vào thời ấy có một người ăn thịt người tên là Porisada. Trước kia, ông cũng là một vị vua nhưng phải một tật xấu xa ăn thịt người nên ông bị bắt buộc ra khỏi vương quốc. Dưới một cội đa to trong khu rừng nọ, ông sống toàn bằng thịt người.

Một hôm kia, chân ông bị gai đâm và ông phải chịu nhứt nhối trong một thời gian khá lâu do vết thương làm độc. Ông mới vái chư thiên ở trong cây cối rừng rậm nếu vết thương ông được lành, ông sẽ trả lễ bằng sanh mạng cả 100 nhà vua. Chẳng bao lâu nhờ sự nhịn ăn và nghỉ ngơi nên vết thương lành hẳn. Nhưng theo ông thì ông cho đây là do nhờ lòng tốt của chư thiên. Rồi để giữ lời nguyện trước, ông bèn đi bắt được 101 vị vua, sắp hàng có thứ tự, rồi tế lễ cho thần linh. Vị Thiên cảm thấy phật ý về sự tế mạng người như vậy, cho nên để ngăn cản ý nghĩ ấy, Ngài bèn hiện ra trước mặt Porisada và đòi cho được đức vua Sutasoma làm vật hy sinh. Porisada chẳng để chậm trễ giây phút nào liền đi bắt vua Sutasoma. Ông đến ngay ao mà thường ngày đức vua ra tắm. Khi vua tắm xong, ông Porisada chạy ngay đến và hét lên rằng ta đây là Porisada, rồi vác vua Sutasoma lên vai mà chạy.

Vua Sutasoma chẳng có chút gì sợ hãi, nhưng cảm thấy buồn vì không giữ đúng được một lời hứa. Vì trên con đường đi ra ao tắm, tình cờ vua gặp một vị Bà la Môn, vị nầy muốn đọc cho vua nghe 4 câu kinh. Vua bèn đưa vị Bà la Môn vào đền và hứa sẽ trở lại nghe vị nầy đọc, thế nên vua nhắc với Porisada lời hứa ấy. Porisada cho phép vua đi về, với điều kiện là phải trở lại để làm vật tế lễ. Riêng Porisada, ông cũng không muốn giết đức vua bởi vì hai người cũng là bạn với nhau lúc còn nhỏ và ông lại còn mang ơn nhiều của đức vua, thế nên mặc dù ông bảo trở lại, nhưng sự thực ông cho phép đi, không chờ mong vua trở lại. Đức vua Sutasoma trở về hoàng thành nghe lời vàng ngọc của vị Bà la Môn xong, Ngài dâng vật dụng đến vị Bà la Môn ấy. Rồi Ngài liền triệu các quan cận thần đến để kể cho họ nghe lời Ngài đã hứa với Porisada. Tất cả triều thần đều khuyên không nên đi, vì thế nào Ngài cũng bị giết. Nhưng là một vị Bồ Tát, Ngài phải giữ đúng lời hứa. Ngài giao vương quốc lại và lìa khỏi hoàng cung ra đi để giữ tròn chữ tín, mặc dù tất cả triều thần, quyến thuộc của Ngài khóc lóc kêu van.

Trong khi đó thì Porisada đã sẵn sàng nhúm một đống lửa to để làm lễ tế mạng người. Đức vua Sutasoma đi đến vừa đúng lúc và đứng trước mặt ông. Porisada rất đỗi kinh ngạc nhìn thấy Ngài. Ông bảo: “Tôi đã tha cho Ngài, Ngài biết rằng Ngài khỏi phải đến đây nữa, và Ngài cũng biết chắc rằng Ngài đến đây thì sẽ bị giết. Tại sao Ngài trở lại đây?”

_Này Porisada, theo ý ông, trẫm đến đây là trẫm làm một việc điên rồ. Nhưng trẫm xứng đáng với lời nói, trẫm đã hứa sẽ đến thì bây giờ trẫm đến. Trẫm tôn trọng lời hứa của trẫm hơn là sinh mạng của trẫm. Bây giờ ông có thể tế trẫm được rồi.

Porisada rất bằng lòng những lời của người bạn cũ. Ông ước ao đức vua sẽ nói thêm nữa, nên ông ngồi ngay dưới chân đức vua để nghe những lời khuyên nhủ. Thế rồi đức Bồ Tát thuyết pháp cho ông nghe. Tánh thiện bản sinh của ông tự nhiên phát dậy và ông trở nên một người hoàn toàn thay đổi.

Ông bèn bỏ hẳn ý định tế lễ 101 vị vua và tha chết cho tất cả, lại đưa về vương quốc. Còn ông, ông cũng về ngôi báu trị vì thiên hạ rất chánh trực.

“Nhờ giữ lời nói chân thật mà ta hy sinh cả mạng ta để cứu sống 101 vị vua.

Đó là hạnh chân thật Ba la Mật của ta vậy”.

--------------------------------

 


 

Chuyện thái tử Temiya Jātaka

------------

Nguyện ba la mật (Adthitthāna)

Do quả của các nghiệp ác, một thuở nọ đức Bồ Tát sanh trong một hoàn cảnh khổ. Sau khi đền tội xong, Ngài tái sanh làm một vị thái tử tên là TEMIYA hay là MŪGHAPAKKHA. Khi Ngài được một tháng nằm trong lòng của phụ vương, Ngài để ý thấy vua cha sẽ đem 4 kẻ cướp ra trừng trị. Dù còn nhỏ, Ngài cũng biết rằng vua cha phải tạo nghiệp ác trong lúc trị vì thiên hạ.

Ngày hôm sau, trong khi nằm ngủ trên long sàn, thình lình Ngài nhớ lại kiếp quá khứ của Ngài và Ngài biết khi lớn lên phải nối nghiệp vua cha, rồi sẽ sanh vào cảnh giới khổ do nghiệp ác phải tạo trong lúc làm vua. Do đó Ngài nhất quyết trốn thoát khỏi vòng kế tập của Hoàng triều.

Có một vị nữ thần đang hộ trì thái tử và cũng là mẹ của thái tử kiếp trước khuyên Ngài như vầy: “Nầy con yêu quí, nếu con muốn được khỏi làm vua, con hãy giả đò như một người què, mặc dù con không què; con hãy giả đò như một người câm, mặc dù con không câm; con hãy giả đò như một kẻ điếc, mặc dù con không điếc.

Thái tử nhận những lời khuyên bảo ấy và nguyện sẽ thực hành y như vậy. Ngài phải chịu đau đớn khổ sở nhiều, nhưng Ngài vẫn không hề thay đổi ý nguyện. Trong 16 năm, Ngài hành đúng theo lời khuyên bảo.

Vua cha và hoàng hậu đến bên thái tử bảo: “Này Temiya con yêu quí, cha mẹ biết con không có què, không điếc và cũng không câm, mặt mũi tai và tứ chi của những người què, câm, điếc không giống như mặt mũi tay chân của con. Cha mẹ ao ước được con, giờ đây đã được rồi, con ôi, con đừng nên làm nhục cha mẹ, hãy giữ lấy danh tiếng của cha mẹ, con ạ.”

Thái tử Temiya vẫn yên lặng, giả đò như chẳng nghe được lời nào cả. Đức vua không thể chịu được cái nhục nầy lâu hơn được, Ngài nổi giận, truyền đem thái tử để lên xe tang đi cửa sau đem chôn sống thái tử. Hoàng hậu rất đau khổ, bà nhớ lại bà có được một đặc ân của đức vua trong ngày sanh thái tử, nên bà liền đến đức vua để nhắc cho vua nhớ đặc ân mà vua đã ban cho bà, bà xin vua hãy để cho thái tử lên ngôi trong 7 ngày thôi.

Rất khó khăn bà mới được đức vua bằng lòng, bà van xin thái tử hãy thay đổi thái độ đó đi. Bà van xin như thế trong 6 ngày liên tiếp, nhưng vô hiệu quả. Đến ngày thứ 7, đức vua ra lịnh cho người thị vệ rằng: “Ngày mai mi hãy chở đứa con ngỗ nghịch nầy ra bãi tha ma, rồi mi đào một cái huyệt, dịp cho bể đầu nó ra rồi chôn nó đi.

Hoàng hậu không thể chịu nổi nghiêm lịnh ấy, bà bèn cho thái tử hay, nhưng thái tử vẫn thản nhiên khi nghe hung tin ấy. Ngài vui vì biết chí nguyện của Ngài sắp có kết quả sau 16 năm trời. Nhưng cõi lòng của hoàng hậu hầu như tan nát vì đau đớn. Y lịnh truyền, người thị vệ chở thái tử ra khỏi hoàng cung, mặc cho hoàng hậu khóc lóc than van. Đây là giây phút đắn đo suy nghĩ của thái tử, Ngài nhìn mẫu hậu mà nghĩ thầm rằng: “Giờ đây nếu ta không nói thì tất nhiên mẫu hậu ta đau đớn khổ sở vô ngần, còn nếu ta nói thì sở nguyện trong 16 năm trời nay trở nên vô ích. Do bởi sự lặng thinh của ta, ta sẽ đem lại sự hạnh phúc cho song thân ta”.

Trong giây phút đó, thái tử nghĩ đến lời nguyện của Ngài hơn là sự đau khổ của người mẹ. Sự khắn khít với lời nguyện của Ngài mang lại kết quả là an vui cho tất cả.

Người thị vệ chở Thái tử trên chiếc xe tang đem đi đến bãi tha ma, cho xe ngừng lại. Để Thái tử nằm trên xe, người thị vệ bắt đầu đào huyệt. Trong khi đó thì Thái tử đứng dậy leo xuống xe và đi đến gần người ấy. Người thị vệ rất đỗi kinh ngạc và phát giác ra rằng Thái tử là người mạnh khỏe và cường tráng.

Thái tử nhất quyết ở lại nơi rừng để tham thiền, bảo người thị vệ trở về hoàng cung tâu với đức vua tất cả tự sự. Thái tử sống cuộc đời của thầy đạo sĩ và có nhiều người khác theo Ngài.

“Ta chẳng hề ghét cha mẹ ta hay hãnh diện với sự chiến thắng của ta, nhưng ta chỉ mong chứng được đạo quả Chánh giác, đấy là nguyện Ba la Mật của ta vậy”.

-------------------------

 

Chuyện Thái Tử Dhammapāla

-------

Từ bi Ba La Mật (Mettā)

Thuở xưa có một vị vua tên là Mahā Ratapa; hoàng hậu là bà Candra Devi. Đức vua và hoàng hậu có một người con quý là thái tử Dhammapāla. Thái tử chính là đức Bồ Tát của chúng ta vậy.

  Trong ngày sanh thái tử, dân chúng toàn xứ đều vui mừng khôn xiết. Vua cha cũng rất hoan hỉ, nhưng Ngài là một vị vua có tính kiêu căng tự đắc và hay ganh tị. Lòng hung ác của vua vô bờ bến.

  Một ngày nọ, hoàng hậu đang đặt thái tử nằm trong lòng nựng nịu, thì đức vua cũng đi ngang qua đấy. Hoàng hậu không thể nào đứng dậy để chào hỏi đức vua được vì thái tử đang nằm trong lòng bà. Đức vua rất đổi giận vì cử chỉ vô lễ ấy, Ngài đi lên lầu trên hoàng cung và gọi một đao thủ đến. Phủ vãi đỏ, tay cầm một cái rìu to, đao phủ nhanh nhẹn đến trước đức vua chờ lệnh: “Kẻ thù của ta trong hoàng cung này là Dhammapāla, nắm chân nó kéo lôi đến đây cho ta. Nhà vua ra lệnh một cách điên cuồng. Đao thủ vâng lệnh đi ngay đến bà hoàng hậu, xin lỗi bà rồi xách chân thái tử kéo lôi dưới đất. Quá đau đớn, Hoàng hậu bèn chạy đến khóc và xin đức vua hãy trừng trị Bà vì chính Bà không tỏ ra kính trọng đức vua chớ không phải đứa bé vô tội này. Đức vua vẫn không dịu cơn phẫn nộ. Sân hận và ganh tị đã ngự lấy Ngài, Ngài ra lệnh cho đao thủ chặt đứt tay và chân của thái tử. Chẳng chút thương xót, đao thủ chặt hai tay và hai chân của thái tử bé bỏng kia. Hoàng hậu liền lượm các cánh tay và chân rơi ra ôm xiết vào lòng, nói với đức vua rằng: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ cũng biết tình mẫu tử sâu rộng là dường nào, bệ hạ ban ơn cho thần thiếp được phép giữ lại tấm thân tàn tật của đứa bé này, thần thiếp sẽ đội ơn bệ hạ muôn vàn”.

  Vốn có một trái tim sắt đá, đức vua không hề rung động trước những lời lẽ đáng thương của hoàng hậu. Rồi Ngài truyền một lệnh rất tàn nhẫn rằng: “Hãy mang đứa nhỏ này đi đến một ngã tư đường rồi giết nó đi, lấy thanh gươm đâm thủng tim nó”. Thật là một ông vua vô nhân đạo. Thái tử lúc bấy giờ mới có được 7 tháng. Mặc dù là một đứa bé vẫn còn bú, nhưng Thái tử tỏ ra một người vì Ngài sẽ là một vị Phật Tổ Vị Lai. Trong lòng Ngài không bao giờ chất chứa sự hiểm độc, trái lại Ngài luôn luôn trải tâm từ bi đến tất cả chúng sinh. Ngài tự nghĩ: “Này Dhammapāla, đấy là một cơ hội tốt để ngươi hành pháp từ bi của ngươi. Đứng trước ngươi là cha ngươi, người đã nhẫn tâm hạ lệnh giết ngươi chết. Bên cạnh ngươi là đao thủ đã sẵn sàng để hạ sát ngươi. Kế đó là người mẹ đau khổ của ngươi, tấm lòng gần như tan nát. Chính giữa là ngươi trơ trọi không ai giúp ngươi cả. Ngươi hãy thương yêu mẹ ngươi, nhưng đối với cha ngươi, ngươi hãy yêu hơn nữa. Mẹ ngươi chỉ khóc cho số phận của ngươi, chính cha ngươi đã cho ngươi một cơ hội tốt để ngươi thực hành pháp từ bi của ngươi. Hãy rải tâm từ bi đều cho tất cả 4 người: Cầu xin cho phụ vương, mẫu hậu tôi và người đao thủ tránh khỏi mọi sự rủi ro, mọi sự khổ não, mọi tật bệnh và được an vui hạnh phúc; cầu xin cho tôi trở nên một vị Phật tổ vị lai do nhờ oai đức của lòng từ bi của tôi”.

  Thái tử Dhammapāla bị giết, nhưng lòng từ bi vô lượng vô biên của Ngài thắng tất cả.

------------------------------------

 

CHUYỆN ÔNG SĀMA

-----------

Từ bi Ba la Mật ( Mettā)

  Một kiếp nọ, đức Bồ Tát sanh làm một người tên là Sāma, sống với cha mẹ già trong một khu rừng. Ngày nọ cha mẹ ông đi tìm thức ăn, nhưng sao không thấy về. Sāma rất lo lắng nên đi kiếm cha mẹ gọi về. Hai ông bà nghe tiếng của đứa con yêu quý bèn bảo rằng: “Con ơi con đừng đến gần cha mẹ, cha mẹ bị mù vì hơi độc của con rắn xông lên. Sāma vô cùng đau đớn nghe những lời ấy. Ông bỗng nhiên khóc ròng xong rồi lại cười. Lập tức ông lấy một cái cây dài làm gậy rồi đưa đến cha mẹ ông. Nhờ cây gậy ông bà lần mò đi đến Sāma và hỏi nguyên do tại sao lúc đầu con khóc rồi lại cười? Ông trả lời rằng sở dĩ ông khóc là vì ông thấy tai nạn xảy đến cho cha mẹ, ông cười vì ông thấy đây là cơ hội để ông giúp đỡ cha mẹ ông.

  Sāma an ủi hai ông bà rồi đưa về nhà. Bây giờ ông lo săn sóc phụng dưỡng cha mẹ rất đầy đủ vì ông yêu cha mẹ ông lắm. Nhờ lòng từ bi rộng lớn cho nên cả thú vật ở rừng cũng coi ông như bạn chúng, do đó ông sống yên vui chẳng chút sợ hãi.

  Một ngày kia ông cùng vài con nai con đi đến cái ao kế cận để múc nước cho cha mẹ ông uống sau bữa ăn, thì có một ông vua đi săn nai, thấy ông trẻ tuổi dễ thương, bèn dùng tên độc bắn ông để áp phục ông. Ông bị tên vừa lúc ông đặt bình nước lên vai. Không chút hoảng hốt, ông đặt bình nước xuống đất và ngả đầu về hướng cha mẹ ông. Nằm xuống đất ông nói một cách xót xa rằng: “Ta có làm thiệt hại ai trong khu rừng vắng vẻ u tịch này không? Đối với tất cả chúng sinh ở đây ta luôn luôn đầy lòng từ bi bác ái. Ta chẳng chút quan tâm đến cái chết của ta, ta chỉ buồn cho cha mẹ ta chẳng ai giúp đỡ, cha mẹ ta có thể chết khát vì không có nước”.

  Đầy sự hối hận, ông vua tội lỗi kia đến gần Sāma hỏi thăm cha mẹ để vua đến thuật chuyện lại cho ông bà rõ. Lập tức ông bà đến nơi khóc kể, sờ mình con thấy còn nóng liền chú tâm phát nguyện rằng: “Do nhờ năng lực của pháp Từ Bi Bác Ái mà vợ chồng chúng tôi thực hành hằng ngày, cầu xin cho đứa con yêu quý sống lại”. Liền đó ông Sāma tỉnh lại và mạnh khỏe như thường.

  Sau khi thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, đức Phật dạy rằng: “Không có người nào làm cho ta kinh hãi cả, và ta cũng không khi nào biết sợ sệt chi cả. Do nhờ lòng từ bi trợ sức, ta đã tìm được nguồn vui ở giữa rừng u tịch”.

----------------------------------

 

Chuyện ông LOMAHAMSA

----------

Xả Ba la Mật (Upekkhā)

  Một thuở nọ, đức Bồ Tát sanh trong một gia đình quý tộc rất giàu có, Ngài tên là Lomahamsa. Đến tuổi trưởng thành Ngài đã thấu hiểu thế nào là sự phù hoa của các thú vui trần thế. Ngài nghĩ rằng nếu Ngài làm một thầy đạo sĩ, dân chúng sẽ biết đến Ngài nhiều, sẽ kính trọng Ngài. Ngài bèn nhất quyết lìa khỏi gia đình để đi từ nhà này sang nhà khác, nơi này đến nơi khác để hành pháp xả của Ngài.

  Ngài ra khỏi nhà vẻn vẹn có một bộ đồ che thân, Ngài sống một cuộc đời đạo sĩ đi lang thang tìm mọi cơ hội để thực hành pháp xả. Ngài chọn ở lâu những nơi nào mà Ngài là đầu đề cho các sự chế diễu chọc phá, và các sự hành hạ khổ sở. Mục đích của Ngài giữ tâm bình thản với sự được hay mất, khen hoặc chê, danh dự hay nhục nhã, hạnh phúc hay đau khổ, Ngài đã thành công trong chí nguyện của Ngài.

  Ngài đi đến một nơi có những trẻ con mất dạy, thích chọc phá và đánh đập kẻ khác, nhất là các bậc già cả. Đức Bồ Tát nghĩ rằng đây là nơi tốt cho Ngài thực hành pháp xả.

  Các trẻ con rất vui sướng vì nó tìm được một người thích hợp với trò chơi quái ác của chúng, chúng chọc phá Ngài và Ngài làm ra vẻ không bằng lòng chúng về các hành động mất dạy ấy. Thấy thế chúng lại làm già tới. Vì bị nhiều đau đớn, nên Ngài lần hồi đi đến một nghĩa địa và ngủ ở đấy, dùng xương người làm gối. Các trẻ con vây quanh bắt Ngài chịu mọi điều sỉ nhục, mang lại nhiều lợi ích cho sự thản nhiên của Ngài. Thiên hạ, đàn bà và đàn ông kéo đến tỏ lòng tôn kính và khâm phục Ngài.

  Ở mọi hoàn cảnh, đức Bồ Tát đều thực hành pháp xả của Ngài, tâm Ngài không hề dời đổi.

  “Bất cứ lúc nào tâm ta luôn luôn bình thản dù bị đau khổ hay được hạnh phúc, được khen hay bị chê. Đó là hạnh xả Ba la Mật của ta vậy”.

-----------------------


 

Chuyện của Đức Bồ Tát với con cọp cái VYĀGHRI

--------------

  Thuở xưa có một ông vua tên là Dasatatha, Ngài rất hiền từ, có ba người con rất hiếu thảo là: Maha Prasada, Maha Deva và Mahasativa.

  Vào một ngày quang đãng nọ, đức vua cùng với các hoàng tử và đoàn tuỳ tùng đi dạo trong rừng. Các vị hoàng tử trẻ tuổi vì mải mê các bông hoa đẹp, các cây cối nên lần lần tiến sâu vào trong rừng rậm.

  Đoàn tuỳ tùng thấy vắng mặt các hoàng tử nên tâu tự sự lại cho nhà vua rõ. Ngài truyền cho các quan cận thần đi tìm, còn Ngài thì trở lại hoàng cung. Ba vị hoàng tử đi mãi trong rừng đến tận một đỉnh núi nọ. Từ đấy vị hoàng tử lớn nhất nhận thấy một con cọp cái với năm con cọp con, đói quá đến gần chết. Đã 7 ngày ròng rã từ lúc sanh, cọp cái chẳng có chút gì để ăn cả. Các con cọp con đến nút sữa mẹ chúng nó, nhưng không tìm được gì để dịu bớt sự đói của chúng nó, chúng quanh quẩn mẹ và nhìn gương mặt buồn bả của mẹ chúng. Than ôi, vì đói quá, cọp cái bèn nghĩ tới việc ăn thịt con nó. Nhưng sau nó hiểu như vậy là xấu xa lắm, nó sa nước mắt.

  Vị hoàng tử lớn nhất thấy cảnh tượng đáng thương ấy, con cọp cái vì đói quá muốn ăn thịt cả con nó. Hoàn cảnh thật đáng thương biết bao! Các anh ơi, vậy chớ đồ ăn chính của chúng là thứ gì, thái tử Mahasativa hỏi?

  Thái tử Maha Prasada trả lời rằng: “Đồ ăn chính của chúng là thịt và máu (cọp, sư tử, gấu).

  Còn thái tử Maha Deva nhận thấy rằng: “Con cọp cái bây giờ thật là yếu. Chắc chắn là nó thiếu đồ ăn đã mấy ngày qua. Cao thượng thay nếu người nào có thể hy sinh tính mạng cho chúng. Nhưng ai có can đảm làm việc ấy?” Chắc chắn là không ai dám cả”, thái tử Maha Prasada bảo thế. Riêng thái tử Mahasativa với giọng nói nhân từ bảo rằng: “Tôi thiếu trí thông minh. Người ngu dốt như chúng ta không thể nào hy sinh tánh mạng chúng ta cho kẻ khác. Nhưng vẫn có người đầy lòng vị tha, với lòng bác ái vô lượng vô biên, họ có thể làm việc ấy được”.

  Rồi họ bàn cãi với nhau một lúc, nhìn lại lần chót con cọp cái xong họ đi.

  Thái tử Mahasativa tự nghĩ thầm rằng: “Ta phải hy sinh tấm thân vô thường này đến cho con cọp đói ấy. Tấm thân này thật đáng gớm ghiếc, nó là nguồn gốc của sự già, sự chết. Người ta có thể trang điểm thoa vật thơm cho nó, nhưng về sau nó sẽ trở nên hôi thúi và tan rã”.

  Nghĩ như thế Ngài bèn bảo hai người anh cứ tiếp tục đi về đi, còn Ngài, Ngài sẽ vào lại trong rừng vì một vài lý do nào đó.

  Rồi Ngài lần bước đến nơi con cọp cái, Ngài tháo tất cả đai cân châu ngọc treo trên cây rồi lại nghĩ: “Ta hãy làm cho kẻ khác được hạnh phúc. Phải có bác ái đối với tất cả chúng sanh. Giúp đỡ kẻ khác là bổn phận cao cả nhất của ta. Giờ đây ta hãy hy sinh tấm thân ghê tởm này để cứu sống con cọp cái và năm con của nó. Do nhờ phước báo này cầu xin cho ta đắc được quả Toàn giác Phật để cứu độ chúng sanh ra khỏi cảnh luân hồi. Cầu xin cho tất cả chúng sanh đều được an vui hạnh phúc”.

  Do lòng bác ái thúc đẩy và bởi tinh thần giúp đỡ kẻ khác, thái tử chẳng chút sợ hãi nhảy từ sườn núi xuống chỗ con cọp cái, nhưng kết quả là Ngài không chết. Con vật kia rất thương hại đến đức Bồ Tát, chẳng hề đá động đến thân Ngài. Còn đức Bồ Tát thì nghĩ rằng con vật vì quá yếu nên không thể cắn xé Ngài được vì thế nên người đi tìm món khí giới cho nó. Ngài bẻ một cây tre đến nơi con cọp rồi cắt cổ chết trên vũng máu.

  Con cọp đói bèn uống ngon lành máu của Ngài rồi ăn thịt của Ngài luôn.

  Câu chuyện được thêm rằng trong lúc đức Bồ Tát hy sinh tính mạng như thế thì trái đất rung chuyển, nước ở đại dương xáo trộn, ánh sáng mặt trời trở lại mờ mờ, mắt chúng sinh nhìn vật chi cũng lu mờ cả. Chư thiên đồng thanh la lên: “Lành thay, lành thay, và bông Parizta rơi xuống như mưa trên trời.

  Vì quả đất rung chuyển nên các người anh của Thái tử đoán rằng em mình đã làm mồi cho con cọp đói.

  Thái tử Maha Prasada nói rằng: “Chắc chắn là Mahasativa đã hy sinh sinh mạng của nó rồi”. Còn Thái tử Maha Deva thì bảo rằng: “Dĩ nhiên nó hành động như vậy, vì khi nó nói, nó nói với một giọng đầy tình thương”.

  Cả hai đều trở lại chỗ ấy. Khủng khiếp và sợ hãi họ nhìn cảnh tượng bất ngờ ấy. Họ không phải nhìn thấy tấm thân yêu quý của em họ mà chỉ nhìn thấy một đống xương tàn đẫm máu đỏ. Nhìn lên cây họ thấy còn đủ cả cân đai châu ngọc của người em đáng kính. Họ khóc lóc thảm thiết rồi ngất xỉu, khi tỉnh lại họ trở về với tấm lòng buồn thảm.

  Cùng vào ngày hôm đó, ngày mà đức Bồ Tát hy sinh tánh mạng một cách can đảm như thế thì nơi hoàng cung đức hoàng hậu nằm mộng thấy bà chết và răng của bà rụng đi. Bà thấy rằng thân mình bà đau nhức dường như bị các thứ khí giới bén nhọn cắt đứt thân bà, và bà cũng mộng thấy rằng có một con diều hâu bay đến xớt mất một trong ba con bồ câu xinh đẹp đang đậu trên mái nhà. Đức bà rất đổi sợ hãi và tỉnh dậy bà nhớ lại rằng các con của bà đi dạo trong rừng sâu, lập tức bà đến ngay đức vua và thuật lại cơn ác mộng kia. Và khi hay tin rằng các hoàng tử chưa về, hoàng hậu tâu với đức vua cho người đi tìm.

  Quân hầu cấp tốc trở về tâu lại hung tin rằng hoàng tử Mahasativa đã chết một cách thảm thương. Nghe tin dữ này không một ai cầm nỗi nước mắt và thương tiếc. Đức vua an ủi hoàng hậu và lập tức phái vài viên quan hầu cận lên voi phóng nhanh đến nơi rước hai thái tử kia về. Quá đau đớn họ nói không ra lời, thu hết can đảm, hai thái tử mới thuật lại cho mẫu hậu cái chết anh dũng của thái tử em họ. Thế rồi đức vua truyền sắm sửa đi đến nơi xảy ra cảnh tượng não nùng ấy. Thấy cảnh tượng thật khủng khiếp, xương của thái tử rải rác chỗ này một miếng chỗ kia một miếng, đức vua và hoàng hậu đều ngất xỉu. Ông Bà la Môn Chaplain bèn tưới nước cây bạch đàn lên mình vua và hoàng hậu, một lúc sau hai ngài tỉnh lại. Vua ra lệnh cho các quân hầu nhặt hết xương, tóc, đồ trang sức mang về, và cho xây cất một cái tháp bằng vàng để thờ những di vật ấy.

  Tháp vàng Cetiya về sau được đặt tên là Namo Buddhāya. Cuối cùng câu chuyện cho biết rõ rằng hiện nay tháp Cetiya được gọi là Namura.

----------------------------------

 

Con đường đến nơi Chí thiện

----------

Phép Ba la Mật:

1.      Tôi nguyện dồi lòng quảng đại và tế độ chúng sanh (Bố thí).

2.      Tôi nguyện hằng được tinh khiết trong sạch. Tôi nguyện trau dồi hạnh kiểm cho thanh cao (Trì giới).

3.      Tôi nguyện không ích kỷ nhưng đầy lòng vị tha (Xuất gia).

4.      Tôi nguyện đắc trí tuệ, và nguyện hiến dâng tất cả trí tuệ tôi cho kẻ khác (Trí tuệ).

5.      Tôi nguyện có nhiều khỏe mạnh ở tâm hồn lẫn thể xác. Tôi nguyện tận lực để tế độ kẻ khác (Tinh tấn).

6.      Tôi nguyện không sân hận, có lòng nhẫn nại (Kiên nhẫn).

7.      Tôi nguyện giữ lòng chân thật và liêm khiết (Chân thật).

8.      Tôi nguyện được mềm dịu như hoa, cứng rắn như đá. Tôi nguyện có một ý chí sắt đá (Cương quyết).

9.      Tôi nguyện luôn luôn ân cần, thương yêu và tội nghiệp kẻ khác (Từ bi).

10.  Tôi nguyện luôn luôn được yên tịnh, trầm lặng và công bình. Tôi nguyện có một tâm thần bình thản (Xả).

-----------------------------------

Tôi nguyện sẽ thành một vị Phật Tổ

--------

Nguyện cho tôi tế độ được hoàn toàn,

Nguyện cho tôi được hoàn toàn để tế độ.

 

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang