" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 C

Cấp Cô Độc - Kinh Từ Bi

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Người sáng lập ngôi chùa Jetavanārāma (Kỳ Viên Tịnh Xá) tại thành Savatthi (Xá Vệ) là Ông Anātha Pindika (Cấp Cô Độc). Ông là một vị thương gia giàu có muôn hộ.
Cấp Cô Độc - Kinh Từ Bi



 

BỐ THÍ PHÁP CAO THƯỢNG

HƠN TẤT CẢ BỐ THÍ

______

I. - Sự tích của ông

TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC

(ANĀTHAPINDIKA)

Người sáng lập Kỳ Viên Tịnh Xá

và Trưởng Đoàn Hộ Pháp của Đức Phật

_______

II. - CHÚ GIẢI KINH TỪ BI

Toát yếu:

Bài giảng thuyết của Đ.Đ Nārada

Mahā Thera tại chùa Kỳ Viên

(Jetavana Vihāra) Saigon.

______

NGUYỄN VĂN HIỂU Lược thuật

Tháng Giêng 1960-2503

Kỳ Viên Tự - Saigon

______________________________________

Vị nào muốn tái bản xin do nơi

Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, 610 Đường Phan Đình Phùng - Saigon


 

SỬ TÍCH CỦA ÔNG CẤP CÔ ĐỘC

(Anātha Pindika)

______

Tóm lược bài pháp do Đ.Đ. Narada Maha Thera

thuyết tại Kỳ Viên, ngày 3-8-59 (29-6 Kỷ Hợi)

______

Người sáng lập ngôi chùa Jetavanārāma (Kỳ Viên Tịnh Xá) tại thành Savatthi (Xá Vệ) là Ông Anātha Pindika (Cấp Cô Độc). Ông là một vị thương gia giàu có muôn hộ. Ông thường sang các xứ kế cận giao thiệp buôn bán, nhất là đến Rajagaha (Vương Xá thành) là nơi phồn thịnh đệ nhất. Tại đây Ông Anātha Pindika có một người anh rể.

Mỗi khi đến Rajagaha, Ô. Anātha Pindika luôn luôn ghé viếng thăm anh rể và chị, và được niềm nở tiếp rước thân mật. Một lần nọ Ô. Anātha Pindika đến, nhưng không còn được hân hạnh đón tiếp như mọi khi. Ông vào nhà, người anh rể không chào hỏi, không chuyện vản, quên để ý đến ông, cứ chăm lo thôi thúc tôi tớ xách nước, giã gạo, bửa củi, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa.

Ô. Anātha Pindika lại gần anh rể hỏi: Có lễ chi mà anh sửa soạn dữ vậy?

_ Ngày mai tôi sẽ thỉnh Đức Phật và Chư Tăng đến thọ thực. Tôi thích nghe Đức Thế Tôn giảng đạo.

_ Em có thể yết kiến Đức Thế Tôn ngay bây giờ chăng?

_ Không, Ngài đương cư ngụ trong rừng. Mai này cậu sẽ có dịp ra mắt Đức Thế Tôn tại đây, nếu cậu muốn.

Ô. Anātha Pindika rất vui mừng, trông cho mau tới ngày mai để yết kiến Đức Phật. Trọn ngày ấy, ông cảm thấy vui thích lạ thường, thân tâm ông nhẹ nhàng thơi thới, tựa hồ như linh tính của ông báo điềm lành cho ông biết trước rằng tâm hồn thể phách ông sắp được biến chuyển một cách phi thường. Tinh thần ông phấn khởi, vui thích cho đến đỗi khi nằm mơ tưởng trông đợi cho mau đến giờ gặp Đức Phật, thân thể ông tia sáng một vòng hào quang rực rỡ.

Đây là một hiện tượng hy hữu, có thể phát sanh đến cho người nào mà thân tâm hết sức trong sạch, làm cho tinh thần thể xác nhất thời được tuyệt đối điều hoà. Hiện tượng ấy đã xảy ra khi Đức Phật quán tưởng về Pháp Patthāna trong Vi diệu Pháp (Abhidhamma); Ngài phát tâm hoan hỉ, hào quang năm sắc xuất hiện cùng mình: tóc chiếu ra màu xanh, da màu vàng, máu màu đỏ, xương màu trắng, móng tay màu da cam. Chính là năm màu của lá cờ Phật giáo hiện nay.

Lòng mong muốn gặp Đức Phật càng hăng hái thêm, giữa đêm tâm tối, Ô. Anātha Pindika nhất định đi ngay vào rừng tìm Đức Phật. Ông phải đi ngang qua một bãi tha ma, và nhờ tâm trí nhớ tưởng Đức Phật, hào quang bật sáng soi đường cho ông đi. Thình lình chân ông va chạm nhầm một thây ma, ông hoảng hốt, quên tưởng đến Đức Phật, hào quang biến mất, ông bị chìm đắm trong đêm tối. Ông quá sợ sệt; liền khi đó một vị Trời đến an ủi, bảo ông đừng sợ, cứ mạnh dạn tiến tới, ông sẽ gặp Đức Phật và sẽ được hạnh phúc.

Ô. Anātha Pindika nghĩ rằng, dầu ở giữa bãi tha ma, nhưng vẫn có chúng sanh ở xung quanh mình, thì sợ gì mà không đi tới. Ông hết sợ, chú tâm nhớ tưởng lại Đức Phật, hào quang phát sanh trở lại, rọi đường cho ông đi. Mãi lo tưởng nhớ Đức Phật, một đỗi xa, ông va chạm nhầm một tử thi khác. Ông giựt mình, quên tưởng Đức Phật, hào quang lại tắt mất; ông phát sợ. Một vị Trời khác đến an ủi, khuyên ông cứ đi tới. Ông hết sợ, tưởng nhớ lại Đức Phật, hào quang bật sáng như cũ, ông mạnh dạng bước tới.

Theo thường tình, người ta hay sợ Phật, sợ Trời, sợ ma, sợ quỷ. Người biết đạo rồi chỉ sợ Ma vương cám dỗ, phải dính mắc trong luân hồi. Người Phật tử đứng đắn cũng chẳng sợ Tử thần, biết rằng trên con đường hành trình đến nơi Vô sanh bất diệt, phải tiến lên mãi mãi, từ kiếp này qua kiếp khác.

Ô. Anātha Pindika qua khỏi bãi tha ma thì trời cũng gần rựng đông. Đức Phật đã biết trước, Ngài đi kinh hành chờ ông Anātha Pindika. Khi ông này đi gần tới, Đức Phật cất tiếng kêu đích danh ông: “Lại đây Sudatta” (Anātha Pindika chỉ là một biệt danh của người ta tặng cho ông, có nghĩa là người cứu giúp kẻ cô độc).

Ô. Anātha Pindika biết rằng Đức Phật kêu ông, ông lại gần, mọp lạy dưới chân, yêu cầu Đức Phật ra ơn tế độ. Đức Phật thuyết pháp khai sáng cho ông, ông liền đắc quả Tu Đà Hườn (Sotāpanna): người đã đoạn tuyệt được ba pháp Trầm nịch, là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ, vào triều lưu thánh vức lần thứ nhất, tiến nhập Niết Bàn trong kiếp này hoặc lâu lắm là trong bảy kiếp và không còn sa đoạ trong bốn đường ác đạo. Triều lưu thánh vức ấy là Bát Thánh đạo.

Đắc Tu Đà Hườn, ông Anātha Pindika trở thành một vị hộ pháp rất nhiệt thành; ông liền thỉnh Đức Phật và chư Thinh Văn đến xứ Savatthi hoằng pháp độ sanh.

Muốn tạo một chỗ xứng đáng cho Đức Phật và chư Thinh Văn cư ngụ, ông phải nài nỉ mua cho được cái huê viên của ông Hoàng Jeta (Kỳ Đà) cách thành Savatthi không bao xa. Huê viên này là một thắng cảnh đồ sộ nguy nga, cây cao bóng mát, hồ sen suối nước, bông hoa đủ màu, bốn mùa tươi nhuận. Ông Hoàng Jeta vốn không ý định bán vật sở thích của ông, nhưng ông Cấp Cô Độc cứ nài nỉ xin mua cho được. Ô. Hoàng Jeta bảo: “Này ông Cấp Cô Độc, tôi bằng lòng bán huê viên của tôi cho ông với giá bằng vàng trải cùng khắp mặt đất, ngoài trừ các cây danh mộc cổ thọ thì tôi giữ lại làm của riêng tôi. Nếu ông ưng chịu giá đó, thì ông cứ đem vàng trải tới đâu, tôi bán cho ông tới đó”. Tưởng là lời nói thách cho quá cao, cho Ô. Cấp Cô Độc bỏ cuộc mua bán, chẳng dè ông lại ưng thuận mua ngay. Qua ngày sau, ông mở kho, xe vàng đến trải khắp cùng mặt đất huê viên. Bất ngờ Ô. Hoàng Jeta trở nên một đại phú gia.

Mua xong, Ô. Anātha Pindika xây cất một ngôi tịnh xá vĩ đại, tốn kém lối 15 triệu. Tịnh xá Cấp Cô Độc này có khi cũng kêu là Kỳ Viên Tịnh xá (chùa tại huê viên của Ô. Hoàng Kỳ Đà). Hiện nay chùa ấy đã hư đổ, nhưng vẫn còn nền gạch và chân tường. Mỗi năm thập phương Phật tử hằng đến hành hương chiêm bái thánh tích ấy.

Lúc Đức Phật đến kiết hạ nơi đây, ông Cấp Cô Độc đem cả gia đình gồm có vợ ông, ba gái, một trai, vào quy y, tinh tấn giữ đạo và giúp đỡ Đức Phật cùng chư Tăng đủ mọi phương diện.

Người con gái đầu lòng của ông tên Māha Subhaddā, con gái thứ hai tên Cūla Subhaddā, con gái thứ ba tên Sumanā và con trai út tên Kāla.

Cô Cūla Subhaddā có chồng ở phương xa; trước khi về nhà chồng cô vào đảnh lễ từ giả Đức Phật và ngõ lời yêu cầu Đức Phật xin đừng quên cô. Bên chồng cô tu theo đạo Loã thể. Ngày nọ cha mẹ chồng cô thỉnh thầy đạo sĩ Loã thể về nhà cúng dường. Cha chồng cô bảo cô ra đảnh lễ vị A La Hán. Cô vui mừng bước ra, thấy thầy đạo sĩ trần truồng, cô tỏ vẻ bất bình trở vô. Trước cử chỉ vô lễ ấy, cha chồng cô phát giận, vị đạo sĩ cũng bỏ ra đi. Cha chồng cô mới gặng hỏi: Vị A La Hán mà con thường ca tụng tôn sùng là người ra thế nào? – Thưa cha, chính Đức Phật Gotama. Nếu cha gặp được Ngài ắt cha kính phục ngay. Đức Phật của con có nhiều đệ tử toàn là bậc chỉnh túc trang nghiêm, đẹp đẽ từ trong ra ngoài, giới đức trong sạch, bằng tưởng lành, nói lành, trên thế gian không ai sánh bằng. Cha chồng cô bảo: Nếu quả thật vậy, ngày mai con thỉnh các vị ấy đến nhà làm phước. Trước sự phẫn nộ của cha chồng, cô Cūla Subhaddā không kịp suy nghĩ, liền trả lời: Dạ, xin vâng. Cô về phòng gom cả tư tưởng hướng về Đức Phật, lâm râm khấn vái, thỉnh Ngài và chư Thinh Văn ngự đến thọ thực ngày mai, tại nhà cha chồng cô. Liền khi ấy Đức Phật biết được tư tưởng cô. Kế Ô. Cấp Cô Độc vào thỉnh Đức Phật mai sáng đến nhà ông độ ngọ. Đức Phật trả lời: “Này ông trưởng giả, Như Lai vừa nhận lời thỉnh của cô Cūla Subhaddā, ngày mai Như Lai sẽ đến thọ trai tại nhà chồng cô”.

Nói về người con gái thứ ba của Ô. Cấp Cô Độc, là cô Sumanā. Cô mộ đạo, tinh tấn bố thí, trì giới, tham thiền. Năm cô được 16 tuổi, cô thọ bệnh; cha cô lại gần hỏi: Này con, bệnh con có thuyên giảm chút nào không? – Cô trả lời: Này em út, trong mình chị không sao hết, em đừng lo. – Con đừng nói xàm, hãy tỉnh táo lại. Sao con dám kêu cha bằng em út và dám xưng là chị của cha, như thế con mang tội đa? – Không, chị không có tội lỗi chi đâu, em à; chị không loạn trí đâu. Thật vậy, cô Sumanā không có loạn tâm cuồng trí chính vì cô đã đắc quả Tư Đà Hàm (Sakadāgāmi), là quả thứ hai trong thánh tuệ, còn hai nấc nữa cô đắc A La Hán; cha cô chỉ đắc sơ quả Tu Đà Hườn. Trước giờ lâm chung, cô xưng hô như thế, cố ý để cho cha cô biết rằng cô đã tiến cao hơn và để thức tỉnh cha cô tinh tấn thêm lên.

Do đó trong Phật pháp có ba hạng con: Con thấp hơn cha mẹ, con bằng cha mẹ, con cao hơn cha mẹ.

Cậu trai út của Ô. Cấp Cô Độc, tên Kāla, không thích vào chùa, không ưa nghe Pháp. Ô. Cấp Cô Độc tìm cách dỗ dành con, ông bảo: Này Kāla, nếu con vào chùa lễ Phật và thọ giới được một ngày, cha sẽ thưởng con 1000 đồng. Cậu Kāla ham tiền, vào chùa thọ Bát quan trai trọn ngày, chạy về đòi tiền thưởng. Ông vui vẻ cho cậu 1000 rồi bảo: Nếu con chịu vào chùa, chăm chỉ nghe Đức Phật thuyết pháp, nhớ được một câu – chỉ một câu thôi - về đây cha thưởng 1000 đồng nữa. Cậu Kāla men vào tịnh xá chăm chỉ nghe pháp, ráng nhớ một câu để lãnh thưởng. Đức Phật biết, không cho cậu Kāla nhớ câu nào cả. Cậu cố sức chăm chỉ nghe, thừa lúc ấy Đức Phật khai tâm điểm đạo cho cậu; cậu liền đắc quả Tu Đà Hườn.

Chư thiện tính nên noi gương Ô. Cấp Cô Độc khuyến dụ con năng đến chùa lễ Phật, nghe Pháp, để các nhà sư có dịp dạy dỗ các trẻ làm lành, lánh dữ, nung đúc tinh thần đạo đức, hầu khi lớn lên các em noi theo chí hướng của hàng phụ huynh tiếp nối bảo tồn Phật pháp và đồng thời các em sẽ trở thành những phần tử tốt đẹp cho gia đình xã hội.

Tại Tịnh xá, mỗi buổi xế chiều, Đức Phật thường giảng giải đạo pháp cho Ô. Cấp Cô Độc và hàng thiện nam tín nữ nghe.

“Này trưởng giả Cấp Cô Độc, trong hàng cư sĩ có bốn hạng người có hạnh phúc:

1. - Người tại gia cư sĩ, khi biết được Phật Pháp rồi, biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, lo làm ăn theo chánh mạng, siêng năng tiết kiệm, gìn giữ của cải, gần gũi bạn lành;

2. – Khi có tiền của, gia đình đầm ấm, ăn no ngủ kỹ, không làm nô lệ cho tài sản, hằng đem của cải ra giúp ít cho kẻ khác;

3. – Dầu nghèo cũng biết thủ phận, tiêu xài có mực thước, không gây nợ nần;

4. – Người cư sĩ luôn luôn sống một cuộc đời trong sạch, tin nhân, tin quả, tin nơi ân đức Tam Bảo, yêu chuộng giới luật, vui thích làm lành, siêng năng học hỏi nơi bậc thiện trí thức, trau dồi trí tuệ cho ra bậc thông minh.

“Này ông trưởng giả, hạnh phúc cao thượng là bố thí cúng dường đến bậc Toàn Giác cùng chư Thinh Văn La Hán.

“Hạnh phúc cao thượng hơn nữa là cất tịnh thất cho các bậc Tỳ kheo giới đức có nơi an trụ tu hành giải thoát.

“Hạnh phúc cao thượng hơn nữa là Quy y Tam Bảo.

“Hạnh phúc cao thượng hơn nữa là thọ trì Ngũ giới.

“Hạnh phúc cao thượng hơn nữa là thực hành các pháp Từ bi.

“Hạnh phúc cao thượng hơn nữa là tham thiền quán tưởng cho thấu rõ lý vô thường, khổ não, vô ngã của vạn vật”.

Lúc Ô. Cấp Cô Độc gần lâm chung, ông cho người nhà thay thế cho ông vào chùa bái biệt Đức Phật, Đức Phật phái Đại Đức Sariputa (Xá Lợi Phất) và Ananda đến đọc kinh và thuyết pháp cho ông nghe.

Thấy ông rơi lệ, Đại Đức Xá Lợi Phất hỏi: Này ông trưởng giả, ông sợ chết hay sao mà ông khóc? – Ông trả lời: Bạch Đại Đức, từ trước tới giờ con chưa nghe pháp cao siêu, nay nghe được, con vui mừng mà sa nước mắt. – Thật vậy, ta chưa từng thuyết pháp cao siêu cho hàng cư sĩ nghe, nay vì từ bi mà ta thuyết cho trưởng giả nghe.

Nói rồi hai vị Thánh Tăng từ giã ra về. Vừa lúc đó Ô. Cấp Cô Độc thoát sinh về cõi Trời. Tối lại, ông trở xuống đảnh lễ Đức Phật và thốt rằng: Con rất vui mừng được Đức Thế Tôn và chư Thinh Văn an ngự trong chùa của con, để đem hạnh phúc an vui cho hàng thiện nam tín nữ.

Kỳ viên: 31-12-59.

 


 

GIẢI KINH “TỪ BI”

______

Tóm lược bài pháp do Đ.Đ Narada Mahã Thera

Thuyết tại Kỳ Viên ngày 2-9-59 (30-7 Kỷ Hợi)

______

Tại Tích Lăn, trước khi đi ngủ, người Phật tử luôn luôn đọc kinh Từ Bi.

Kinh này là một đề mục thiền định và cũng là một phương pháp hộ thân để ngăn ngừa những ác pháp bất cứ từ đâu đưa đến.

Người Phật tử nên tụng kinh ấy lúc sáng mai và chiều tối.

Câu thứ nhứt:- Người khôn lanh hằng tìm lợi ích cho mình và muốn đạt tới chỗ yên lặng là người chánh trực, hoàn toàn chánh trực, nhu thuận, hiền lương và khiêm tốn.

Phật ngôn khuyên ta phải làm những việc “nên làm” và tránh những việc “không nên làm”. Trạng thái yên lặng có nghĩa là Niết Bàn tịch tịnh. Muốn làm được những việc nên làm, trước phải có khả năng chiến đấu. Người như thế luôn luôn đứng thẳng mình, cương quyết tiến thủ bằng lời nói, việc làm và tư tưởng và có đức tính chánh trực, hiền lương, khiêm tốn để củng cố tâm mình nơi chỗ chí thiện.

Làm như nói; nói như làm: Yathāvādī tathākārī; Yathākārī tathāvādī.

Đức Phật chẳng bao giờ khoe khoang việc làm của Ngài. Ngài có đức độ khiêm tốn, như biển cả yên lặng, như sông lớn chảy êm, khác hơn suối nhỏ chảy theo róc rách. Bởi thế nên ai ai cũng lại gần Đức Phật được, và khi gần Ngài mọi người đều cảm thấy thân tâm mát mẻ, tinh thần thơ thới.

Một lúc nọ có một vị vua nghe tiếng đồn Đức Phật là người đạo đức và khiêm tốn, mới cải trang làm một đạo sĩ khổ hạnh tìm đến viếng Ngài. Tới gần chỗ cư ngụ của Đức Phật, ông đạo sĩ xin vào tá túc trong nhà của một người thường dân chuyên nghề khiêng vác. Nhờ tuệ nhãn Đức Phật biết được, Ngài cũng giả dạng làm một đạo sĩ du phương đến xin ngủ nhờ một đêm tại nhà anh thường dân nọ. Vào trong, gặp ông đạo sĩ đương ngồi trên bộ ván, Đức phật hỏi: Tôi có thể tạm đở nằm chung với ông một đêm chăng? – Thưa ông được, chúng ta là người tá túc, tạm nghỉ một đêm có sao đâu.

Hai người nằm kề nhau. Đức Phật khởi hỏi: Chẳng hay thầy của ông là ai? – Tôi tu khổ hạnh thầy tôi là Đức Phật Gotama. – Thuở giờ ông có gặp Phật Gotama lần nào chưa? – Chưa, tôi nghe nói Ngài có đức độ khiêm tốn không ai bằng, tôi muốn tìm gặp Ngài để xin thọ giáo với Ngài. – Hiện giờ có Đức Phật gần đây không? – Tôi không biết. – Ông bằng lòng cho tôi giảng đạo cho ông nghe không? – Tôi rất hân hạnh được nghe lời đạo đức của ông, nhưng tôi chỉ mong học hỏi nơi Đức Phật thôi. – Chính tôi đây là người ông đang mong mỏi được gặp.

Ông đạo sĩ liền quỳ đảnh lễ, xin lỗi vì thuở nay chỉ nghe danh tiếng mà chưa từng biết mặt Đức Thế Tôn, xin Ngài tha thứ cho.

Bậc cao nhơn luôn luôn có đức độ khiêm tốn khác hơn những kẻ vừa có chút địa vị đã trổ tài tự tôn khinh người, lại sanh tâm ganh tỵ ghen ghét, gièm pha bậc tài đức, cố gây ra sự bất hòa chia rẻ. Không cần phải đun ra khói mà hương xạ của giới đức vẫn tung bay ra cùng khắp gần xa. Khiêm tốn là một đức độ cao cả vậy.

Câu thứ nhì. – Biết kiên tâm thủ phận thanh bần, ít phận sự, thu thúc lục căn, thận trọng không liều lĩnh, không mê luyến gia đình.

Ở cõi trần tục này, dẫy đầy những tham lam sân hận si mê, con người cố theo đuổi theo danh lợi, để trọn đời chuốt lấy ưu tư phiền muộn, khổ nhiều vui ít. Người Phật tử nên sống theo chánh mạng, kiên tâm thủ phận, kềm thúc dục vọng, chế ngự lục căn; biết rằng thế gian vô thường giả tạm, phận sự làm cha mẹ, anh em, vợ chồng, lo cư xử cho vuông tròn theo đạo nghĩa luân thường, mà chẳng nên luyến ái gia đình thái quá. Nghèo cho sạch, rách cho thơm, chớ nên tham lam quá độ mà phải gây ra những nghiệp ác, những ảnh hưởng xấu cho gia đình và xã hội.

Câu thứ ba. – Không làm điều quấy nhỏ nhen mà các bậc trí tuệ hằng phê bình chỉ trích. Hằng mong muốn cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc an vui và đầy đủ tinh thần tráng kiện.

Người Phật tử luôn luôn phải biết ghê sợ và hỗ thẹn tội lỗi. Dầu làm những việc nhỏ nhen chút ít, cũng phải lấy đạo đức làm nền tảng. Những tội lỗi khuất lấp, dầu không ai biết được, nhưng chính ta biết và các bậc thánh nhân biết.

Trẻ con phải biết nghe lời dạy bảo của cha mẹ, học trò phải vâng lời thầy. Chỗ nào thấy có lợi ích cho ta và cho người, già trẻ cũng phải tuân theo. Chính Phủ Việt Nam khuyến khích dân chúng ăn ở theo đạo đức, người Phật tử nên vui mừng và nhiệt thành vun bồi đạo đức, cho xứng đáng làm một công dân Việt Nam, để bảo tồn Quốc Gia được an ninh thanh trị. Bần đạo tin tưởng rằng Phật tử Việt Nam đều nhận thức cái trọng trách thiêng liêng ấy và luôn luôn cố gắng xây đắp hạnh phúc an vui cho gia đình chủng tộc.

Có đạo đức mới có trung thành, mới biết tuân theo mệnh lệnh của bề trên.

Tích một vị hoàng tử nọ, bị vua cha nghe lời sàm tấu của bà thứ hậu, lưu đày 14 năm trong rừng. Trong thời gian ấy vua cha thăng hà, triều thần vào rừng rước hoàng tử về kế vị. Hoàng tử bảo các quan trở về chung lo việc triều chánh, chờ mãn hạn lưu đày 14 năm ngài sẽ hồi cung tức vị nối ngôi.

Người biết trọng kỷ luật như hoàng tử ấy, bảo sao trăm họ không kính phục và noi gương, nêu cao tinh thần phục vụ.

Câu thứ tư. – Hằng mong muốn cho tất cả chúng sanh, không dư sót, bất luận yếu mạnh, dài vắn trung bình, béo gầy, nhỏ lớn.

Câu thứ năm. – Hữu hình hoặc vô hình, ở xa hoặc ở gần đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra, đều có một tinh thần hoan lạc.

Người Phật tử phải mềm dẻo, dịu ngọt và cương quyết, mềm như hoa, cứng như đá. Chẳng hề dùng lời nói cộc cằn thô bỉ, chẳng hề chạm lòng tự ái kẻ khác; nhưng cương quyết làm những việc phải làm, nói những lời phải nói, để đem lại hoà bình hạnh phúc cho toàn thể chúng sanh.

Noi gương Đức Phật, mỗi ngày chúng ta trải tâm lành mát mẻ đến đủ loại chúng sanh, cầu cho vạn vật được an vui hạnh phúc.

Chẳng phải tụng kinh Từ Bi là đủ; tụng để nhớ và làm theo lời dạy của Đức Phật. Người có thật tâm Từ bi chẳng hề chất chứa trong lòng một mảy tư tưởng xấu xa, một bợn ác cảm vi tế nào; như cái thùng không, chứa đầy thanh khí mát mẻ. Thùng không thường hay kêu lớn vang dội đến tận xa xăm như thế nào, thì lòng từ cũng có năng lực rải sự mát mẻ an vui cho chúng sanh trong mười phương vũ trụ.

Câu thứ sáu. - Chẳng hề lừa dối kẻ khác, chẳng khinh miệt người nào, bất cứ nơi đâu. Trong cơn phẫn nộ buồn phiền, chẳng hề toan tính làm hại kẻ khác.

Chúng ta chẳng nên giả dối, kiêu ngụy. Những lời đạo đức nơi đầu môi chót lưỡi không thể che đậy được tật hư nết xấu của mình trước bậc trí tuệ. Dầu có tài đức đến đâu cũng chẳng nên khinh thị kẻ khác. Có phước sanh người khôn ngoan giàu có, chẳng nên khinh bỉ kẻ dốt nát bần cùng, phải đem lòng từ bi nâng đỡ cứu giúp, để làm cho dịu bớt nỗi khổ của họ. Nếu ta nghèo, ta phải biết an phận với cái gì ta có; không mưu chước lừa gạt không sanh lòng ganh tị, trái lại ta nên hoan hỉ vui mừng trước sự thành công của người khác. Biết thủ phận an vui ta mới có thể tiến được trên đường đạo đức. Dầu ai khinh miệt, ta cũng chẳng phiền trách, cũng chẳng tìm kế hại người.

Người Phật tử phải có sức chịu đựng và cư xử thế nào cho kẻ khác chịu đựng được mình. Đức Phật là dòng vua sang trọng, mà Ngài vẫn chịu đựng được sự chung chạ với đủ hạng người. Trọn 45 năm chung sống với dân chúng mà Ngài chẳng bao giờ làm phật lòng ai. Ngài an vui với vật Ngài có. Một ngày kia, có người tớ gái của một nhà nọ, muốn làm một cái bánh dâng cho Đức Phật. Nhà nghèo không dĩa đựng bột, cũng không có lò nướng bánh. Nàng chỉ nhồi bột trên lá, gác bánh trên lửa; bánh chín rồi nàng để vào túi, ra đón Đức Phật đi hoá trai, móc túi lấy bánh dâng cho Ngài. Biết quả bánh mình bần hèn quá, nàng tưởng rằng, sau khi thọ rồi Đức Phật sẽ đem bỏ cho quạ ăn. Chẳng dè Đức Phật lấy bánh ra ăn ngon lành trước mặt nàng.

Câu thứ bảy. – Luôn luôn có lòng từ ái rộng lớn bao la đối với tất cả chúng sanh, chẳng khác nào một bà mẹ bảo tồn đứa con duy nhất, dám hy sinh thân mạng vì con.

Bà mẹ thương con một như thế nào, người Phật tử phải vun bồi lòng từ bi để thương chúng sanh thế ấy.

Giúp người, ta chẳng nên mong được trả ơn. Dầu gặp người xấu xa bạc bẽo, ta cũng chẳng nên thối chuyển ngã lòng. Gặp lúc phải hy sinh thân mạng để cứu người, ta cũng phải hy sinh. Thân này hữu dụng là khi nào nó là vật hy sinh để phục vụ kẻ khác. Ngày kia thân ta cũng sẽ chết, sẽ tan ra tro bụi; nhận thức được như thế, ta mới có thể nung đúc lòng thương vô bờ bến đối với chúng sinh. Tình thương lai láng của bà mẹ đối với con, là một gương duy nhất để ta noi theo, hầu thực hiện lần lần hạnh từ bi Ba La Mật của chư Phật.

Câu thứ tám. – Hãy rải tư tưởng lành vô biên cùng khắp thế giới, bên trên, bên dưới, khoảng giữa, không chướng ngại, không thù oán, không ác cảm.

Muốn rèn luyện lòng từ bi, hằng ngày, sáng chiều hai lượt, ta nên rải tư tưởng lành cùng khắp 10 phương vũ trụ, cầu xin cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc an vui, không khổ, không tật bệnh, không oan trái lẫn nhau. Trước khi rải tư tưởng lành, dĩ nhiên tâm ta phải chứa đầy những quan niệm lành, diệt bỏ tất cả những mối thù oán, ác cảm, không phân biệt kẻ thân người thù.

Có kẻ cho rằng từ bi có giới hạn, con người chỉ từ bi đối với loài người. Kẻ khác lại chỉ biết thương xót người đồng đạo, đồng hương của họ thôi. Trái lại từ bi của Phật giáo là vô bờ bến. Người Phật tử chân chánh là người công dân của thế giới; chủng tộc nào cũng là thân bằng quyến thuộc của họ; muôn loài vạn vật cũng đều là anh em của họ.

Câu thứ chín. – Trong khi thức tỉnh, lúc đi đứng nằm ngồi, hằng chuyên trì niệm niệm. Phương châm cho đó là một hạnh kiểm cao cả ở thế gian.

Tiến lên một nấc nữa, chẳng luận ngày đêm, nên lấy Từ bi làm đề mục thiền định, chuyên trì niệm niệm, trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, thì đời sống của ta sẽ được dồi dào hạnh phúc cao thượng như các vị Trời. Các bậc thánh nhân hằng tán dương ca tụng, bởi nhờ pháp thiền định về đề mục Từ bi này, chúng ta sẽ thấu rõ chân lý, không còn phân biệt nam, nữ, trẻ, già, không thấy có linh hồn, có đơn vị, nên diệt được “thân kiến” chấp ngã. Qua khỏi đó rồi, ta sẽ vào dòng thánh vức, chứng đạo quả Tu Đà Hườn, thẳng tiến đến nơi vô sanh bất diệt.

Câu thứ mười.- Không tà kiến, có giới đức, đắc tuệ nhãn, đoạn tuyệt tình dục. Theo chân lý, người như thế không còn thọ sanh vào thai bào nữa.

Tiến lên đến mức cao thượng hơn nữa, ta sẽ tận diệt tà kiến, dục tình, chứng quả A Na Hàm, tạm ngự nơi một trong năm cõi Trời Suddhāvāsa, gọi là Năm cõi Thanh Cảnh, dành cho bậc A Na Hàm, tiếp tục tu đến A La Hán quả, tiến nhập Niết Bàn, không còn trở lại Dục giới, nên sách gọi các ngài là bậc Bất Lai.

Kỳ Viên Tự

27-12-59

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang