" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 U-V-W-X-Y-Z

Ý nghĩa đại lễ rằm tháng tư

Ngày đăng tin: 6 tháng trước
(5/1)
Suốt đời, Ngài chưa bao giờ cầu an, hưởng thụ. Châm ngôn của Ngài là “Như Lai không bao giờ dừng nghỉ vì dừng nghỉ là thoái hoá mà thoái hoá thì không đủ năng lực để vượt qua bốn hầm trầm nịch"
Ý nghĩa đại lễ rằm tháng tư


 

 

 

 

 

Ý NGHĨA

ĐẠI LỄ

RẰM THÁNG TƯ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẬT LỊCH  2514 - 1970

 

 


 

Lời tựa

 

NGÀY trăng tròn tháng tư Âm lịch đã trở thành ngày lịch sử vì chính ngày này cách đây 2514 năm, Đức Phật Tổ Thích Ca tịch diệt để lại cho hng tứ chúng tất cả sự rung cảm, tiếc thương và hoài niệm.

Ngoài ra trong cuộc đời Đức giáo chủ, có những biến cố quan trọng cũng xảy ra cùng ngày trăng tròn sàkha, đó là ngày ra đời và ngày Đắc đạo.

Cho nên kỷ niệm rằm tháng tư Âm lịch có nghĩa Phật tử Việt Nam cũng như Phật tử Thế Giới kỷ niệm một lúc ba thời kỳ: Đản sanh, Thành đạo và Niết Bàn của Đức Phật Tổ Gotama. Để ý nghĩa rằm tháng tư được sáng tỏ, để toàn thể Phật tử thấu hiểu những tương quan liên hệ đến ngày này, chúng tôi thành kính thắp nén hương lòng đại lược ghi lại những sự kiện lịch sử trong ba đoạn đời Đức Phật được đánh dấu bằng ngày rằm tháng tư Âm lịch.

Cái khó khăn mà chúng tôi vấp phải là khuôn khổ nhỏ hẹp của quyển sách này. Chúng tôi muốn ghi lại thật đầy đủ hơn nhưng đành chịu. Cúi xin Đức Phật Thế Tôn chứng minh cho Đệ Tử và tha thứ nếu có sự thất thố trong vấn đề dịch thuật và hành văn.

Với phần phước nhỏ mọn này, chúng tôi xin hồi hướng đến các bậc ân nhân của thí chủ và của chúng tôi đã quá vãng được cao siêu lạc cảnh, còn các bậc ân nhân sanh tiền thì được tăng phước, tăng thọ, bịnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi.

Cầu xin cho chúng tôi luôn luôn được tinh tiến tu hành và được sống an lành trong ánh sáng giác ngộ của chư Phật.

Cầu cho đất nước sớm được hoà bình, nhân dân sớm được an cư lạc nghiệp.

Cầu cho sự vinh quang trở về với Đạo Pháp, sự thuần nhất trở về với Giáo hội; tình thương trở về với con người và đức hiếu sinh trở về với vạn loại.

Phật học Viện Pháp Quang

Mùa hạ năm Canh Tuất

HỘ GIÁC

 

 

 

 


 

KỶ NIỆM

ĐẢN SANH, THÀNH ĐẠO VÀ NIẾT BÀN

 

 

Namatthu Sugatassa

Đệ tử kính lễ Đức Như Lai

 

GIÁNG TRẦN

 

Điện Thiện Đâu Xuất lúc nào cũng trang nghiêm thanh tịnh, chỉ trừ bốn ngày bát quan trong tháng: mồng tám, rằm, hai mươi ba, ba mươi. Những ngày này, các vị tiên nam, tiên nữ ở các cõi trời đều vân tập đông vô số để nghe Bồ Tát Thiện Đâu Xuất (Santussitadevaputta) giảng đạo. Trên bảo đoàn cũng là pháp toà trong điện Thiện Đâu Xuất, với phong cách uy nghiêm, hào quang chiếu toả, gương mặt hiền hoà, giọng nói ấm và trong như giọng nói Trời Phạm Thiên, Bồ Tát lần lượt trùng tuyên những bài pháp phổ thông hữu ích, chẳng hạn như giảng về phước bố thí, đức trì giới, quả thiên đàng, tội ngũ trần, hạnh xuất gia hoặc cao hơn đó, giảng về ba biến tướng của vũ trụ: vô thường, khổ não, vô ngã v.v… Các vị tiên sau khi thính pháp đều vô cùng hoan hỉ, pháp tâm bồ đề, tán thán pháp bảo và chắp tay cúi đầu trở về tư điện. Riêng Bồ Tát Thiện Đâu Xuất lúc nào cũng trầm tư trong tư thế chờ đợi. Đó là tâm trạng chung của chư Bồ Tát trước khi giáng trần thành Phật. Vì lẽ Bồ Tát dù tu theo hạnh nguyện nào, trước khi thành Phật, cũng an vị trong biệt điện Thiện Đâu Xuất thuộc cõi trời Đâu Xuất và chờ đến khi có lời cầu thỉnh của chư tiên mới xác nhận bằng lời và quan sát năm điều yếu sự rồi mới giáng trần. Bồ Tát Thiện Đâu Xuất cũng ở trong thông lệ ấy. Lúc bấy giờ, các vị tiên thường tỏ ra băn khoăn, vì dưới cõi Diêm Phù đã vắng bóng Phật Tổ từ lâu. Tội nghiệp, chúng sinh không biết nương tựa vào đâu để kiếp sống không bị trầm luân, sa đoạ. Sự kiện này chẳng phải là điều thiệt thòi riêng cho loài người mà chung cho các tiên nữa.

Nỗi băn khoăn đã biến thành một dư luận sôi động trong tiên giới. Đức Đế Thích và bốn vị đại tiên cũng mang chung tâm trạng ấy. Tuy nhiên, cuối cùng các vị mới phát kiến là toàn thể tiên giới không phân biệt tầng trời, tất thảy đều một lòng kính trọng Bồ Tát Thiện Đâu Xuất, và lúc nào cũng xem Ngài như vị cứu tinh, như ngọn đuốc soi đường, như vì sao bắc đẩu. Hơn nữa, hàng tháng cứ đến ngày bát quan thì các tiên đều được nghe Ngài giảng đạo. Quả thật Ngài là bậc thầy xứng đáng, nếu được Ngài giáng trần, thành Phật thì chúng ta cũng được một phần công quả và sẽ được Ngài hướng đạo đến tuyệt đối an lạc chẳng sai.

Hội ý xong, Đức Đế Thích bèn cho triệu thỉnh chư tiên khắp các tầng trời về điện Thiện Đâu Xuất để thông báo một đại sự nhân duyên tối quan trọng. Được tin, các tiên không chậm trễ, cùng nhau vân tập trước điện Thiện Đâu Xuất. Đức Đế Thích đại diện các tiên long trọng, khẩn khoản yêu cầu Bồ Tát giáng trần để hoàn tất hạnh nguyện giác ngộ và sứ mạng độ sinh mà giai đoạn giác hạnh viên mãn đã điểm. Sau lời khẩn khoản yêu cầu ba lần, Bồ Tát đành lòng nhận lời. Bồ Tát vừa thoát lời, thì một sự kiện phi thường phát hiện. Số là các tiên thấy Bồ Tát nhận lời giáng trần đều lấy làm hoan hỉ, thế rồi không ai bảo ai, các tiên tự mình hoan hô, đồng thời truyền tin Bồ Tát sắp giáng trần trong khắp tiên giới. Các vị nói rõ thêm rằng, rồi đây nhân loại chúng ta sẽ có dịp bái kiến, nghe pháp của Đức Thiên Nhơn Sư, nhơn loại và chúng ta sẽ hết khổ, sẽ được giác ngộ.

Tin Bồ Tát sắp giáng trần thành Phật đã loan đi mau không tưởng, chỉ trong khoảnh khắc đã làm chấn động các tầng trời, khiến cho các tiên như bị một năng lực vô hình thúc đẩy, đều đồng thanh hoan hô theo một cách vô cùng hoan hỉ. Tiếng hoan hô vang rền gần như bất tận, các tầng trời gần như muốn sụp đổ, sấm sét tứ giăng, đất trời rung chuyển. Thật là một đều phi thường, phúc đức. Trong lúc đó, nơi điện Thiện Đâu Xuất, Bồ Tát tự biết giờ đại sự đã điểm không còn trì hoãn được nữa, Ngài bèn thận trọng quan sát năm điều yếu sự:

Thời kỳ                                                Kàla

Quốc Độ                                             Desa

Châu                                                    Padīpa

Giòng                                                  Kula

Cha Mẹ                                               Màtara

THỜI KỲ: Thời kỳ thuận nhất cho Bồ Tát giáng trần lúc bấy giờ là tuổi thọ con người tối đa không hơn ngàn năm và tối thiểu không dưới trăm tuổi, nếu song quá lâu, con người sẽ đâm ra dễ duôi, cẩu thả bất chấp tội phước và rất khó lãnh hội lý đạo; còn như yếu số quá, con người sẽ đâm ra mưu cầu lợi danh, giải quyết sinh kế, thoả mãn nhu cầu vật chất, mệt mỏi, rộn ràng, không đủ thì giờ tu niệm.

QUỐC ĐỘ: Điểm này, Bồ Tát có ý lựa chọn một quốc độ mà giai cấp bất công, nghèo đói, bịnh tật lúc nào cũng trực tiếp đe doạ kiếp sống mỏng manh, và phủ phàng đời sống hiện thực. Chính nhờ đó mà con người dễ hướng thiện, hơn nữa quốc độ này lại ở ngay chính giữa châu Diêm phù đề.

CHÂU: Trong bốn Châu lớn là Đông Thắng Thần Châu, Bắc Cu Lu Châu, Tây Ngưu Hoá Châu thì chỉ có Nam Thiện Bộ Châu là tương đối thuận duyên, vì con người ở châu này không quá man sơ, cổ lỗ, cũng không quá văn minh độc ác. Nếu được gặp Phật, nghe pháp thì rất dễ liễu ngộ.

GIÒNG DÕI: Là một vị Phật tổ không thể giáng trần vào một giòng dõi bần hèn, vì như thế sẽ vô cùng khó khăn trong sứ mạng độ đời đối với dư luận quần chúng; trái lại, nếu giáng trần vào một giòng dõi cao quý thì hạnh nguyện độ đời của Ngài sẽ khế cơ, khế lý và bảo đảm hiệu quả.

CHA MẸ: Ngôi vị Phật tổ là tối cao, tối trọng thì cha mẹ của Ngài cũng phải tối trọng, tối cao. Nghĩa là địa vị những bậc làm cha mẹ Phật phải phúc đức vuông tròn, căn tu nhiều kiếp và nhứt là xứng đáng đối với Ngài trong những kiếp xưa.

Sau khi quan sát năm yếu sự, Bồ Tát nhận thấy, thời ấy dân tộc Ấn Độ tương đối sống trăm tuổi; quốc độ Trung Ấn Độ thì quá nặng nề vì giai cấp bất công và nghèo đói; Nam Thiện Bộ Châu là một Châu không quá man sơ cổ lỗ cũng không quá văn minh độc ác; giòng dõi Thích Ca là quý tộc cao sang vào bậc nhất; đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Màyà thật xứng đáng làm cha mẹ Ngài, Ngài bèn chọn ngày lành, giờ tốt để giáng trần hoàn thành Phật quả.

 

HOÀNG HẬU MᾹYᾹ NẰM MỘNG

Nơi cung điện chánh thất, hoàng hậu Màyà thường tỏ ra buồn bã, một nỗi buồn man mác, xa xôi, nhất là trong những đêm dài, canh vắng, mặc dù đức vua Suddhodana lúc nào cũng yêu quý lịnh bà. Mà lịnh bà buồn là phải. Vì đã lâu lắm rồi, kể từ ngày sơ ngộ với quân vương, lịnh bà vẫn hiếm hoi chưa lần nào sinh nở. Kể ra ở địa vị chánh cung như lịnh bà mà không có hoàng tử thì quả thật là một điều bất hạnh, đáng buồn.

Hôm ấy là ngày bát quan, lịnh bà thức thật sớm, tắm gội sạch sẽ, mặc thường phục màu trắng và đích thân bố thí bốn triệu đồng cho những người nghèo khó tật nguyền. Sau giờ điểm tâm, lịnh bà phát nguyện thọ bát quan và ngồi tịnh niệm. Đêm nay cũng như mọi đêm, thành Ca Bi La Vệ chìm trong bóng tối mông lung. Vạn vật như bị bao trùm bởi màn đêm của vũ trụ. Đêm càng khuya, tiết trời càng lạnh, lịnh bà vẫn triền miên trong giấc ngủ nguyện cầu.

Vừa bước sang canh ba, bỗng lịnh bà nằm mộng thấy bốn vị Thiên Thần hiện đến khiên lịnh bà luôn cả long sàng đặt lên ngọn núi Hi Mã Lạp Sơn, mời lịnh bà ngồi trên một tảng đá thật to, vô cùng trang nhã, bề rộng ước độ 60 do tuần, nằm dưới gốc cây dừng cao ước độ 100 do tuần, và lui ra đứng hầu một bên. Tiếp đến, có bốn vị tiên nữ rước lịnh bà đi tắm tại ao Anotatta, nơi mà xưa kia chư Phật thường quang lâm đến đây tắm rửa. Tắm xong, bốn nàng tiên bèn trao khăn tiên cho lịnh bà choàng vào mình, đồng thời trang sức lịnh bà bằng các thứ hoa tiên, hương thơm ngào ngạt, rực rỡ muôn màu. Ngay khi đó, trước mắt Lịnh bà bỗng hiện lên một ngọn núi bạc, một cung điện bằng vàng. Trong điện, các nàng tiên kiều diễm đang trang trọng dọn riêng cho lịnh bà một bảo đơn và kính cẩn mời lịnh bà lên an nghỉ.

Vừa nằm xuống bảo đơn, lịnh bà liền thấy một con bạch tượng lớn cao hùng vĩ, cặp ngà trắng như ngọc, bốn chân đỏ rực như son, nơi cuống vòi có một bó hoa sen màu vàng lóng lánh, từ trên mây bay xuống đứng trên ngọn núi bạc, tiếng rống như xé không gian, khoan thai bước đến điện vàng, đi vòng quanh bảo đơn ba lượt rồi thình lình chui vào hông phải lịnh bà một cách an toàn, mau lẹ. Đêm ấy nhằm ngày rằm tháng tám, Đinh Dậu, thứ năm.

ĐOÁN MỘNG

Giựt mình tỉnh giấc, Lịnh bà cảm thấy bàng hoàng, nữa mừng nữa sợ vì chưa rõ mộng triệu lành dữ lẽ nào. Chờ bình minh vừa ló dạng, lịnh bà bèn đem điềm mộng tâu qua đức vua đầu đuôi, khúc chiết để được nhà vua quyết đoán. Chăm chú nghe rõ tự sự, đức Tịnh Phạn, nhơn buổi lâm trào hôm ấy, truyền lịnh triệu mời tất cả sáu mươi bốn nhà Khâm Thiên đại tài đến triều bệ kiến và đoán giùm mộng triệu của chánh cung.

Các nhà Khâm Thiên trước bệ rồng đồng thanh trần tấu: “Tâu hoàng thượng, chiếu theo mộng triệu mà bàn thì chúng hạ thần dám đoan quyết lịnh bà đã thọ thai và sẽ trổ sanh hoàng nam quý tử. Đông cung là một bậc phúc đức tròn đầy, tài ba xuất chúng sẽ làm cho hoàng triều rạng rỡ quang vinh và sẽ trở thành một bậc vĩ nhân trong thiên hạ. Nếu sống cuộc đời tại gia thì đông cung sẽ là một bậc đế hoàng Chuyển Luân Thánh Vương, bằng vì lòng mộ đạo xuất gia thì sẽ được thành Phật cứu độ chúng sinh.

 

BỒ TÁT TRỤ THAI

Nghe các nhà Khâm Thiên đoán mộng và biết chắc hài nhi trong thai bào là hòn ngọc tương lai của giòng họ Thích, đức vua Suddhodana và hoàng hậu Màyà đều lấy làm vui mừng mãn nguyện. Bắt đầu từ hôm ấy, đức vua càng tỏ ra rất mực yêu quý lịnh bà. Ngài truyền lịnh các danh y, các cung nữ có kinh nghiệm sản khoa đặc biệt lưu tâm chăm sóc lịnh bà. Muốn cho được chu đáo hơn, nhà vua còn khuyên hoàng hậu gia công gìn giữ bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm cho thật quân bình đều đặng; đồng thời ngài còn truyền lịnh các cung nữ phải lo thực phẩm riêng biệt, không quá cay, chua, nồng, đắng, chát, ngọt, lạt, mặn, nước tắm không được quá nóng, quá lạnh, kể cả nước rửa mặt cũng vậy. Có một điều đáng nói là chẳng những đức vua Tịnh Phạn săn sóc lịnh bà một cách chu đáo mà các tiên trên các tầng trời cũng luân phiên chăm nom lịnh bà không xao lãng, gián đoạn. Tâm hồn lịnh bà lúc nào cũng thanh tịnh, không có lòng dục nhiễm, không tham đắm các mùi vị, ưa bố thí, thích trì giới, hằng thương xót không làm tổn hại mọi loài. Nhờ hồng phước đức Bồ Tát trong lúc thụ thai, khiến các vì vua chúa lân bang, các phú hộ, thương gia tự động đem lễ vật cống hiến đức vua Suddhodana tấp nập, nhiều không tưởng tượng.

Ở trong thai, Bồ Tát ngồi quay mặt phía trước, thân mình óng ánh như vàng ròng, không hoen ố các đồ uế trược, có chánh niệm trong ba thời kỳ: nhập thai, trụ thai và xuất thai. Riêng lịnh bà suốt thời gian mang thai chẳng những không có triệu chứng dã dượi nhọc mệt mà trái lại còn vui tươi, xinh đẹp thêm và điều làm cho lịnh bà thoả thích nhất là chính lịnh bà nhìn thấy Bồ Tát ở trong thai bào một cách rõ ràng, thông suốt như nhìn qua tấm kính pha lê.

 

LỊNH BÀ TRỞ VỀ QUÊ NGOẠI

Ngày tháng qua mau như tên vút, thấm thoát đã mười tháng trôi qua. Hôm nay là rằm tháng tư, Mậu Tuất, nhằm ngày thứ sáu, lịnh bà xin phép nhà vua để được về thăm quê ngoại. Đức vua vì sẵn lòng sủng ái lịnh bà nên chấp nhận vô điều kiện, và hạ lịnh từ các cấp văn quan võ tướng cho đến lê thứ thần dân phải sửa sang đường sá, trang trí cửa nhà theo lộ trình đã ấn định để tiễn đưa hoàng hậu về quê.

Thế rồi hôm ấy, trên con đường dài hồi hương, người ta thấy một đoàn xe rầm rộ lăn bánh. Theo sau đoàn xe, binh sĩ, cung nữ trên mười ngàn vạn hậu tập, ủng hộ lịnh bà. Đoàn người gần như bất tận, mịt trời, làm tăng vẻ quyền quý của một ngôi chánh cung hoàng hậu.

Nơi giáp giới hai quốc gia Kapilavatthu và Devadaha có rừng cây sàlà, tục gọi Lumbinī. Rừng sống lâu đời nên thân cây tại đây lớn nhỏ đủ cỡ. Những cành cây như e ấp, đùm bọc, chen cành rợp lá tạo thành một nóc trần tuyệt đẹp bằng lá và hoa, khiến một khoảng rộng nhiều trăm mẫu không ánh nắng lọt vào, mát mẻ như ở giữa cung son. Cành non, đâm lá, trổ hoa, lớp nở, lớp rụng đều đều như mưa hoa trải đất. Ngoài ra, các loại hoa dại của rừng hoang cũng đua nhau trổ hoa khoe hương, phô sắc. Đồng nội cũng đâm chồi, mọc lá như dụng ý đón rước lịnh bà, chim muông từ bốn phương bay về màu sắc rực rỡ khác nhau hót lên những tiếng hót tuyệt diệu tạo thành một bản nhạc “Mừng ngày lịch sử”. Khi lịnh bà ngự đến nơi thì các thân cây đều buông cành thấp xuống như cố tình chào đón hoan nghinh lịnh bà.

 

ĐẢN SANH

Trước cảnh hữu tình ấy, lịnh bà cảm thấy cõi lòng rộn lên một niềm vui khó tả, như hăng hái, như mơ màng. Dường như có một sức mạnh huyền bí thúc đẩy, lịnh bà bèn thay đồ triều phục, mặc đồ vải thường và từ từ tiến gần đến một gốc cây sàlà đơm đầy hoa trắng, tựa lưng vào thân cây, với tay vịn cành, nét mặt vô cùng tươi đẹp như đang chờ đợi. Thấy lạ, các cung nữ bèn lấy màn hoa chia nhau đứng căng bao phủ, thì cũng vừa lúc ấy, lịnh bà hạ sinh đức Bồ Tát đúng ngày rằm tháng tư, năm Tuất nhằm ngày thứ sáu, trước Gia Tô kỷ nguyên 623 năm.

Lúc sinh nở, lịnh bà chẳng những không đau đớn, nhăn nhó, trái lại càng tươi đẹp, khoẻ mạnh và duyên dáng. Lịnh bà lấy làm ngạc nhiên trước cảnh tượng khác phàm. Trước mắt lịnh bà thân mình hài nhi sơ sanh đã không hoen ố đồ nhơ uế mà còn sáng rực như mặt trời buổi bình minh quang đãng.

Đức Đại Phạm Thiên Suddhàvàsa rước đức Bồ Tát bằng một tấm lưới vàng ẵm đưa ngay mặt lịnh bà và phúc chúc “Xin lịnh bà mãi mãi tươi vui bên vị cứu thế, con của lịnh bà sẽ là một bực siêu nhân tột cùng cao quý”. Sau lời phúc chúc của trời Đại Phạm Thiên, lập tức từ trên trời có hai vòi nước, hạt nhỏ xinh xắn mịn màng và ấm nóng ria xuống tắm rửa lịnh bà và đức Bồ Tát. Tắm xong, Tứ Đại Thiên Vương bèn đem tấm da gấu thật mềm và ấm đón rước đức Bồ Tát từ tay của trời Đại Phạm Thiên. Kế đó cung nữ lấy vải thật mịn của hoàng gia choàng cho Ngài. Sau cùng, đức Đại Phạm Thiên tặng 5 món quà mừng ngày sanh nhựt là: cây kiếm, cây lọng, giáp trụ, đôi hài, quạt lông. Tất cả sự kiện trọng đại phát hiện tại vườn Lumbini từ lúc đức Bồ Tát đản sanh cho đến các vị thiên thần tiếp rước, tặng quà, mưa trời v.v… mỗi mỗi đều được muôn triệu cặp mắt của phàm nhân xa gần trông thấy một cách rõ ràng, không dư sót, chỉ trừ Đức Trời, Phạm Thiên là loài người không trông thấy mà thôi.

 

BỒ TÁT ỨNG KHẨU

Sau đó, đức Bồ Tát mở mắt ngó về hướng đông thấy chư thiên từ trên trời rải bông mạn thù cúng dường, Ngài bèn quay mặt hướng bắc, và đứng lên bước đi bảy bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, cất tiếng ngân vang ứng khẩu thành một câu kệ như vầy:

Aggohamasmi lokasmiṃ

Seṭṭho eṭṭho januttaro

Ayànca antimà jàti

Natthidàni punabbhavo.

Đây là thân sau rốt của ta

Duyên sinh không có, không còn nữa

Trên trời dưới trời trong khắp cả

Ta là người tôn quý tối tột cùng.

Khi ấy, ánh sáng rực rỡ bốn bề, khắp đất trời rung chuyển, núi Tu Di như cúi đầu, đại dương sóng trào dâng cao cả trượng như reo hò hoan ca ngày hoa Ưu Đàm nở. Sau khi ứng khẩu, Bồ Tát nằm xuống như muôn triệu hài nhi khác. Đức vua Suddhhodana hay được tin mừng liền hạ lịnh bá quan trào thần văn võ cùng với hoàng thân quốc thích hoả tốc trực chỉ vườn Lumbinī. Khi đến nơi, vua thấy thái tử tướng lạ khác phàm, trang nghiêm phúc đức, lấy làm hoan hỉ. Đức vua đặt tên cho thái tử là Siddhattha. Sau bảy ngày sinh nở, hoàng hậu Màyà ly trần, sanh lên cung trời Đạo Lợi, hưởng phước tự nhiên, do sự hoài thai Bồ Tát, công đức vô cùng.

 

THÀNH ĐẠO

Sau khi vượt thành xuất gia tìm đạo, thái tử tìm đến hỏi đạo khắp nơi, không vị nào thuyết minh cho được thoả mãn, thái tử bèn dấn thân đi sâu vào vùng phụ cận của xứ Uruvcla, tu chung với hàng ngoại đạo tại khổ hạnh lâm, trong thời gian sáu năm ròng rã. Mỗi ngày thái tử chỉ ăn một hạt mè hoặc một hạt đậu cầm hơi, thân thể gầy ốm đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Trải qua thời gian dài tinh tấn, khổ nhọc ấy, thái tử phát kiến hai xu hướng sai lầm: cuộc sống quá phóng túng lợi dưỡng hoặc trái lại quá khắc khổ hành xác đều không phải là phương tiện giải thoát.

Nhân đó, Ngài xuống sông Ni Liên Thiền tắm gội sạch sẽ, và thọ bát cơm sữa cúng dường của tín nữ Sujàtà. Sau khi thọ thực lại, khí lực và thần sắc thái tử lần lần phục hồi. Năm người đệ tử thấy thế, tưởng là Ngài đã ngã lòng, bán đồ nhi phế, liền bỏ đi qua xứ Bàrànasī tiếp tục con đường khổ hạnh. Thái tử một mình đi đến xứ Buddhagayà, rải cỏ làm toà, ngồi kiết già dưới gốc cây Asattha, mặt hướng về phương đông. Trước khi thiền định, Ngài phát thệ rằng: “Nếu không chứng được đạo vô thượng bồ đề, thì dù thân này có khô máu, hết thịt, teo da, ta cũng quyết không rời khỏi nơi này”

Đêm ấy là rằm tháng tư, năm Dậu, nhằm ngày thứ tư, trên không gian tuyệt nhiên chẳng qua một tiếng động nhỏ, cảnh vật lung linh huyền ảo như báo hiệu giờ Thành Đạo sắp điểm. Đức Bồ Tát tiếp tục kiên nhẫn toạ thiền, tập trung tư tưởng vào số tức quan để truy tầm nguyên lý của vấn đề sinh tử. Mãi chuyên tâm thiền quán, Ngài quê cả đêm khuya, sương lạnh. Cảnh núi rừng về đêm càng tăng thêm vẻ huyền bí ma quái. Ngài toạ thiền không lay động.

Nói về Ma Vương, một địch thủ đơn phương vô cùng lợi hại của Bồ Tát, hằng lo lắng đêm ngày về sự thành công và thắng lợi trên đường tu chúng của Ngài, nên luôn luôn tìm kiếm mọi sơ hở dù chỉ một tà niệm nhất thời ngõ hầu làm cản trở thành quả giải thoát. Hôm nay, cũng như thường lệ, Ma Vương đích thân mục kích Bồ Tát thả mâm cơm trôi ngược dòng nước, trải cỏ rơm thành bảo đoàn và phát đại nguyện không rời cội bồ đề v.v… Tất cả ngần ấy điểm lạ đều khiến Ma Vương thất vọng và buồn khổ vô cùng.

Thấy Ma Vương buồn khổ, ba ái nữ hỏi thăm nguyên do. Nghe rõ ngọn ngành, ba nàng tiên hứa sẽ dùng sắc đẹp và bẫy tình chinh phục Bồ Tát. Từ giả Ma Vương, ba ái nữ lập tức họp bàn, thảo luận kế hoạch, sắp đặt chương trình để mê hoặc và lung lạc Bồ Tát. Ba nàng tiên áp dụng đủ thứ bí quyết gợi tình, khiêu dục. Từ cách phô bày thân hình tuyệt đẹp, uyển chuyển thướt tha đến khoé mắt nụ cười như mời mọc, khiêu khích với dụng ý làm cho Bồ Tát phải say đắm, động tình. Chẳng những thế thôi, ba nàng còn biến hoá đủ lứa tuổi con gái, đàn bà để phù hợp với sở thích của Bồ Tát. Vì theo kinh nghiệm của ba nàng thì Bồ Tát sẽ hợp nhãn và ưng ý một trong những lứa tuổi ấy. Nhưng ba nàng tiên đã phải hoàn toàn thất vọng trước thái độ vô nhiễm, vô trước của Bồ Tát như chim muôn không lưu dấu trong hư không. Đã thất vọng lại thêm tuyệt vọng vì khi ba nàng tiên nhìn nhau thì hỡi ơi những nét đẹp diễm lệ, thiên kiều, bá mị đã vì ác niệm đối với Bồ Tát mà nhăn nheo, móm sọm như bà già sắp chết. Quá hổ thẹn, ba nàng không ai bảo ai, vội vã lánh mặt cút đi mất dạng.

Ma Vương thấy sự thất bại nhục nhã của ba ái nữ, chẳng những không tâm thành ăn năn sám hối mà còn nổi giận đùng đùng, hoả tốc hạ lịnh huy động toàn thể binh ma, tướng quỷ kéo thẳng đến bảo đoàn, phong toả chặt chẽ bốn bề, quyết liều một trận thư hùng cùng Bồ Tát. Mặt trận được giàn ra vô cùng chu đáo, quy mô. Binh đội tiên phong  lan rộng đến 36 do tuần, còn hậu tập thì đầy nghẹt cả mười muôn triệu sa bà thế giới. Càng khôn vũ trụ giờ phút ấy đối với lòng phẫn uất của Ma Vương chỉ là một nắm tay không hơn không kém, vì Thiên Ma Vương là một tay tài phép vào hàng thượng đẳng, lại thêm có voi thần trợ lực thì còn coi trời đất vào đâu.

Trước khi hạ lịnh tấn công, Ma Vương đưa điều kiện tiên quyết là Bồ Tát phải lập tức rời khỏi bồ đoàn, bằng không thì khó bảo toàn tính mạng. Trước thái độ si mê ngông cuồng ấy, Bồ Tát vẫn điềm nhiên toạ thiền một cách ung dung tự tại, khiến Ma Vương như lửa cháy gặp dầu, bèn hạ lịnh tấn công quyết tử. Trước sức tấn công khốc liệt của Ma Vương, chư tiên khắp cõi sa bà đều đem nhau bỏ chạy tán loạn vì tự lượng sức mình không phải là đối thủ của Ma Vương.

Được lịnh, các binh tướng nhà trời lập tức biến hoá muôn hình vạn trạng. Kẻ thì mình chó đầu rồng, mình xanh đầu đỏ, cặp mắt mọc vòi, thòi lòi thấy ngán, bọn thì hoá cọp, hoá beo, hoá rắn, hoá rít, xông vào cắn chích, móc họng phanh thây; lớp thì há miệng nhe nanh, lưỡi lè ra lửa, trong mũi dòi bò, trong tai rắn khoét, chun từ lỗ mũi trở qua lỗ tai, đục từ con mắt lòi ra cuống họng v.v… thật là hãi hùng, khủng khiếp.

Riêng Ma Vương thì biến một ngàn cánh tay, cầm đủ loại khí giới, cưỡi voi thần tên Grimekhala cao 150 do tuần, to lớn như trái núi, hung dữ vô song, phép màu cũng có hạn chính voi thần này đã trợ lực Ma Vương chiến thắng trước Thiên, Ma, Càn Thát Bà, Dạ Xoa, Long Vương, A Tu La và Kim Suý Điểu. Tài phép của nó có thể đạp nát Hy Mã Lạp Sơn thành bình địa trong nháy mắt. Với lửa giận ngút trời và mối thù tiền kiếp, Ma Vương quyết bắt cho được Bồ Tát để moi tim, móc phổi, banh da, xé xác cho hả dạ mát lòng, nên cứ xông bừa vào một cách điên cuồng quyết tử.

Đối diện trực tiếp với Ma Vương và binh tướng nhà trời, Bồ Tát thấy mình trơ trọi, cha mẹ cũng không, chư tiên có thiện cảm với Ngài cũng điều bỏ chạy tất cả. Trong giờ phút hiểm nguy bất trắc ấy, Bồ Tát liền nhớ ngay đến ba chục đạo binh thiện chiến là ba chục phép Ba La Mật mà Ngài đã gia công tập luyện nuôi dưỡng từ vô số lượng kiếp qua nên chúng rất trung thành với Ngài. Lúc ấy, Ngài cảm thấy ấm lòng, vững dạ và tin tưởng sắt đá lạ thường, không còn bị mặc cảm cô thân nữa. Ngài bèn lớn tiếng kêu cứu với chúng một cách khẩn thiết như vầy:

Àyantu bhonto idha dànassilà

Nekkhammapaññà vīriyàdhikhantī

Saccàdhiṭṭhànamettà upekkhà

Yuddhàya vo ganhatha àvudhàni

Ba chục đạo binh sau đây: [1] Bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tiến, nhẫn nại, chơn thật, nguyện vọng, từ bi và hỉ xả, các ngươi hãy võ trang và tậu trung đến đây gấp, chuẩn bị tác chiến.

Vừa lúc ấy, trong không gian như có muôn triệu tiếng nói “Xin tuân lệnh” vang lên như sét xé mây đáp lại lời kêu gọi của Bồ Tát.

Thấy thái độ thản nhiên và bình tĩnh khác phàm của Bồ Tát, Ma Vương càng sôi máu, lồng lộng trên lưng voi, hét lên như sét: “Hãy bắt Sỉ Đạt Ta, hãy giết Sỉ Đạt Ta”. Các tướng trời muốn lập đầu công, liền lướt trận xung phong quyết liều sinh tử. Song lạ lùng làm sao, trong tay Bồ Tát không một tấc sắt tự vệ, thế mà bao triệu binh tướng nhà trời không tài nào đá động tới mình Ngài được.

 Thấy tài phép của binh tướng nhà trời vô hiệu, Ma Vương lập tức hoá phép thần thông: Mưa đá, mưa gươm, mưa than hồng, mưa tro nóng, mưa bùn nhơ, mưa sạn, mưa cát, khiến mây đen che kín bầu trời tối bưng không còn trông thấy trời đất, giông gió tróc núi lỡ non, hư không như đảo lộn trước tài phép của Ma Vương. Thế mà Bồ Tát chẳng những không bị hại mà còn tươi tỉnh trang nghiêm, điềm nhiên thủ thắng. Trong lúc tuyệt vọng, bỗng một tia hy vọng bốc lên, Ma Vương tự nhủ, chẳng sao, ta còn thừa khôn khéo để chiến thắng Sỉ Đạt Ta bằng đối khẩu:

Cho là diệu kế, Ma Vương bèn tấn công Bồ Tát:

-          Thái Tử là người luôn luôn tôn trọng sự thật và những điều hữu lý?

-          Phải

-          Tại sao Thái Tử cướp bồ đoàn tôi một cách phi lý?

-          Ai bảo người thế?

-          Chính ta.

-          Ai làm chứng cho người?

-          Binh tướng của ta.

-          Người chớ nên nói càng nghĩ quấy. Từ xưa có ai đem thuộc hạ của mình ra làm chứng cho mình bao giờ.

-          Nếu Thái Tử nói thế, bồ đoàn này của Thái Tử?

-          Đúng vậy.

-          Ai là nhơn chứng của Thái Tử?

Bồ Tát bèn lấy ngón tay trỏ chỉ địa cầu phân trần:

Địa cầu hỡi sao người im lặng thế,

Không thốt lời minh lý chứng giùm ta.

Nếu trắng đen không phân biệt chánh tà.

Nhân loại sẽ mãi đắm chìm trong bể khổ.

Bởi ta là người ra tay tế độ.

Còn Ma Vương kẻ phá hoại muôn đời.

Hãy nói lên cho vang dội đất trời.

Cho Ma, Phật đôi đường cùng minh bạch.

Bồ Tát vừa thốt xong thì địa cầu rung chuyển như tỏ ý tán đồng, trong không gian như có tiếng người đáp lại:

Đức cứu thế xin người đừng lo ngại

Có tôi đây là nhân chứng cho Ngài

Mỗi một phen Ngài thí mắt, thí đầu

Thì chính lúc tôi cúi đầu kính phục

Hơn thế nữa ngài còn lóc cả thịt

Lấy máu hồng giải khát kẻ thế nhân

Đức hy sinh chấn động cả đất trời

Thử hỏi mấy ai là người chẳng biết.

Sau tiếng nói huyền bí ấy, bỗng nhiên nước lũ từ đâu trỗi dậy, sóng cuộn dâng trào biến thành một trận đại hồng thuỷ cao hơn ngàn trượng, khiến bao nhiêu binh ma tướng quỷ đều bị dòng nước cuốn trôi không phương cứu vãn. Đến voi thần Grimerhala cũng không thể đứng yên. Trong một phút hoảng hốt, nó nhảy dựng lên làm Ma Vương mất thăng bằng rớt khỏi lưng tượng.

Thấy tình thế vô cùng khẩn trương, nguy ngập, Ma Vương không dám chần chờ, lập tức chắp tay nghiêng mình đảnh lễ Bồ Tát để xin Ngài mở lượng từ bi cứu độ. Sau lời sám hối của Ma Vương, nước tự nhiên rút cạn, trời tạnh mây quang, mừng ngày Bồ Tát cảm thắng Ma Vương, đức trùm tam giới.

Với tất cả lòng thành quy ngưỡng, Ma Vương bèn đọc câu kệ tán dương Bồ Tát:

Namo te purisàjañña

Namo te purisuttama

Sadevakasmiṃ lokasmiṃ

Natthi te patipuggalo

Tuvaṃ Buddho Tuvaṃ satthà

Tuvaṃ màràbhibhù muni

Tuvaṃ ansaye cheko

Tinno tàresi maṃ pajam.

“Kính bạch đức siêu nhân, ngài là bậc vô thượng sĩ, trong tam giới chẳng ai bì được, ngài là Phật, là thầy, là đấng minh triết đã cảm thắng được Ma Vương, đã sáng suốt tiêu trừ các pháp trầm nịch, đệ tử kính nể ngài, xin ngài cứu độ đệ tử và chúng sanh.”

Sau khi hàn phục Ma quân, Bồ Tát ngồi lặng lẽ trong Thiền Định. Vào khoảng canh hai, Ngài chứng được Túc Mạng Minh, thấy biết nghiệp nhân của mình và tất cả chúng sinh, nhiều đời về trước, từ việc làm lành, làm dữ, cha mẹ quyến thuộc, giàu nghèo, thọ yểu, xấu đẹp, cho đến mỗi đời tên họ là gì, đều biết rành rẽ. Đến nửa đêm, Ngài chứng được Thiên Nhãn Minh, thấy rõ ba cõi sáu đường, những cảnh giới, hoặc an vui hoặc nhơ khổ, chúng sanh hoặc chánh niệm hoặc tà niệm, rõ ràng như nhìn vào trong gương.

Đến lúc sao mai vừa mọc, Ngài chứng được Lậu Tận Minh, dứt sạch phiền não, rõ hết đầu đuôi nghiệp duyên, tâm thể lặng yên sáng suốt. Bấy giờ Ngài đã thành Phật. Nội dung của sự giác ngộ chân chính này, có thể giải đáp vấn đề nhân sinh một cách dứt khoát, rốt lý. Trước kia, Ngài thắc mắc về hai vấn đề quan trọng:

1.      Già, bịnh, chết và tất cả sự ràng buộc khổ não của kiếp người do đâu mà có.

2.      Làm thế nào để giải thoát những khổ não ấy.

 

Và đây là lời giải đáp:

1.      Do Vô Minh làm mê mờ bản thể, rồi từ Hành Động vô minh tạo Ý Thức, Ý Thức phân biệt Danh Sắc, Danh Sắc biến thể Lục Nhập, Lục Nhập sanh ra Tiếp Xúc, Tiếp Xúc thì phải Thọ Nạp, Thọ Nạp thì phải có Ái, tức sự ưa thích thèm khát không ngừng nghỉ, Ái thì phải có Thủ, tức sự ôm cứng không chịu buông rời, có Thủ thì phải có Hữu, tức có Nghiệp, có Uẩn, có Nghiệp, có Uẩn thì có Sanh, có Tử.

2.      Muốn được giải thoát phải có chánh kiến diệt trừ phiền não, trở về bản tánh trong sáng, tức là phải tu theo con đường Bát Chánh và nhờ đó chúng ta mới đủ khả năng giác ngộ, diệt lần từ Hữu, Thủ, Ái, Thọ, Xúc, Lục Nhập, Danh Sắc, Thức, Hành, và Vô Minh.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát tự giải phóng toàn diện khỏi sự kiềm hãm của phiền não từ thô sơ đến vi tế. Nghĩa là Ngài thật sự giác ngộ, thành bậc chánh đẳng chánh giác. Những bí ẩn của vũ trụ tạo hoá Ngài đều khám phá được tất cả. Để tự tán dương thành quả giác ngộ, sau 20 A Tăng Kỳ và 100 ngàn đại kiếp khổ công tu luyện, đức giáo chủ ứng khẩu:

Anekajàti saṃsàraṃ

Sandhàvissaṃ anibbisaṃ

Gahakàraka diṭṭhosi

Puna gehaṃ na kàhasi

Sabbà te phàsukà bhaggà

Gahakùtaṃ visankhataṃ

Visankhàragataṃ cittaṃ

Tanhànaṃ khayamajjhagàti.

Trong vô số lượng kiếp, khi Như Lai còn lặn lội tìm kiếm anh thợ cất nhà thì sự sanh đã khiến Như Lai đau khổ không ngừng. Này anh thợ[2], nhà ngươi đã bị Như Lai khám phá ra rồi, đứng hòng cất nhà cho Như Lai được nữa, sườn nhà và nóc nhà đã bị Như lai phá vỡ và triệt hạ, tâm Như Lai hoàn toàn vô hành, vô nhiễm.

Sau khi thành Phật, tuần thứ nhất Ngài toạ vị bất động trên bồ đoàn để an hưởng Phật quả; tuần thứ hai Ngài đứng yên lặng không nháy mắt nhìn cây bồ đề, nơi mà Ngài nhờ nó che mưa đỡ nắng; tuần thứ ba, Ngài qua hướng bắc cây bồ đề và đi kinh hành trên con đường trải cát do chư tiên trong một muôn thế giới sa bà làm ra để cúng dường đức Phật; tuần thứ tư, Ngài ngự trong ngôi nhà ngọc hướng tây bắc của cội bồ đề để suy gẫm những pháp môn tu hành mà Ngài đã tri kiến; tuần thứ năm, Ngài ngồi xếp bằng dựng một chân để quy ngưỡng tất cả pháp thành mà Ngài đã ngộ nhập; tuần thứ sáu Ngài ngồi trên bờ hồ Muccalinda lúc mưa to, gió lớn nổi lên, Long Vương ở hồ này hoá ra bảy đầu, dùng thân che mưa gió cúng dường Ngài; tuần thứ bảy, Ngài đến cội cây Ràiàyatana ngồi thiền định.

Thoạt tiên, Đức Thế Tôn ngồi lặng yên không thuyết pháp, bởi nghĩ Phật Đạo nhiệm màu, chúng sanh khó lãnh hội. Song vì lòng từ bi sâu rộng, Ngài lại nhận lời thỉnh cầu của Trời Phạm Thiên, quyết theo gương chư Phật quá khứ, dùng vô số phương tiện hướng dẫn các loài hữu tình vào cảnh giới tự chứng của chư Phật. Thực hiện ý định ấy, Ngài bắt đầu chu du truyền đạo, mở màn là bài chuyển pháp luân tại vườn Lộc Giả, xứ Bàrànasi nhằm khai thị năm thị giả cũ của Ngài là nhóm Kiều Trần Như.

Suốt bốn mươi lăm năm dấn thân dạy đạo, Ngài tích cực phục vụ tối đa cho quyền lợi thực tế nhân sinh và quyền lợi giác ngộ của mọi loài, Ngài hiến dâng cuộc đời trọn vẹn cho chí nguyện lợi tha rộng lớn.

 

 

֞֞֞֞֞

 

 

NIẾT BÀN

Giờ đây Đức Phật đã già, tuổi đã tám mươi sức lực cũng suy mòn theo năm tháng. Tuy vậy, Ngài vẫn tinh tiến tiếp tục hạnh nguyện của đấng Như Lai. Một hôm, cùng với hàng tỳ kheo đệ tử khoảng độ năm trăm vị, Ngài hành trình cực khổ đến xứ Veluva và tạm nghỉ trong vườn xoài của một thiện nam tên Cunda. Người này gặp Phật xiết nỗi vui mừng, bèn cung thỉnh Ngài và tăng chúng về nhà cúng dường trai phạn. Sau buổi ngọ trai, Ngài bị chứng kiết lỵ. Bịnh tình dây dưa có mòi trầm trọng, Ananda lấy làm lo ngại cho sức khoẻ của Ngài. Trong lúc cơn bịnh hoành hành, Ngài vẫn đủ sáng suốt, bình tĩnh và suy nghĩ: Chẳng còn bao lâu nữa, với tuổi già chồng chất, Như Lai phải viên tịch Niết Bàn, phần giáo lý giải thoát đại khái Như Lai chưa có dặn dò, và các hàng môn đệ thánh chúng rải rác bốn phương chưa được gặp mặt Như Lai lần cuối, nên Ngài liền dùng bốn pháp thần túc chế ngự bịnh căn và chỉ nội buổi chiều hôm ấy, Ngài đã hoàn toàn bình phục.

Thấy Ngài khỏi bịnh, Ananda vô cùng hoan hỉ, bèn đến gần bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử thấy Đức Thế Tôn bịnh nhiều nên lo ngại quá, nay thấy Đức Thế Tôn bình yên đệ tử thật hết sức vui mừng và Đức Thế Tôn có điều chi chỉ dạy chúng tăng. Phật dạy: Theo tương truyền Phật hạnh thì chư Phật quá khứ tổ chức tăng hội đủ ba lần, riêng Như Lai thì chỉ hội một lần thôi. Không còn bao lâu nữa đến rằm tháng giêng âm lịch, Như Lai sẽ đi đến thành Vương Xá, tạm nghỉ tại nền tháp Pàvà và sau đó sẽ trực chỉ kinh đô Kusinàrà. Này Anan, còn thân Như Lai có khác nào xe cũ, muốn xài thì phải sửa chữa cũng như Như Lai nhờ có pháp tứ thần túc nên có thể sống lâu từ một kiếp đến nhiều kiếp, đều được tự tại, nếu muốn. Phật có ý nói, nếu có người thỉnh cầu thì Ngài có thể dùng bốn pháp thần túc để duy trì mạng sống thêm được một thời gian lâu nữa, tối thiểu cũng một kiếp trái đất. Nếu lúc trước thì Đại Đức Ananda hiểu ý Ngài ngay, song hôm ấy vì Ma Vương ám ảnh nên Ananda không hiểu chi hết. Thấy vậy, Đức Phật dạy: Này Ananda, người đã thấm mệt rồi nên đi nghỉ cho lại sức.

Vâng lời, Ananda bèn đi nghỉ thật. Lúc bấy giờ, Ma Vương mừng lắm, lập tức hiện đến nhắc lại lời yêu cầu thỉnh Phật Niết Bàn của mình lần trước lúc Ngài vừa mới thành Phật, hôm nay, một lần nữa, đến thỉnh cầu Ngài nhập diệt vì sứ mạng hoằng pháp độ sinh đã viên mãn.

Không khước từ; Đức Phật dạy: Này Ma Vương, người hãy yên lòng. Ba tháng nữa kể từ rằm tháng giêng, Như Lai sẽ nhập vô dư Niết Bàn. Đức Phật hứa dứt lời thì đất, nước, núi, rừng đều rung động như báo hiệu một điều chẳng lành, như nài nỉ thỉnh cầu Ngài ở lại. Thấy điều lạ, Ananda kinh sợ vô cùng, lập tức đến bạch hỏi Phật cho tường hung cát.

Phật cho biết là Ngài đã hứa lời với Ma Vương, định kỳ ba tháng nữa sẽ nhập Niết Bàn. Ananda nghe như đứt từng đoạn ruột, bèn thiết tha khẩn khoản xin Ngài nới rộng thời gian. Phật dạy: Không thể được đâu Anan, vì một lời Phật hứa thì không thể đơn sai biến dịch.

Sau đó Đức Phật và các hàng đệ tử lên đường trực chỉ Vương Xá (Ràjahaha). Đến nơi Ngài và tăng chúng tạm nghỉ tại nền tháp Pàvà, cũng tại nơi này, Ngài truyền giảng Ovàdappàtimokkha tức giáo lý giải thoát trước 2500 chúng thiện lai tỳ kheo[3] tất cả đều là thánh tăng La Hán không hẹn không mời, tự động từ bốn phương vân tập về không sau không trước.

Vì chủ đích Đức Phật sẽ tịch diệt tại vườn thượng uyển của vua Malla xứ Kusinàsà (câu thi ma yết ba) nên Ngài tiếp tục cuộc hành trình qua miền bắc, trải qua nhiều thị trấn làng xóm, chùa chiền, cuối cùng Ngài đến địa điểm đã định.

Vào vườn thượng uyển, Phật dạy Anan trải y tăng dà lê lên tản đá dưới đôi cây sàlà giao cành mát mẻ, Ngài nằm nghiêng tay mặt, đầu quay hướng bắc, mặt ngó về tây và dạy Anan mau lên đường tâu với nhà vua để Ngài được nằm tại đây lần chót.

Tiếp được ai tin, nhà vua và bá quan trào thần văn võ sắm sanh lễ vật theo gót đại đức Ananda, đến ngay vườn thượng uyển để đảnh lễ và vấn an Đức Phật. Còn chi đau đớn cho đức vua bằng, vì đức vua vốn rất mộ Đạo và sùng kính Đức Như Lai. Những tưởng trên bước đường hoàng pháp lợi sinh của Đức Phật, nhà vua sẽ có dịp hạnh ngộ cùng Ngài, nào ngờ ngày tái ngộ lại là ngày vĩnh biệt. Đêm về khuya, chư phàm tăng và hàng thiện nam tín nữ đều không cầm được nước mắt, nhất là Đại Đức Ananda khóc than, kể lể nhiều hơn hết.

Nghe Ananda khóc than thảm thiết, Đức Phật liền cho gọi vào và để lời khuyên nhủ. Này Anan hỡi, ngươi chớ quá thường tình bi luỵ, Như Lai đã chẳng nói từ lâu với ngươi rằng, các pháp hành đều vô thường chuyển biến hữu sanh hữu diệt là lẽ tất nhiên hay sao, Anan hãy cố gắng quán thân bất tịnh, quán pháp vô ngã để tự chế chỉ, chớ nên để phiền não lung lạc. Công đức phụng sự Tam Bảo và phục dịch Như lai của người sẽ mãi mãi sống với lịch sử và thời gian, vì công đức vô lượng ấy rất hiếm người làm được. Mặc dù hiện tại ngươi chưa đắc đạo nhưng sau khi Như Lai tịch diệt ba tháng thì chúng tăng sẽ triệu tập đại hội kết tập tam tạng giáo điền mà Như Lai đã thuyết dạy suốt bốn mươi lăm năm ròng rã, chừng đó chắc chắn ngươi sẽ được chứng quả La Hán.

Phủ dụ Anan xong, mặc dù đã kiệt sức mòn hơi, trong giây phút cuối cùng, Đức Thế Tôn vẫn tỏ ra xứng đáng, khả kính và gương mẫu. Ngài cho gọi các hàng tỳ kheo đến và trối:

Handadàni bhikkha ve

Àmantayàmivo

khạyavayadhammà sankhàrà

Appamàdenasampàdetha.

“Này các thầy Tỳ kheo, lần chót Như Lai khuyên nhắc các thầy, các pháp hành đều vô thường, hữu sinh, hữu diệt là định luật, các thầy chớ nên quên mình, dể duôi, dãi đãi, sự cúng dường Như Lai cách cao thượng nhất là tuyệt đối thực hành đúng theo giáo lý giải thoát mà Như Lai thuyết dạy”.

Quá xúc động với lời trăn trối của Đức Từ Phụ, tất cả phàm tăng đều oà lên khóc, riêng các bậc Thánh Tăng thì nhờ tập trung thiền quán vào ba tướng vũ trụ: vô thường, khỗ não, vô ngã nên khắc phục được thất tình lục dục.

Lúc ấy, Anan cúi đầu bạch hỏi:

Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Đức Thế Tôn tịch diệt, chúng đệ tử phải lấy ai làm thầy?

Phật dạy: Phải lấy giới luật làm thầy.

Anan bạch hỏi thêm: Bạch Đức Thế Tôn, về nghi lễ tang liệm Thánh Thể, chúng đệ tử phải làm thế nào?

Phật dạy, nên làm theo nghi lễ một vị Đại Vương, nghĩa là lấy vải trắng bọc nhiều lớp, rưới nước hoa khắp cả trong ngoài, liệm Thánh Thể vào kim quan và sau đó nên hoả táng. Còn phần tro tàn, xương sót thì nhặt góp cho vào tháp tôn thờ, để làm nơi chiêm ngưỡng công cộng.

Sau khi căn dặn đủ điều, Đức Thế Tôn bèn nhập từ sơ thiền đến Diệt Thọ Định; rồi xuất Diệt Thọ Định lần xuống đến sơ thiền và cứ như thế, nhập Thiền, xả Thiền chín lần thuận, chín lần nghịch, đến lần cuối cùng Ngài nhập vào sơ Thiền rồi Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền và Niết Bàn ở nơi đó. Lúc ấy, trời vừa rạng đông đúng rằm tháng tư năm Tỵ, nhằm ngày thứ ba.

Tin đức Giáo chủ nhập diệt truyền đi mau không tưởng tượng, từ miệng người này sang miệng người khác, làng nọ qua làng kia, tỉnh gần đến tỉnh xa, quốc gia nhỏ đến quốc gia lớn, hàng hàng lớp lớp đều gởi xứ giả đến phân ưu, hoặc bằng đường bộ, đường thuỷ, bằng ngựa, bằng voi hoặc bằng xe bò, xe lừa từ trăm ngàn nẻo đường lũ lượt kéo đến chia buồn cùng tăng chúng và đức vua Malla.

Còn chư thiên trong khắp cõi sa bà đều đem nhau đến chật cả không gian để tưởng niệm, cúng dường tỏ lòng thương tiếc. Hoa mạn thù từ trên trời do chư Thiên rải cúng dường rơi xuống như mưa khiến vườn thượng uyển như trải hoa phủ đất.

Nội nhựt hôm ấy, Thánh Thể Đức Thiên Nhơn Sư được hoàng gia Malla cung nghinh về triều hành lễ. Suốt bảy ngày, từ 15 đến 21, kinh đô Kusinàrà người ta đen như kiến cỏ. Cờ trắng tung bay rợp trời, biểu hiện một mùa tang tóc! Vì là mùa đại tang, nên chẳng những dân chúng xứ Kusinàrà mà các nước lân bang cũng đều thọ tang vô cùng kính cẩn.

Sau bảy ngày lưu hoàn Thánh Thể, hôm nay là ngày hoả táng. Đức vua và bá quan trào thần văn võ đều mặc tang phục, đau đớn cung nghinh kim quan ra khỏi thành nội, hướng về hướng bắc. Tại đây, một hoả đài vô cùng vĩ đại, trang nghiêm đã được thiết lập từ trước. Kim quan được cung nghinh đi ba vòng rồi mới đem an vị trên hoả đài.

Mặc dù đại lễ châm hoả đã cử hành một cách chu đáo và trọng thể, thế nhưng lửa vẫn không bắt cháy. Trong lúc chư Tăng cũng như Hoàng Gia và đại chúng đang hoang mang lo sợ thì bỗng đại đức Ca Diếp và 500 vị Tỳ kheo từ xa vừa về đến. Tất cả đồng chắp tay đi quanh kim quan ba lần và phủ phục đảnh lễ phía chân Đức Phật. Lúc ấy, một sự linh ứng nhiệm màu phát hiện, hai bàn chân Đức Phật tự động ló ra khỏi kim quan như dụng ý an ủi đại đức Ca Diếp và 500 vị Tỳ kheo về trễ.

Sau khi đại đức Ca Diếp rờ chân và đảnh lễ xong thì hoả đài tự nhiên phát hoả. Thế là một lần nữa, tiếng khóc lại vang lên khiến cho trời sầu đất thảm. Trong không gian không qua một tiếng động nhỏ. Vũ trụ cũng đồng mặc niệm Đức Thiên Nhơn Sư vĩnh biệt cõi đời bằng sự tuyệt đối im lặng ấy.

 

 

KẾT LUẬN

Sự ra đời của Đức Phật quả thật cần thiết như sự hiện hữu của mặt trời. Mặt trời chỉ hữu dụng giới hạn bởi không gian, địa phương, và chỉ phương tiện hoá nhu cầu đời sống vật chất. Còn sự hiện hữu của chư Phật thì lợi lạc chứ không phải hữu dụng. Sự lợi lạc ấy diệu dụng qua hai lĩnh vực sống: vật chất và tâm linh. Về sự lợi lạc của vật chất chúng ta có thể nhận thức qua kinh Singàlovàdasutta (Thi Ca La Việt). Trong kinh này, Đức Phật dạy cách xử thế, duy trì và phát triển hạnh phúc gia đình và hạnh phúc xã hội.

Về sự lợi lạc của tâm linh thì chúng ta có thể tri kiến qua pháp môn tu Thiền định và Minh sát. Những pháp môn này sẽ công khai thông dòng suối đạo, quả và dẫn nhập Cứu Cánh Niết Bàn.

Vả lại, một đại sự nhân duyên khiến Phật ra đời là “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến” cũng đủ minh thị cho sự lợi lạc tâm linh vừa kể.

Chính vì những nhân duyên trọng hệ ấy mà Đức Phật đã phải ra đời như một hiện hữu khả quyết. Chẳng những cuộc sống tâm linh của loài người được khai thị mà cả Thiên, Ma, Càn Thát Bà, Long Vương, Dạ Xoa, Súc Sinh, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục cũng đều được khai thị ít nhiều tuỳ duyên, tuỳ phước.

Cái thực tế vô cùng đơn giản của Phật là muốn khai thị chúng sanh, chính Ngài trước tiên phải chứng minh khả năng giác ngộ khả hữu của mình, nên Ngài cũng phải trải qua cuộc sống trần tục: vợ, con, lợi danh và quyền lực. Ngài hưởng thụ tất cả để rồi thoát ly tất cả. Từ con người phàm phu tục tử bước lên địa vị một bậc vĩ nhân siêu phàm, từ tâm trạng vương mang nghiệp quả bước sang giai đoạn tiêu căn trừ nghiệp, từ nơi bùn lầy hôi thúi của phiền não thuỵ miên Ngài vươn mình lên đón lấy ánh sáng giác ngộ là tiêu biểu cho mẫu người của Ngài.

Để thực hiện tâm lý ấy, Ngài đã bỏ lại tất cả, bỏ những ngày vàng đêm ngọc, bỏ những cung nữ diễm kiều, cắt đứt tình thương của phụ hoàng, gỡ cánh tay luyến ái của hiền thê và gạt lệ giã biệt đứa con thơ mới mở mắt chào đời, dấn thân khổ hạnh và cuối cùng thành Phật. Ngài đã chứng minh khả năng giác ngộ bằng công trình giác hạnh viên mãn nhằm mục đích lái thuyền bát nhã độ khách trầm luân. Sự nghiệp của Ngài là Từ Bi và Trí Tuệ. Ngài thừa hưởng tất cả sự nghiệp ấy qua truyền thống quan hệ đồng thể và tương tức của chư Phật và cũng để lại cho chúng sinh tất cả sự nghiệp ấy.

Suốt đời, Ngài chưa bao giờ cầu an, hưởng thụ. Châm ngôn của Ngài là “Như Lai không bao giờ dừng nghỉ vì dừng nghỉ là thoái hoá mà thoái hoá thì không đủ năng lực để vượt qua bốn hầm trầm nịch[4]”.

Cuộc sống của Ngài lợi lạc nhiều thì cuộc viên tịch của Ngài cũng lợi lạc không ít. Ngài viên tịch để lại tấm gương hy sinh cao cả, một rừng giáo điển hữu ích, thích nghi, một lối sống tình người mở rộng và mở mùa cho sự giác ngộ đích thực là cứu cánh Niết Bàn.

 

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1]  10 Pháp Ba La Mật nhơn cho ba bậc: bờ kia, bờ trên và bờ cao thượng.

[2] Lòng ái dục, thèm khát, mong muốn.

[3]  Ehibhikkhu nghĩa là do duyên lành nhiều kiếp, Phật chỉ gọi thiện lai tỳ kheo là liền có y bát đầy đủ, râu tóc nhẵn nhụi khỏi phải cạo gọt mua sắm.

[4] Kāmogha: hầm tham ái, Bhavogha: hầm hiện hữu, Ditthogha: hầm tà kiến, Avijjogha: hầm vô minh

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang