" />
phatgiaonguyenthuy.com
xuan2017

 Q-R-S-T

Tập tục Phật giáo trong đời sống hằng ngày

Ngày đăng tin: 2 tuần trước
(5/1)
Trong hầu hết các tôn giáo đều có những nghi thức, những buổi lễ để cho người tín đồ thực hành. Các nghi thức ấy nghiêng nhiều về phần tình cảm. Tuy nhiên ta phải thận trọng, không nên để quá thiên về cung cách bề ngoài, vì như thế có thể bị phần cảm xúc lấn át, ám ảnh và lôi cuốn vào nguy tai có thể trở thành nạn nhân của sự lãng mạn yếu mềm.
Tập tục Phật giáo trong đời sống hằng ngày


 

Piyadassi Thera

 

 

TẬP TỤC PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

(Buddhist Obervances and Practices)

 

 

Phạm Kim Khánh dịch

 

--

16-7-1970

------------

MỤC LỤC

QUAN ĐIỂM... 4

KHÔNG CÓ TRUNG GIAN.. 5

TƯỢNG PHẬT. 6

DÂNG HOA.. 7

LỄ CƯỚI THEO PHẬT GIÁO.. 7

CÂU CHUYỆN CỦA NAKULAPITᾹ VÀ NAKULAMᾹTᾹ.. 8

TANG CHAY.. 9

GIỜ LÂM CHUNG.. 10

TỐNG TÁNG VÀ TRÀ TỲ.. 12

GIÁ TRỊ CỦA KINH PARITTA.. 12

QUYỂN SÁCH PARITTA HAY LÀ SÁCH BẢO VỆ.. 15

 

 


 

Trong chuyến Châu du hoằng Pháp tại Việt Nam lần thứ mười lăm này, Đại Đức Nārada Mahā Thera không may lâm trọng bệnh.

Một môn đệ Ngài là Đại Đức Piyadassi Mahā Thera sang thăm, có đem theo một quyển sách nhỏ tựa đề “Buddhist Observances and Practices” do nhà xuất bản Phật Giáo, Buddhist Publication Society, ấn hành dưới số B.L.48.

Một nhóm đệ tử Việt nam của Đại Đức Nārada nhân cơ hội, cố gắng, trong năm ngày, vừa phiên dịch ra Việt ngữ vừa ấn hành cho kịp ấn tống vào buổi thuyết Pháp để hồi hướng phước báu đến thầy tổ của Đại Đức Piyadassi tại Kỳ Viên Tự ngày 16/7/1970 (nhằm ngày 14 tháng 6 âm lịch).

Nay công đức đã thành tựu viên mãn.

Chúng tôi thành kính dâng quả phúc do Pháp thí này đến Đại Đức Nārada Mahā Thera, ước mong bệnh tình Ngài sớm được bình phục và tuổi thọ Ngài được tăng trưởng, hầu tiếp tục con đường hoằng Pháp, tế độ chúng sanh.

Chúng tôi cũng chân thành kính dâng công đức nhỏ mọn này, cùng với lòng tri ân sâu xa, đến:

Giáo sư Trần Lữ Y, vị bác sỹ lỗi lạc, Trưởng Khu Nội Khoa, của Trung tâm Thực nghiệm Y khoa Gia Định.

Soeur Francoise

Đông đảo các bác sỹ, trong và ngoài Trung Tâm.

Các điều dưỡng viên, và các y công,

Đã tận tâm tận lực đưa Đại Đức Nārada qua khỏi cơn nguy kịch trầm trọng.

Do oai lực của Tam Bảo, ước mong các vị được an vui hạnh phúc trường cửu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Pháp thí là bố thí cao thượng nhất

 

QUAN ĐIỂM

Phật giáo là một hệ thống rèn luyện có tính cách luân lý, tinh thần và trí thức, do Đức Phật GOTAMA công bố và ban hành. Phương pháp rèn luyện này không tuyệt đối nghiêng hẳn về lối sống tri thức hay thuần lý, cũng không hoàn toàn chuyên chú vào nghi thức lễ bái cúng dường, mà bao gồm cả hai sắc thái của đời sống con người – trí thức và tình cảm, tâm và trí.

Nhìn vào khía cạnh này, Phật Giáo không phải chỉ là một khảo sát triết học suông hay một giáo lý siêu hình bí hiểm và một không tưởng trừu tượng hợp lý, không chứa đựng giá trị thực tiễn nào – như một vài nhà phê bình quá vội vã đã lầm tưởng. Lối sống theo Phật Giáo, phương pháp của Phật Giáo để đạt đến chân lý tối thượng – thức tỉnh từ vô minh để dẫn đến Giác Ngộ hoàn toàn – không tùy thuộc ở sự hiểu biết thuần lý hay ở sự phát triển thuần túy trí thức mà tùy thuộc nơi một giáo huấn gồm cả hai phần, lý thuyết và thực hành, và sự phối hợp điều hòa của hai phần này sẽ dẫn dắt hành giả trên con đường giác ngộ và giải thoát cuối cùng.

Thái độ của Đức Phật đối với đời sống không phải chỉ có tính cách tinh thần không mà còn thực tiễn. Đó là sự chứng ngộ cái gì tốt đẹp và lợi ích. Đó là thái độ thích hợp để tạo một nền tảng luân lý toàn hảo và sự giải thoát tinh thần, gồm sự phát triển những cảm xúc tốt đẹp và sự đè nén, tiêu trừ những cảm xúc xấu xa. Phương diện cảm xúc cũng phải được trau dồi, mặc dầu riêng một mình, tình cảm không thể dẫn đến mục tiêu cuối cùng. Những xúc cảm tốt phải được pha lẫn với tri kiến chân chánh. Hiểu biết đúng và tình cảm tốt phải cùng nhau, tay cầm tay, dìu dắt đi chung.

Đến đây, ta thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa Giáo Pháp và Giới Luật (Dhamma và Vinaya) hay tri kiến và phẩm hạnh (Vijjā và Carana, minh hạnh), hai thành phần cấu tạo sự trưởng thành của một tiến trình. Cũng như ta dùng tay này để rửa tay kia, chân này để rửa chân nọ, phẩm hạnh thanh lọc trí tuệ và trí tuệ thanh lọc phẩm hạnh. (Digha Nikāya, bài kinh số 4).

Trong hầu hết các tôn giáo đều có những nghi thức, những buổi lễ để cho người tín đồ thực hành. Các nghi thức ấy nghiêng nhiều về phần tình cảm. Tuy nhiên ta phải thận trọng, không nên để quá thiên về cung cách bề ngoài, vì như thế có thể bị phần cảm xúc lấn át, ám ảnh và lôi cuốn vào nguy tai có thể trở thành nạn nhân của sự lãng mạn yếu mềm. Ta không nên đi đến mức cực đoan mà phải theo con đường ở khoảng giữa – Trung Đạo – mà Đức Phật đã giảng giải minh bạch, rõ ràng.

Ta nên luôn luôn để tâm ghi nhớ rằng Đức Phật không phải là một Thần Linh Tạo Hóa hoặc hiện thân của một Thần Linh hay một nhân vật siêu nhân. Ngài là người, một con người đã hoàn tất sự thành đạt tinh thần và trí thức cao thượng nhất. Tự mình thành đạt, không có sự hỗ trợ của một vị thầy, dầu ở cảnh Trời hay cảnh người. Ngài đã tiến đến mức thanh tịnh tuyệt đỉnh và đức hạnh toàn hảo nhất mà bản chất con người có thể đạt đến. Ngài là hiện thân của tâm Bi và Trí Tuệ (Karunā và Paññā) – hai yếu tố căn bản trong giáo lý. Kinh nghiệm bản thân, Ngài nhận định vị trí ưu tú của con người và nhận định rằng mọi thành đạt, mọi hoàn tựu mỹ mãn, cần phải có sức cố gắng và trí thông minh – tinh tấn và trí tuệ - của con người. Đức Phật không bao giờ có ý cho rằng mình là vị Cứu Tinh có thể cứu rỗi “linh hồn” bằng một tôn giáo thần khải.

 

 

KHÔNG CÓ TRUNG GIAN

Ta cũng có thể ghi nhận rằng đúng theo tinh thần Phật Giáo, không có một hành động được xem là “tội lỗi” bởi vì danh từ “tội” quả thật xa lạ đối với giáo lý của Đức Phật. Không thể có gì tương tự như lời nói “phạm luật của Đức Phật”, vì Đức Phật không phải là người ban hành sắc luật, là người trọng tài hay người độc tài chuyên chế, đứng ra trừng phạt hành động xấu và ân thưởng hành động tốt của chúng sanh. Người có hành động tốt thọ lãnh hậu quả tốt của chính hành động mình. Chúng sanh chịu đau khổ hay hưởng lạc thú là hậu quả dĩ nhiên của chính hành động mình và hành thiện hay hành ác chỉ là công chuyện riêng của mỗi người.

Lại nữa, các nhà sư Phật Giáo không phải là những giáo sĩ trung gian ban hành nghi lễ và cúng tế. Các vị không thể ân xá, không thể và không bao giờ hành động như trung gian giữa con người và những năng lực “siêu nhân” bởi vì Phật Giáo dạy rằng mỗi cá nhân phải riêng mình đảm trách nhiệm vụ giải thoát cho mình. Do đó không có sự cần thiết phải đi tìm ơn huệ của một giáo sĩ đứng trung gian.

“Chính các con phải kiên trì cố gắng, chư Phật chỉ là những người vạch ra con đường” (Pháp Cú Kinh, câu 276).

Con đường này vẫn là con đường xa xưa từ bao giờ, con đường mà tất cả chư Phật trong quá khứ đã noi theo và các Ngài đã chỉ dạy đầy đủ. Thái độ của Đức Phật đối với tín đồ cũng tựa hồ như thái độ của một ông thầy sáng suốt và bi mẫn đối với trò, hoặc của vị lương y đối với bệnh nhân. Do đó không cần phải có sự van lơn nguyện cầu một nguyên động lực ngoại lai để được giải thoát. Đó là quan điểm của Phật Giáo.

TƯỢNG PHẬT

Trong Phật Giáo có cái được gọi là Buddha Vandanā hay lễ bái cúng dường Đức Phật. Tuy nhiên, Đức Phật không có mặt để thọ lãnh lễ bái. Như vậy, tại sao lễ bái, quì lụy một người vắng mặt? Tại sao người Phật tử đi đến trước tượng Phật, cội bồ đề, tháp hay chùa hay một nơi thờ phượng tương tự để lễ bái và van vái? Ta có thể tự hỏi.

Đúng vậy, van vái hoặc lễ bái một vật vô tri vô giác quả thật vô lý. Đứng trước pho tượng Phật người Phật tử chỉ hồi nhớ lại những đặc tính vĩ đại của Ngài, của người lãnh đạo, vị tôn sư mình mà pho tượng ấy tiêu biểu. Lễ bái cao thượng nhất là sự lễ bái hướng về nhân vật toàn hảo nhất của nhân loại, những tinh thần vĩ đại và can đảm đã, do sự thấu đáo chân lý sâu sắc và rộng rãi nhất, đánh tan lớp vô minh và diệt tận gốc rễ những ô nhiễm trong tâm. Những vị chứng ngộ Chân Lý là những người thật sự có thể giúp ta. Nhưng người Phật tử không van vái hay cầu nguyện các vị ấy. Người Phật tử chỉ lễ bái vì tri ơn và tôn ngưỡng những vị đã khám phá chân lý và đã vạch ra cho chúng sanh con đường hạnh phúc và giải thoát.

Trong hành động lễ bái, chính người tín đồ thọ hưởng lợi ích. Tư tưởng, lời nói và hành động của người đang lễ bái trở nên trong sạch khi quán tưởng đến phẩm hạnh của Đức Phật và suy niệm về các phẩm hạnh ấy, tiếp nhận nguồn cảm hứng và sự hỗ trợ tinh thần để cố gắng vươn mình đến mức độ cao siêu của Đức Bồn Sư. Đó là một đề mục tham thiền hữu ích.

Chúng ta quý trọng người quá vãng. Tại sao người ta đặt vòng hoa trước đài chiến sĩ trận vong? Tại sao người ta hãnh diện dành một chỗ xứng đáng trên tường để treo hình ảnh cha mẹ hoặc thân bằng quyến thuộc quá vãng. Có phải tại người ta tôn kính cái hình hay cái khuôn không? Chắc không phải vậy. Người ta quý trọng và tôn kính tấm hình vì nó tiêu biểu người quá vãng. Vậy người Phật tử đến gần pho tượng Phật – là một đề mục tham thiền – và tưởng niệm đến thầy với lòng ngưỡng mộ tôn kính. Như vậy có thể gọi là lễ bái vô ích những thần tượng chăng?

Tuy nhiên, phải ghi nhận rằng những hình thức tượng trưng bề ngoài ấy không phải là cần thiết lắm đối với những cá nhân đã phát triển đến mức độ cao. Những người này có thể hình dung sự vĩ đại của Đức Phật mà không cần phải có một pho tượng ở trước mặt mặc dầu tượng trưng này thực sự cần thiết và lắm khi chánh yếu trong trường hợp những người tâm trí chưa được mở mang đúng mức.

Tuy nhiên, không phải chỉ có hạng người giàu xúc cảm mà chí đến các nhà trí thức và các tư tưởng gia trứ danh cũng tiếp nhận được nguồn cảm hứng từ pho tượng Phật.

Trong tiểu sử tự thuật của mình, JAWA-HARLAL NERHU viết:

Tại Anuradhapura (Tích Lan), tôi rất thích một pho tượng Phật ngồi. Một năm sau, lúc tôi ở Dehra Dun Gaol, một người bạn Tích Lan gởi đến tôi bức ảnh chụp pho tượng ấy. Tôi giữ bức này trên cái bàn nhỏ trong sà lim và nó trở thành người bạn cùng phòng quý báu của tôi. Dáng điệu oai nghi và vô cùng thanh tịnh của pho tượng thoa dịu lòng tôi, cho tôi thêm năng lực và giúp tôi lướt qua khỏi giai đoạn tinh thần sụp đổ (An auto biography, John Lane. The Bodley Head, London, trang 271).

Bá tước Kayserling viết trong quyển Travel Diary of a Philosopher:

“Trên thế gian này tôi không biết cái chi vĩ đại hơn là dung nhan của Đức Phật. Đó là hiện thân toàn hảo của tinh thần trong phạm vi hữu tình.”

           

 

DÂNG HOA

Trong các quốc gia Phật Giáo, người ta thường thấy những thiện tín, cả già lẫn trẻ và chí đến những em bé, đem hoa đến dâng Đức Phật hoặc một vật để lễ bái cúng dường tương tự, đốt lên một ngọn đèn dầu hoặc thắp nén hương lễ Phật. Những em bé lấy làm thỏa thích đi hái bông, đem về chọn lọc và sắp sửa đàng hoàng trước khi dâng lên Đức Phật. Trong khi học thưởng thức sắc thái thẩm mỹ của sự vật, các em cũng học bài học quảng đại khoan hồng một cách tự nhiên và trên tất cả, các em học tôn kính Đức Phật, vị Tôn Sư, Phật Pháp, giáo lý của Ngài và Tăng Già, những nhà truyền bá giáo lý ấy.

Bây giờ, khi dâng hoa hoặc thắp đèn và suy niệm về phẩm hạnh cao cả của Đức Phật, người Phật tử không có van vái hay cầu nguyện ai hết. Đó không phải là nghi lễ hay hành động sùng bái. Những cành hoa sớm tàn và những ngọn đèn đang lụi dần nói lên cho họ tính cách vô thường (anicca) của tất cả những vật hữu lậu tại thế. Tượng Phật giúp cho họ một đề mục để suy niệm, tham thiền. Lúc bấy giờ người thiện tín tiếp nhận nguồn cảm hứng và cố gắng thành đạt mức độ phẩm hạnh của Tôn Sư. Những người không biết ý nghĩa của sự cúng dường đơn giản này vội vã kết luận: đó là sùng bái thần tượng. Không có gì xa sự thật bằng.

 

 

LỄ CƯỚI THEO PHẬT GIÁO

Không có những nghi thức cưới hỏi trong Phật Giáo như ta có thể thấy trong các tôn giáo khác. Nhà Sư không phải là giáo sĩ thay mặt Thần Linh để ban truyền phép lành trong lễ cưới. Như vậy nhà sư không tham dự vào lễ cưới. Ở Tích Lan, những người còn thiết tha với tập tục cổ truyền thường mời một người cư sĩ, thường là một người lớn tuổi trong họ hàng, thông thạo về nghi thức cưới hỏi, để sắp xếp mọi diễn tiến của cuộc lễ và đọc những câu kinh có tính cách cảm xúc hướng về Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Trong vài lễ cưới, có một nhóm thiếu nữ ăn mặc quốc phục trắng, hợp lại đọc những câu kinh Pali như bài: Jayamangala Gāthā. Mô tả vài phẩm hạnh lỗi lạc của Đức Phật. Thông thường, vào hôm trước ngày chánh lễ, bên nhà gái thỉnh chư sư về trai tăng. Sau khi độ ngọ xong chư tăng đọc kinh, nhất là bài Mangala Sutta, Hạnh Phúc Kinh và một trong các vị sư thuyết một thời Pháp ngắn bằng lối kêu gọi, nhắc nhở, nêu lên những gương sống gia đình có hạnh phúc trong kinh điển Phật Giáo. Một trong những tấm gương lành thường được biết nhiều nhất là đời sống gia đình hạnh phúc của Nakulapitā và Nakulamātā (sẽ được thuật lại ở phần sau).

Và người Phật tử thích đến chùa, sau khi hành lễ ở nhà, để được nghe chư tăng đọc kinh Paritta tức là những bài kinh cầu an. Cặp tân hôn cũng được nghe những lời kêu gọi vắn tắt có liên quan đến nhiệm vụ của chồng đối với vợ và của vợ đối với chồng, như được giải thích trong kinh Sigāla Sutta.

Chư tăng tác hành nhiệm vụ tôn giáo mà không đòi hỏi gì. Phần người cư sĩ trái lại phải trông nom đến các nhu cầu của nhà sư là những người sống thật sự tùy thuộc nơi thiện tín cư sĩ về bốn vật dụng cần thiết là: y bát, vật thực, chỗ ở và thuốc men.

Không có lễ cưới, cũng không có sổ sách để ghi nhận các lễ cưới trong chánh điện, trong các chùa hay tu viện.  

 

 

CÂU CHUYỆN CỦA NAKULAPITᾹ VÀ NAKULAMᾹTᾹ

Kinh điển Phật Giáo có ghi nhận hai diễn biến đặc biệt nổi bật, chỉ rõ niềm tin tuyệt đối vững chắc và tình thương trong sạch giữa cặp vợ chồng có thể dẫn đi xa đến đâu.

Nakulapitā và Nakulamātā là một cặp vợ chồng sống vào thời Đức Phật Gotama. Khi Đức Bổn Sư đến viếng nhà của ông bà, cả hai đồng cung kính đến gần Ngài và ông Nakulapitā bạch:

“Kính bạch Đức Thế Tôn, lúc cưới Nakulamātā về, chúng con còn rất trẻ. Bạch Đức Thế Tôn, từ lúc ấy đến nay, không có lần nào con đối đãi kém thanh nhã với nàng, dầu trong tư tưởng. Trong hành động lại càng ít. Bạch Đức Thế Tôn, chúng con thiết tha mong muốn được cùng sống với nhau chẳng những trong kiếp hiện tại mà còn trong kiếp sắp tới nữa.”

Rồi bà Nakulamātā cũng đến bạch Đức Phật với những lời lẽ tương tự. Đức Phật dạy:

“Nếu cả hai vợ chồng đều muốn cùng sống với nhau trong kiếp hiện tiền và kiếp sắp đến, nếu cả hai đồng đều bằng nhau trong niềm tin (saddhā), giới hạnh (sīla), lòng quảng đại (cāga) và trí tuệ (paññā), chừng ấy cả hai sẽ cùng nhau sống chung trong chính kiếp này và cả trong kiếp sống sắp đến (Anguttara Nikāya, trang 61).

Một diễn biến khác cũng được ghi lại trong kinh Anguttara Nikāya, phần 3, trang 295, thuật lại một lần nọ Nakulapitā lâm bệnh trầm trọng. Bà vợ là Nakulamātā đến bên cạnh giường, dịu dàng nhắc lại bao nhiêu đức tính trong sạch của chồng và an ủi Nakulapitā chớ lo âu sầu muộn hay nghi hoặc điều chi. Bà khuyên chồng không nên nuôi dưỡng trong lòng những tư tưởng chỉ làm bận rộn tâm trí và do đó hao mòn sức khỏe.

Khi Nakulapitā được khuyên nhủ và an ủi như thế thì bệnh tình ông dần dần thuyên giảm. Vậy, nhờ bàn tay đầy thiện chí và tấm lòng đầy tình thương của bà vợ Nakulapitā thoát khỏi bệnh. Một ngày nọ, tay chống gậy, ông lần mò đến lễ Phật. Nhân cơ hội này đức Phật tán dương phẩm hạnh của Nakulamātā như sau:

“Này con, con có rất nhiều phước lành được một người hướng dẫn và một vị thầy như Nakulamātā, vợ con. Đối với con nàng có một tấm lòng bi mẫn rất trong sạch và rất nhiều thiện chí”.

Kinh sách ghi rằng về sau hai ông bà đều đắc quả thánh và được Đức Phật đặt vào hàng lãnh đạo.

 

 

TANG CHAY

Nghi thức tang chay trong hàng Phật tử, cũng như lễ cưới, rất là giản dị và kinh sách cũng không có khởi thảo dài dòng. Khi một người Phật tử mạng chung, thân quyến thỉnh các vị sư về nhà hoặc đến nghĩa địa để tác hành nghi lễ. Trước hết, chư Tăng đọc kinh cúng Tam Bảo (tisarana) và thọ ngũ giới (pañcasīla). Kế đó, thân quyến (cha mẹ hoặc con cái) dâng vải trắng đến các Ngài và hồi hướng phước báu đến người quá vãng như sau:

Idam me ñātīnam hotu

Sukhitā hontu ñātayo

“Xin hồi hướng công đức này đến thân quyến tôi,

Ước mong các người được an vui và hạnh phúc”.

Vừa đọc như thế vừa rót nước vào một cái ly hay cái chén không cho đến lúc nước đầy tràn, một động tác tượng trưng, tiêu biểu cho sự viên mãn. Lúc bấy giờ chư Tăng cùng nhau đọc câu kinh đặc biệt, thích hợp với cảnh ngộ:

Aniccā vata samkhāra

Usppāda vaya dhammino

Uppajjitva nirujjhanti

Tesam vupasamo sukho

Tất cả các vật hữu lậu đều vô thường

Phát sanh và diệt hoại. Đó là bản chất của tất cả.

Sanh ra làm chúng sanh rồi ra đi.

Thoát ra khỏi vòng sanh tử là hạnh phúc tối thượng”.

Sau khi đọc kinh xong, một trong các sư thuyết một thời Pháp vắn tắt nhấn mạnh đến tính cách vô thường của tất cả các pháp tại thế - cái chết đến với mọi người và chấm dứt thời gian ngắn ngủi của đời sống này.

Qua ngày thứ sáu, thân quyến lại thỉnh một vị sư đến nhà người quá vãng trong một buổi tối để thuyết pháp. Theo lệ thường, bài Pháp đề cập đến hai đặc tính vô thường và khổ não (anicca và dukkha) hai thực tại dính liền nhau của kiếp sinh tồn và cũng là bản chất của tấn kịch sanh và tử. Thân bằng quyến thuộc tề tựu tại nhà người quá vãng để nghe Pháp.

Ngày hôm sau (ngày thứ bảy) thân quyến lại thỉnh sư về trai tăng tại nhà để hồi hướng phước báu đến người quá vãng. Đến cuối tháng thứ ba, phần lớn các việc làm tương tự được lập lại một lần nữa.

Trong một quốc gia không phải Phật Giáo, không thể thỉnh sư, thì những người cư sĩ có thể hợp lại, đọc câu kinh trên và hồi hướng đến người quá cố.

 

 

GIỜ LÂM CHUNG

Có những ngành khoa học chuyên lo giúp đỡ sản phụ sinh đẻ dễ dàng và không đau đớn, nhưng không có ngành nào giúp con người bước chân ra ngoài kiếp nhân sinh với một phần tiện nghi tối thiểu. Phật Giáo thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tâm linh, xem tư tưởng cuối cùng của người sắp lâm chung thật tối quan trọng và chính nó tạo điều kiện cho bản chất của kiếp sống tương lai kế đó. Trong nhiều trường hợp, khi Đức Phật biết có một người sắp thở hơi cuối cùng, Ngài thốt ra những lời có ý nghĩa thích đáng để giúp người hấp hối có những tư tưởng trong sạch.

Chỉ một cái thoáng nhìn bóng dáng của một vị Phật – và trong lúc không có chư Phật và chư vị A-La-Hán – bóng dáng của nhà sư, đôi khi có thể chuyển tâm về hướng lành cho người hấp hối. Bản chú giải kinh Pháp Cú ghi nhận câu chuyện kể lại sau đây:

Tại thành Sravasti có một vị Bà-La-Môn khốn khổ có người con duy nhất tên là Matthakundali. Khi đứa bé lên mười sáu tuổi thì lâm trọng bệnh. Bà mẹ thiết tha muốn đi rước thầy bắt mạch hốt thuốc cho con. Nhưng ông cha keo kiệt không chịu, sợ mất tiền. Đến lúc bệnh tình quá trầm trọng thì có một vị lương y được mời đến và vị này cho hay là đã quá trễ vì đã hết phương cứu chữa.

Người cha bấy giờ biết chắc rằng con mình không thể thoát khỏi tay tử thần, mới suy nghĩ: “Lúc con ta chết rồi ắt có đông đảo thân bằng quyến thuộc đến viếng và như vậy sẽ có nhiều người trông thấy tài sản của ta và ta sẽ bị khó khăn”. Nghĩ vậy ông đem con để nằm ngoài trời, trước nhà. Biết được hoàn cảnh đáng thương của Matthakundali, Đức Phật đến viếng em. Đứa bé đang hấp hối thấp thoáng nhìn mập mờ bóng dáng rực rỡ sáng ngời của Đức Thế Tôn với tâm từ vô lượng. Một quang cảnh vĩ đại mà trong đời em không bao giờ được mục kích. Trong giây phút vô cùng phỉ lạc ấy em bé muốn đưa hai tay lên đảnh lễ Đấng Đại Bi, nhưng em đã kiệt sức, chân tay em không còn cử động được nữa. Lúc bấy giờ tâm và trí em thấm nhuần một lòng tôn kính sâu xa, em cố nhướng mắt lên nhìn Đức Phật, một cái nhìn có nghĩa đảnh lễ Ngài. Đức Phật giải thích: “Nó đã làm đầy đủ”, và Ngài trở về Kỳ Viên Tịnh Xá. Khi Đức Thế Tôn ra về, em bé thở hơi cuối cùng và tái sanh vào cảnh Trời, một trạng thái sinh tồn nhàn lạc.

Một trong những phước lành tạo nên do sự thực hành tâm Từ (Mettā) là hành giả không khi nào chết với tâm bối rối (asammūtho kālam karoti). Vì tầm quan trọng của chập tư tưởng cuối cùng nên người Phật tử có tập tục đọc kinh Sastipatthāna Sutta (Tứ Niệm Xứ), một bài kinh được nhiều người biết, đề cập đến những nền tảng của tâm niệm, cạnh bên giường người hấp hối. Điều này giúp cho người sắp lìa trần giữ được tâm trong sạch trước khi thở hơi cuối cùng. Dầu người nghe không hiểu hay không còn ở trong trạng thái hiểu biết bài kinh, đã là Phật tử, có niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng (Saddhā), khi nghe giọng kinh êm dịu đọc văng vẳng bên tai, rất có thể đương sự đi dần vào tâm trạng thanh tịnh, chỉ nhờ nghe giọng đọc du dương quen thuộc. Ai hỗ trợ cho một người sắp lâm chung được vào tâm trạng thích nghi thật sự có thể được xem là bạn tốt nhất (kalyāna mitta) của người ấy.

 

 

TỐNG TÁNG VÀ TRÀ TỲ

Người đọc có thể muốn biết tập tục của Phật Giáo đối với thể xác người chết là thế nào? Chôn cất hay hỏa táng.

Trong kinh Đại Niết-Bàn (Mahā Parinibbāna Sutta, bài kinh đề cập đến giai đoạn nhập diệt của Đức Phật, có ghi nhận đầy đủ những diễn biến rất cảm động trong những tháng và những ngày cuối cùng của Ngài), Đại Đức Ananda cũng đã nêu lên một câu hỏi như vậy với Đức Phật “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con phải làm gì với nhục thể của Đức Như Lai, Đấng Toàn Thiện”. Đức Phật trả lời phải hỏa táng như trường hợp Đại Vương Cakravarti, một vị hoàng đế của toàn thể thiên hạ.

Ngoài Phật ngôn này, không có đoạn nào trong kinh sách đề cập đến việc phải làm gì với thể xác người chết. Cũng không có một tập tục đồng đều trong hàng Phật tử. Có người thích trà tỳ, người khác thì chọn tống táng. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên hiện đại, với sức tăng trưởng dân số đáng ngại và do đó, phần đất trống còn lại rất hiếm hoi, trà tỳ có thể nên được chọn hơn. Đứng về phương diện vệ sinh cũng vậy.

Còn nắm tro còn lại sau lễ trà tỳ? Cũng vậy. Không có một tập tục phổ thông. Tro có thể giữ trong cái hũ hay được tôn trí vào đền đài, xây dựng để kỷ niệm người quá cố, nếu đó là ý muốn của người chết hay của những thân bằng quyến thuộc còn lại.

Cũng có phong tục cất tháp để tôn trí nắm tro của Đức Phật hay chư vị A-La-Hán. Hình ảnh trang nghiêm và êm dịu của tháp có thể trấn an, làm lắng dịu lòng người, bằng cách giúp ta hồi niệm đời sống hoàn toàn tinh khiết của các vị thánh ấy. Chính Đức Phật có nhắc đến trong bài kinh Đại Niết-Bàn.

 

 

GIÁ TRỊ CỦA KINH PARITTA

            “Những sưu tầm mới đây trong lĩnh vực y khoa, tâm lý học thực nghiệm và cái mà người ta vẫn còn gọi là siêu linh học, đã nhoáng ra một vài tia sáng vào bản chất của tâm và vị trí của nó trong thế gian. Trong bốn mươi năm sau cùng và trong giới y học, càng ngày người ta càng quả quyết vững chắc rằng rất nhiều chứng bệnh, bệnh thuộc về tạng phủ (do cơ thể gây nên) cũng như bệnh thuộc về cơ năng, đều phát sanh trực tiếp do những trạng thái tinh thần. Thể xác lâm bệnh bởi vì cái tâm kiểm soát nó, hoặc âm thầm muốn cho nó bệnh, hoặc vì tâm ấy ở trong một trạng thái giao động, không thể ngừa cho nó khỏi lâm bệnh. Dầu bản chất thế nào chăng nữa sức kháng bệnh chắc chắn có liên hệ mật thiết với điều kiện tâm lý của bệnh nhân”

(THE NATURE OF DISEASE,

tác giả J.E.R Mc Donagh, F.R.C.S).

            “Không phải tâm chỉ làm ra bệnh, tâm cũng chữa bệnh. Một bệnh nhân lạc quan có nhiều hy vọng mau bình phục hơn người bệnh âu sầu, ủ dột, lo âu, sợ sệt mọi điều. Những thí dụ đã ghi nhận được về trường hợp niềm tin vững chắc chữa được bệnh bao gồm cả những bệnh thuộc về tạng phủ, những chứng bệnh phát sinh do một bộ phận trong người. Trong trường hợp này bệnh được chữa hầu như tức khắc”.

(ALDOUS HUXSLEY, trong quyển

Ends and Meaus, London 1946, trang 258, 259).

            Về điểm này, trong những quốc gia Phật Giáo có tập tục nghe đọc Giáo Pháp (Dhamma) để bảo vệ và thoát khỏi điều xấu và để đem lại sự tốt đẹp, an vui. Những bài kinh được chọn lọc để đọc gọi là paritta sutta. Trong phạn ngữ pali, paritta hay paritrāna (sanscrit) có nghĩa chính là bảo vệ. Danh từ này được dùng để mô tả những bài kinh (sutta) hay những bài Pháp (do Đức Phật thuyết) được xem là có thể bảo vệ và giúp thoát khỏi những ảnh hưởng tai hại. Tập tục đọc và nghe kinh paritta bắt đầu rất sớm trong lịch sử Phật Giáo.

            Chắc chắn rằng đọc kinh như vậy có thể tạo tâm trí an lành cho người chăm chú nghe một cách hiểu biết và cho những ai có niềm tin nơi chân lý của Phật ngôn. Tâm trí an lành có thể giúp cho người bệnh mau phục hồi và có thể giúp tạo nên những thái độ tinh thần đưa đến an vui hạnh phúc và chế ngự các trạng thái tâm giao động. Thủa ban đầu, ở Ấn Độ, những người nghe kinh paritta, do chính Đức Phật đọc, thì hiểu biết ý nghĩa câu kinh và nhờ vậy hưởng được hiệu lực nhiều hơn. Đức Phật có đọc kinh paritta cho chính Ngài và cũng có nhờ người khác đọc cho những môn đệ Ngài trong những lúc ốm đau. Tập tục này được lưu truyền đến nay trong các lãnh thổ Phật Giáo.

            Đức Phật và chư vị A-La-Hán có thể niệm tâm vào những bài kinh cầu an (paritta) mà không cần phải nhờ ai khác hỗ trợ. Tuy nhiên khi lâm bệnh, các Ngài lắng tai nghe người khác đọc để niệm tâm vào Giáo Pháp chứa đựng trong kinh thì có phần dễ dàng hơn là các Ngài phải chính mình nhiếp tâm vào câu kinh. Trong trường hợp như bệnh làm suy giảm tinh thần người ta nhận định rằng dị kỷ ám thị hay nhờ người khác gợi cảm quả thật có phần công hiệu hơn là tự kỷ ám thị, chính mình gợi cảm cho mình.

            Đúng theo giáo lý của Đức Phật, tâm liên hệ rất mật thiết với thể xác và trạng thái tinh thần có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe và sự an lạc vật chất. Một vài bác sĩ còn nói rằng không có một chứng bệnh nào thuần túy vật chất. Do đó, trừ khi những trạng thái tâm này phát sinh do hành động bất thiện trong quá khứ (akusala kamma vipāka) và như vậy thì vô phương, ta có thể thay đổi trạng thái tinh thần để rồi kế tiếp theo đó tạo nên sức khỏe tinh thần và sự an lạc vật chất.

            Những âm thanh rung động của kinh paritta làm lắng dịu tinh thần, tạo trạng thái an tịnh cho tâm và đem lại sự điều hòa cho toàn thể hệ thống.

            Làm thế nào đọc kinh paritta có thể chế ngự được ảnh hưởng bất thiện phát sanh từ những chúng sanh xấu? Quả thật vậy, ảnh hưởng bất thiện ấy là hậu quả của những tư tưởng bất thiện. Do đó, nó có thể bị tiêu diệt bởi những trạng thái tâm tốt phát sanh trong lúc chăm chú nghe kinh một cách hiểu biết với niềm tin trong sạch. Tâm niệm hoàn toàn chăm chú vào chân lý của những câu kinh tạo nên một năng lực vô cùng mạnh mẽ.

            Đọc kinh paritta là một hình thức xác nhận chân lý (sacca kiriya), tùy thuộc nơi chân lý để bảo vệ, chứng minh hay thành đạt. Như vậy có nghĩa là hoàn toàn thiết lập nền tảng trong oai lực của chân lý để thành đạt mục tiêu. Thành ngữ “Oai lực của chân lý bảo vệ người theo chân lý”  (Dhammo have rakkhati dhammacārim) là nguyên tắc căn bản của tập tục đọc và nghe kinh paritta. Quả đúng thật rằng phẩm hạnh bảo vệ người có phẩm hạnh. Vậy, người chăm chú nghe câu kinh với một niềm tin hoàn toàn vững chắc nơi Phật ngôn sẽ tạo cho mình trạng thái tâm có phẩm hạnh đầy đủ và nhờ đó chế ngự mọi ảnh hưởng xấu.

            Đọc kinh paritta cũng có thể đem lại ích lợi vật chất, xuyên qua các trạng thái tinh thần mà tâm niệm và niềm tin tạo nên, trong lúc chăm chú nghe kinh một cách hiểu biết. Theo lời dạy của Đức Phật, nỗ lực chân chánh là yếu tố cần thiết để khắc phục đau khổ (Viriyena dukkham accheti). Nghe đọc kinh một cách đứng đắn cũng có thể tạo thêm năng lực để làm việc đàng hoàng và kiên trì đi theo con đường tiến bộ của thế gian.

            Nên nhận định rằng những bài kinh paritta chỉ tạo cho người chăm chú nghe một cách hiểu biết và tin tưởng những trạng thái tinh khiết có khả năng trị và ngừa bệnh. Không có dược liệu nào hơn chân lý (Dhamma) để trị cả hai, những chứng bệnh tinh thần và vật chất, nguồn gốc của đau khổ và bất hạnh. Như vậy kinh paritta, nếu được nghe một cách đúng đắn, có thể đem lại cho chúng sanh những điều kiện sức khỏe tinh thần cần thiết để tạo tiến bộ và an lạc vật chất.

 

 

QUYỂN SÁCH PARITTA HAY LÀ SÁCH BẢO VỆ

            Ở Tích Lan, hầu hết các gia đình Phật tử đều có một bổn kinh paritta tức là một quyển sách ghi lại những bài kinh paritta (Bảo Vệ). Trong nhà người Phật tử, quyển sách Bảo Vệ này được cất ở một nơi quan trọng và được tôn kính xứng đáng.

            Bây giờ, sách này chứa đựng những gì? Đây là một quyển sưu tập hai mươi ba bài kinh (sutta), hầu hết đều do Đức Phật dạy và nằm rải rác trong năm bộ A-Hàm (Nikaya) của tạng kinh (Sutta Pitaka). Trước những bài kinh của quyển Paritta (Bảo Vệ) này có những câu quy y Tam Bảo (saranagamana), thọ thập giới (dasa sikkhāpadāni) hay những câu hỏi của thầy sa di (sāmanera pañha). Trong hai mươi ba bài kinh paritta, những bài được biết nhiều nhất là Hạnh Phúc Kinh (Mangalala sutta), Bảo Kinh (Ratana sutta) và kinh Từ Bi (Mettā sutta, bài kinh về tâm Từ).

            Trong những bài kinh của quyển Paritta cũng có những bài quan trọng khác như kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkapavattana, bài Pháp đầu tiên của Đức Phật, thuyết tại vườn Lộc Uyển, Isipatana, Benares), kinh Sacca Vibhanga, Phân Tách (bốn) Chân Lý và kinh Bojjhangas, bảy yếu tố của sự giác ngộ.

            Theo lệ thường, khi có một vị sư được thỉnh về nhà của người cư sĩ trong những cơ hội quan trọng như sinh nhật, tân gia, đau ốm, hay những diễn biến tương tự thì vị sư đọc những bài kinh chánh yếu kể trên, trong quyển paritta (Bảo Vệ). Có những trường hợp đặc biệt, nhiều vị sư cùng được thỉnh về một lúc để đọc những bài paritta, không phải trong một thời gian ngắn mà suốt cả đêm. Lúc ban đầu, tất cả (thường có lối mười hai vị) cùng đọc ba bài được biết nhiều nhất vừa kể trên (Mangala sutta, Ratana sutta và Mettā sutta). Kế đó từng hai vị đọc tiếp các bài kinh khác còn lại trong hai tiếng và như vậy tuần tự mỗi lần hai vị sư đọc trong hai tiếng cho đến sáng.

            Trọn khoảng thời gian đọc kinh, trên cái bàn để trước mặt các sư có đặt sẵn một cái tô hay chai đựng nước. Cũng trên bàn ấy có một quyển Paritta chép trên lá buôn và cuộn chỉ tháo ra kéo dài, nối liền chư sư và các người cư sĩ, mỗi người nắm một đoạn, trong lúc đọc kinh. Đến sáng, khi chấm dứt thời kinh cuối cùng, người ta cắt sợi chỉ ra từng đoạn, chia cho mỗi người cư sĩ. Nước cũng được phân chia đều, tượng trưng cho oai lực bảo vệ của kinh Paritta đã đọc. Nó có những tác động tâm lý.

            Một câu hỏi có thể được nêu lên. Đọc những bài kinh trong quyển Paritta như vậy có thu hoạch được kết quả mong muốn trong mỗi trường hợp không? Về điểm này câu giải đáp của Đại Đức Nagasena cho vua Milinda – tại sao, trong tất cả mọi trường hợp, đọc kinh Paritta không bảo vệ được trước sự chết – đáng ghi nhớ:

            Do ba nguyên nhân, kinh Paritta không có công hiệu:

            - Sự ngăn trở của nghiệp (kammāvaranena),

            - Sự ngăn trở của những ô nhiễm (kilesā varana)

            - Thiếu niềm tin (asaddhanatāya).

 

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang