" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Văn Học Pali

Niết Bàn

Ngày đăng tin: 7 tháng trước
(5/1)
Phạn ngữ Nibbāna và Bắc phạn là Niravana, đều nghĩa là Niết Bàn nhưng cần chiết tự để dễ hiểu.
Niết Bàn

Phạn ngữ Nibbāna và Bắc phạn là Niravana, đều nghĩa là Niết Bàn nhưng cần chiết tự để dễ hiểu.

Ni có nghĩa là ra, Vana có nghĩa là phiền não, là rừng. Theo thể thức văn phạm của Phạn ngữ, chữ V của Vana đổi lại B cho dễ đọc. Nếu đã đổi V thành B và chữ Ni đứng trước ta có thể thêm chữ B vào sau chữ Ni thành là Nibbāna, có nghĩa là “ra khỏi phiền não” hay “ra khỏi rừng”.

Tại sao lại gọi là “ra khỏi rừng”? Vì rừng là nơi trú ẩn các loại dã thú, đầy nguy hiểm đối với người lạc đường. Rừng ấy ví như cõi Sa bà thế giới, đầy sự nguy hiểm và dã thú, là người ác, mà ta là người đi lạc trong luân hồi. Vậy người đi đến Niết Bàn là người đi ra khỏi rừng, hay là khỏi luân hồi.


Niết Bàn có những đặc điểm này là:

1- Có sự hoàn toàn an tịnh là trạng thái.

2- Có sự không chết là vị.

3- Có sự không giới hạn là hiện tượng.

Niết Bàn có hai hạng là:

1- Saupādisesanibbāna: Hữu dư Niết Bàn. Niết Bàn này của vị Thánh Nhân đã tới bậc A la hán mà chưa nhập diệt, còn mang thân ngũ uẩn này. Vậy hữu dư Niết Bàn (Niết Bàn còn dư) ngụ ý nói còn có ngũ uẩn.

2- Anupādisesanibbāna: Vô dư Niết Bàn, nghĩa là khi vị A la hán dứt bỏ thân này nhập diệt, thì không còn dư sót gì hết.

Hai hạng Niết Bàn ấy có chỗ cũng gọi là:

1- Kilesanibbāna: Phiền não Niết Bàn, ý nói Thánh nhân đã hoàn toàn diệt hết phiền não, nhưng chưa nhập diệt.

2- Khandhanibbāna: Ngũ uẩn Niết Bàn, nghĩa là A la hán đã bỏ thân ngũ uẩn này và đã nhập diệt.

Đức Thế Tôn có dạy rằng: Dve imā cakkhumātā pakā-sitā: Hai Niết Bàn ấy, Như Lai là đấng có tuệ nhãn, người đã diệt được ái dục và tà kiến, đã thuyết rằng khi người đắc A La Hán quả mà chưa nhập diệt thì gọi là hữu dư Niết Bàn, còn đã nhập diệt thì gọi là vô dư Niết Bàn.

Đại ý câu này nói: Niết Bàn của các bậc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm gọi là Hữu dư Niết Bàn. Vì các vị này là Thánh nhân nhưng chưa đi đến nơi hoàn toàn giải thoát. Các Ngài phải tuần tự cố gắng của mình hành để giải thoát. Còn vị nào đắc A La Hán quả đời này rồi nhập diệt, thì gọi là Vô dư Niết Bàn, nghĩa là không còn ở trong Tam giới này nữa; nhưng khi vị A La Hán chưa nhập diệt thì cũng gọi là Hữu dư Niết Bàn.

Niết Bàn không có hình thể nên không có gì ví dụ được.

Trong bộ kinh Mi Lãn Đà vấn Đạo Đức Na Tiên Tỳ Khưu, Ngài Na Tiên có dạy đức vua Mi Lãn Đà rằng: “Tâu Đại Vương, Niết Bàn không có chi sánh bằng, không thể chỉ hình thức được và không thể nào đem ra nói bằng lời được, vì Niết Bàn tuyệt đối ngoài tất cả các sự vật.

“Tâu Đại vương chỉ có người hành Minh sát tuệ thì càng ngày càng hiểu rõ danh sắc, diệt trừ phiền não, tâm hoàn toàn không còn mê theo danh sắc, nghĩa là người hoàn toàn đến Niết Bàn.

“Người đắc Niết Bàn chỉ có riêng người ấy biết mà thôi, cũng như người bịnh, chính họ mới biết bịnh của họ đã thuyên giảm, vì khi bịnh hành thì thật khổ, mà chừng cái khổ ấy từ từ mất lần đi, thì người bịnh mới nhận thấy rõ rệt.”

Vì vậy Đức Thế Tôn dạy pháp đắc trong tâm.

Trích trong 38 Pháp Hạnh Phúc  - Maha Thong Kham

 

Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang