phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Đ

Đức Phật Gotama - Tối thượng Y vương

Ngày đăng tin: 1 năm trước
(5/1)
Một trong các sắc thái của Phật giáo là chữa bịnh tâm. Nếu có điều bất hạnh xảy ra làm ta bất mãn, thế thường ta đổ là tại ngoại cảnh, tại kẻ khác. Nhưng lắm khi chính vì tại quan kiến ta lệch lạc, nhận định sai lầm, thấy sự vật không đúng, chớ không phải tại ngoại cảnh. Đức Phật vạch một đường lối tư tưởng chánh đáng mà bài viết sau đây sẽ nêu ra nhiều thí dụ.
Đức Phật Gotama - Tối thượng Y vương

B.S ANANDA NIMALASURIA

 

 

 

ĐỨC PHẬT GOTAMA

TỐI THƯỢNG Y VƯƠNG

 

BUDDHA THE HEALER

Buddhist Publication Society

Kandy – Ceylon

 

 

Dịch giả: Phạm Kim Khánh

HỘI PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VIỆT NAM

P.L 2010 D.L 1967

 


 

Lời Nói Đầu

Phạn ngữ Buddha (Phật) có nghĩa là hoàn toàn giác ngộ. Phật là hồng danh của đức Bồ Tát Cồ-Đàm Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta Gotama) khi Ngài thành đạo. Giáo lý của Đức Phật truyền dạy gọi là Phật Giáo.

Hoàng tử Sĩ-Đạt-Ta sanh ra nhằm một ngày trăng tròn tháng 5, năm 623 trước dương lịch, tại Lâm-Tì-Ni, sát ranh giới Ấn Độ và Tây Tạng. Cha là đức vua Tịnh-Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma-Da (Mahāmaya). Hoàng tử Sĩ-Đạt-Ta trưởng thành trong khung cảnh huy hoàng sung túc. Vừa sau khi hoàng tử ra đời, một hiền nhân tiên tri rằng vì tình thương nhân loại, một ngày kia Ngài sẽ bỏ nhà ra đi tìm chân hạnh phúc. Lên 16, hoàng tử cưới bà công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodhāra) và 13 năm sau, khi công chúa hạ sanh một trai thì hoàng tử cất bước lên đường, từ khước cả một sự nghiệp lớn lao và cung vàng điện ngọc để chấp nhận đời sống tu sĩ. Ngài  đi tìm thầy, từ vị này đến vị khác, nhưng không thỏa mãn. Sau 6 năm khổ hạnh, lúc ngồi tham thiền dưới cội bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddha-Gaya), bắc phần Ấn Độ, Ngài chứng ngộ chân lý tối thượng, đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài tuyên bố:

“Cửa vô sanh bất diệt từ nay đã rộng mở,

Ai có tai muốn nghe hãy đặt niềm tin tưởng”.

Bài pháp đầu tiên của Ngài, thuyết tại Ba-La-Nại (Benares), giảng về bốn chân lý thâm diệu (Tứ Diệu Đế): khổ, nguồn gốc sự khổ, chấm dứt sự khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Trong 45 năm, Ngài truyền bá giáo lý giải thoát cho tất cả ai muốn nghe từ người thấp hèn nhất đến bậc cao sang quyền quí nhất. Giáo hội Tăng già do Ngài thành lập vẫn còn truyền nối đến nay. Năm 80, Ngài tịch diệt. Lời dạy tối hậu của Đức Phật là:

“Này hỡi các tỳ khưu, Như Lai ân cần nhắc nhở:

Tất cả các pháp hữu lậu đều là vô thường. Hãy cố gắng tu tập để giải thoát”.

Giáo lý của Ngài dần dần truyền bá khắp toàn cõi Ấn Độ và từ Ấn sang Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Cam Bốt, Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Đến đâu Phật Giáo gieo ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống dân tộc ở đó. Nâng cao mức sống đạo đức và văn hóa, tạo nguồn hứng cho giới văn nghệ sĩ, khuyến khích các công tác từ thiện như săn sóc bịnh nhân và người tàn tật, đánh đổ tập tục buôn bán mọi, đặt luân lý làm khuôn vàng thước ngọc để đánh giá sự quí trọng của con người và đưa vào xã hội một ảnh hưởng nhân đạo đối với đời sống. Giáo pháp được hoằng dương với lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo, không bao giờ có sự ép buộc, không đẫm máu.

Xuyên qua thời giam, tâm đạo nhiệt thành lúc ban đầu dần dần kém sút. Tuy nhiên, vẫn còn phần nào của nền đạo đức cổ truyền và lý tưởng cao siêu, như lòng từ bi, đã thấm nhuần và ăn sâu vào đời sống. Trải qua mấy thế kỷ, Phật giáo ở vào một trạng thái tiềm tàng. Dầu sao trong thực tế, triết lý, văn hóa và đời sống của dân nghèo ở Á Đông vẫn mang nặng ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo.

Thế kỷ hiện đại ghi nhận sự chấn hưng Phật giáo. Giáo lý của Đức Phật gồm Tam Tạng Kinh chép bằng Phạn ngữ Pāli, được phiên dịch ra nhiều sinh ngữ ở Âu Châu và Á Châu. Nhiều triết lý gia, nhiều nhà đạo đức đã phát biểu tư tưởng liên quan đến Phật giáo.

Cái gì trong Phật giáo làm cho con người hiện đại và nhất là các tư tưởng gia, các triết gia và các nhà khoa học đặc biệt lưu ý? Phật giáo khác biệt với các tôn giáo khác như thế nào?

Đức Phật vạch ra một lối sống có phương pháp và căn cứ trên ba đặc tính: vô thường, khổ não, vô ngã. Đời sống gồm danh và sắc (nāmarūpa) và trong cả hai danh và sắc không có cái gì là trường tồn, không biến đổi. Mặt khác, cả hai chỉ là sự kết hợp của những đơn vị vật chất và tâm linh. Các đơn vị vật chất luôn luôn sanh rồi diệt để nhường chỗ cho các đơn vị khác. Đơn vị tâm linh biến đổi và bị thay thế càng nhanh chóng hơn. Do đó, mặc dầu có sự liên tục trong con người, không có cái gì trường tồn, bất biến trong danh cũng như sắc. Đặc tính cố hữu thứ nhì của đời sống là khổ não. Thứ ba là vô ngã. Chúng ta thường có cảm giác và tin tưởng rằng trong ta có cái gì vững bền không biến đổi. Nhưng càng phân tách ta càng nhận định rằng không có một thuần chất nào, xem như một đơn vị, mà ta có thể gọi là bản ngã hay linh hồn. Con người luôn luôn đi tìm hạnh phúc và con đường giải thoát của Đức Phật vạch ra căn cứ trên những đặc tính vô thường, khổ não, vô ngã của kiếp nhân sinh.

Trong Phật giáo, điều thích hợp nhất với con người hiện đại là không có giáo điều bắt buộc tín đồ phải nhắm mắt tin.

“Không nên hấp tấp tin tưởng mù quáng một điều gì chỉ vì được nghe lập đi lập lại nhiều lần, vì tập quán đã truyền lại như vậy, vì có lời đồn đãi, vì kinh sách đã ghi chép, vì có lời phỏng đoán hay quả quyết, vì có lời ngụy biện, vì khuynh hướng tự nhiên tín nhiệm những điều đã được nghiền ngẫm trước, vì bề ngoài có vẻ khéo léo khôn ngoan của người khác, hay vì nghĩ rằng các bậc tăng sĩ là thầy ta. Này hỡi người Kalama, khi nào chính các bạn biết rằng diều này phải, tốt, điều này không đáng bị chê trách, điều này được bậc thiện trí thức tán dương, khi thực hành đúng, điều này sẽ đem lại hạnh phúc, chừng đó các bạn sẽ chấp nhận và an toàn ẩn náu trong ấy”.

Quyển sách nhỏ này nằm trong một loạt kinh sách ấn tống do hội Buddhist Publication Society-Forest Hermitage-Kandy (Ceylon).

Một trong các sắc thái của Phật giáo là chữa bịnh tâm. Nếu có điều bất hạnh xảy ra làm ta bất mãn, thế thường ta đổ là tại ngoại cảnh, tại kẻ khác. Nhưng lắm khi chính vì tại quan kiến ta lệch lạc, nhận định sai lầm, thấy sự vật không đúng, chớ không phải tại ngoại cảnh. Đức Phật vạch một đường lối tư tưởng chánh đáng mà bài viết sau đây sẽ nêu ra nhiều thí dụ. Những trường hợp này được gom góp lại với hy vọng làm sáng tỏ vấn đề, nhất là đối với các nhà tâm lý học và các bác sĩ vì những vị này hiểu rõ hơn ai hết bịnh trạng của con người. Người ta thường nói rằng tâm lý học Phật giáo căn cứ trên lý trí bởi vì Phật giáo xây dựng đạo pháp trên nền tảng luân lý và nâng cao con người từ chỗ nhơ bẩn thấp hèn của cuộc xung đột giữa những tình cảm cá nhân, lấy bản ngã làm trung tâm điểm, đến trình độ cao siêu, thản nhiên, vô ký, trước mọi cảm giác và thay thế bản ngã bằng lòng từ bi quảng đại bao gồm tất cả chúng sanh.

                                                                                   Ananda Nimalasuria


Mha.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang