phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Nghiên Cứu Phật Học

Vai trò của người phụ nữ trong việc thờ cúng Phật tại nhà ở miền Đông Nam Bộ

Ngày đăng tin: 2 năm trước
(5/1)
Thờ cúng Phật tại gia có ý nghĩa to lớn trong đời sống văn hóa người Việt Đông Nam Bộ nói chung và đặc biệt là nữ giới nói riêng.
Vai trò của người phụ nữ trong việc thờ cúng Phật tại nhà ở miền Đông Nam Bộ


TÓM TẮT

Thờ cúng Phật là nét đặc sắc trong văn hóa gia đình người Việt ở Đông Nam Bộ. Kết hợp tục thờ cúng phổ biến của người xưa cùng những tín ngưỡng, tôn giáo dân gian với sự ảnh hưởng điều kiện tự nhiên, xã hội Đông Nam Bộ, người Việt đã tạo dựng những quan niệm riêng về thờ Phật tại gia, các dạng thức bàn thờ Phật và các nghi thức thờ cúng Phật tại gia. Lễ an vị Phật, thời gian và lễ vật thờ cúng Phật, chủ thể, lễ vật và cách cúng Phật của người Việt ở Đông Nam Bộ được thể hiện khá rõ nét. Thờ cúng Phật tại gia có ý nghĩa to lớn trong đời sống văn hóa người Việt Đông Nam Bộ nói chung và đặc biệt là nữ giới nói riêng.

Dẫn nhập

Phật giáo du nhập vào Việt Nam gần hai thiên niên kỉ. Cùng cơ sở thờ tự là ngôi chùa, các vị Phật, Bồ Tát ngày càng gần gũi, quen thuộc với những tín đồ Phật giáo, trong đó nữ giới giữ một số lượng đông đảo. Các tín đồ (mà phần đông là nữ giới) thường đến chùa để thực hành các nghi lễ, sinh hoạt lễ bái, thắp hương, cúng kiếng, ... Bên cạnh đó, còn có hiện tượng thờ Phật trong gia đình. Và trong những người thờ Phật tại gia này có cả những người không theo đạo Phật: “Ở Nam Bộ, người dân thường coi đạo tổ tiên như một phần của đạo Phật. Người đã thờ Phật thì dĩ nhiên theo đạo tổ tiên; người theo đạo tổ tiên cũng là quần chúng của Phật giáo, bàn thờ trong gia đình thường có Phật, có cả tổ tiên”[1]. Vì thế, nghiên cứu “vai trò của phụ nữ trong thờ cúng Phật tại nhà ở Đông Nam Bộ” để hiểu hơn đời sống tinh thần của phụ nữ Việt ở Đông Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung, mà cụ thể là qua hiện tượng thờ cúng Phật tại gia.

Thờ cúng Phật trong gia đình người Việt Đông Nam Bộ là đề tài chưa nhiều nghiên cứu, tuy vậy, có nhiều tài liệu liên quan đến nội dung này mà chúng tôi mới tiếp cận: Trong tác phẩm Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Thượng), Toan Ánh viết: “Các cư sĩ, mặc dù thường đi chùa lễ Phật, nhưng cũng vẫn thiết lập bàn thờ tại gia để tiện việc cúng bái và hằng ngày tụng kinh niệm Phật. Bàn thờ tại gia phải thiết lập cao hơn các bàn thờ khác, vì Đức Chí Tôn cao cả, ở trên mọi chư Thần”[2]. Trong sách Dân tộc văn hóa tôn giáo do NXB Khoa học Xã hội ấn hành năm 2001, Đặng Nghiêm Vạn xem xét mối tương quan giữa thờ Phật với thờ tổ tiên và nhận thấy người Nam Bộ coi đạo tổ tiên như một phần của đạo Phật. Theo nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên: “Ngày nay, nhiều gia đình không theo đạo Phật, chỉ thờ cúng ông bà vẫn có thói quen mua bông hoa trái cây đặt lên bàn thờ ông bà, bàn Thiên (…). Khi thắp nhang cầu nguyện không ít người đã van vái Trời, Phật phù hộ cho gia đình được may mắn, hạnh phúc”[3]. Năm 2013, Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc ra mắt tác phẩm Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, NXB Văn hóa - Văn nghệ, nhắc đến tín ngưỡng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm với vị trí Thần độ mạng trong nhà.

Đặc biệt, người thực hiện các nghi lễ thờ ấy cúng không phân biệt giới tính, không phân biệt con trưởng hay con út, cháu nội hay cháu ngoại, ... Đó là sự chuyển biến về tư duy lẫn hình thức trong cách thờ cúng Phật của người Việt Đông Nam Bộ khi rất nhiều gia đình, nữ giới là chủ thể thờ cúng chính chứ không phải nam giới. Hoặc khi gia chủ là nam (ông, chồng, cha) không có mặt để đứng ra lễ lạy, thờ cúng, người nữ vẫn được quyền thay mặt để bái lễ Phật, tổ tiên thờ trong gia đình mà không sợ bất kì một thứ quyền năng nào quở phạt hay trách móc.

Tình hình thực tiễn ở trong nước như vừa trình bày là cơ sở cho sự ra đời bài viết “Vai trò của phụ nữ trong thờ cúng Phật tại nhà ở Đông Nam Bộ”. Bài viết góp phần tìm hiểu văn hóa gia đình, cộng đồng người Việt Đông Nam Bộ và vai trò thờ cúng Phật trong đời sống, sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây, đặc biệt là nữ giới.

Các dạng thức thờ cúng Phật

Tuy cùng thể hiện tư tưởng hiếu đạo, nhớ về cội nguồn nhưng bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên của người Việt lại có sự tách bạch, luôn theo quy tắc “tiền Phật hậu linh”. Người Nam Bộ thường dùng tủ gỗ, còn gọi là tủ thờ, phía trên cao đặt tượng Phật. Hai bên tủ có cửa, thường bên trong đựng kinh sách. Họ kê thêm chiếc bàn ở phía sau tủ thờ Phật để thờ ông bà tổ tiên, người thân đã khuất.

Vì được xem là nơi linh thiêng trong ngôi nhà nên bàn thờ Phật luôn được sắp xếp chỉnh chu, gọn gàng. Nhà có không gian nhỏ, chủ nhà thường xây thêm giá đỡ để thờ Phật ở vị trí trên cao. Tượng Phật hoặc tranh Phật được thỉnh về thờ thường có kích thước nhỏ, tương xứng với bàn thờ của gia đình. 

Bàn thờ Phật ngoài hình Phật vẽ tranh hoặc tượng còn có thêm bình hoa, bát hương, ba chung nước, có thể thêm chuông, mõ, lư hương, gần đây có sự xuất hiện của máy niệm Phật[4], ...

Trong nhà người Việt Đông Nam Bộ đa phần thờ Bồ Tát Quan Thế Âm. Hoặc bàn thờ vừa có Phật Thích Ca vừa có Bồ Tát Quán Thế Âm. Hoặc bàn thờ có Bồ Tát Quán Thế Âm phối tự với các vị thần độ mạng. Ngoài ra, nhiều nhà còn trưng bày tượng, tranh Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Di Đà Tam Tôn (Phật A Di Đà ở giữa và hai bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát), Phật Di Lặc, ... đặt ở trên tủ hoặc treo trên tường.

Thờ cúng Phật trong gia đình còn được chú trọng trong các dịp lễ tết, cưới hỏi, tang giỗ, hay các sự kiện trong nhà. Khi lễ tang, gia chủ thiết lập một bàn thờ Phật như sau: lập bàn thờ Phật A Di Đà hoặc Địa Tạng Vương Bồ Tát trước bàn linh. Có trường hợp thờ cả hai vị thì lập bàn thờ Phật trước rồi mới đến Bồ Tát, tiếp sau là bàn linh. Theo quan niệm của một số tăng ni và người dân, phải đặt Phật trước bàn linh để Phật dẫn dắt người đã khuất về Tây Phương Tịnh Độ hoặc giúp họ được siêu thoát. Một số khác lại cho rằng nên đặt bàn thờ Phật và bàn linh ngang nhau. Trong một số trường hợp đám tang, nhiều gia đình không theo Phật giáo đều lập một bàn thờ Phật riêng. Và những người đến dự đám tang gia đình sẽ thắp hương bàn thờ Phật trước khi thắp hương cho người quá cố.

Phật A Di Đà được thờ nhiều trong thời gian đám tang, đặc biệt rất ít người thờ vị Phật này trong nhà. Nhiều nhà ngưỡng mộ Phật A Di Đà thích treo tranh Phật A Di Đà hoặc tranh Tây Phương Tam Thánh (hoặc Di Đà Tam Tôn) chứ không lập bàn thờ. Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát có trường hợp cá biệt: Một vị nữ chủ nhân không theo Phật nhưng thờ Phật tại nhà. Sau sự cố mẹ mất, vị nữ này lo tang ma xong thì thỉnh luôn tranh Phật A Di Đà thờ trong những ngày có tang vào điện thờ tại gia. Sau đó, người nữ này cùng chị em họ hàng thân thích vào chùa quy y trở thành Phật tử.

Ngoài ra, khi gia đình có hỉ sự như gả con, rước dâu, hay lễ tết Nguyên đán, ... họ đều cúng Phật với hoa quả, trái cây, nhang đèn. Nghi lễ giản dị nhưng cốt là biểu hiện sự thành tâm. Họ cho rằng cần báo cáo cho những người bề trên (không chỉ ông bà tổ tiên mà còn Phật, Thánh Thần) biết chuyện trong nhà để phù hộ: “Người ta nói những ngày đó trước thì kiếng sau thì cúng, mình cũng phải kiếng Trời Phật. Mình cúng trong nhà hoặc làm lễ gì trong gia đình, mình đều dâng bông, hoa quả đầy đủ từ ngoài bàn Trời vô tới bàn Phật”[5].

Quan niệm vô thức xem Phật như tổ tiên thể hiện rõ rệt trong lễ cưới của người Việt, đặc biệt trong các gia đình không theo đạo Phật. Họ lễ lạy, thắp hương kiếng Phật trước rồi sau đó mới đến thắp hương ở bàn thờ tổ tiên, như một sự chứng giám của bề trên. Nhiều gia đình đặt tranh tượng Phật phía trên cao, bàn thờ cửu huyền phía dưới thấp, cùng một không gian thờ với Phật. Gia chủ, con cháu trong gia đình cúng lễ vật cho Phật như thế nào thì đều cúng tổ tiên như thế ấy. Cô dâu, chú rể lạy Phật đồng thời cũng là lạy Cửu huyền thất tổ.

Tính bình đẳng của nữ giới trong Phật giáo

Bốn nhân tố được ví như bốn chân giữ cho đạo Phật luôn đứng vững trong sự nhập thế cũng như mang lại lợi ích cho cộng đồng là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam (nam Cư sĩ) và Cận sự nữ (nữ Cư sĩ). Vai trò của Tỳ kheo, Cư sĩ trong việc hoằng pháp như một ngôi nhà gồm bốn chân, không phân biệt giới tính, đều bình đẳng trước Phật. Đức Phật từng nói: “Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành”. Như vậy, Ngài thừa nhận tiềm năng giác ngộ, tâm linh, đạo đức, tuệ giác đồng đều ở mỗi người, mỗi loài, bất kể là nam hay nữ. Phật giáo là một trong những tôn giáo đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (nữ tu sĩ). Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Đức Phật thành đạo. Nguồn gốc của giáo đoàn ni giới này là từ bà Mahaprajapati Gotami, dì và cũng là kế mẫu của Đức Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, bà Gotami trở thành một trong những đệ tử đầu tiên của Ngài. Bà đi theo Đức Phật khắp mọi nơi, cần mẫn tu học, nổi tiếng là người có trí tuệ và đức hạnh. Có rất đông phụ nữ theo bên cạnh Gotami để học đạo.

Chánh pháp nằm ở nền tảng tâm con người, ở cách thức ứng dụng hành trì lời Phật dạy, ở cách ứng xử, lối sống của mỗi người chứ không chấp ở hình tướng nam hay nữ. Điều này được chứng minh cụ thể trong Kinh Địa Tạng và Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Phật thuyết trong Kinh Địa Tạng, tiền kiếp của Địa Tạng Đại sĩ từng là nữ nhân thuộc giai cấp Bà La Môn trong thời kì giáo pháp của Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, có “phước cũ sâu dày, quần chúng khâm phục, đi đứng nằm ngồi đều được chư thiên hộ vệ”. Nữ nhân này đã dâng hoa hương, phẩm vật hiến cúng và chân thành chiêm ngưỡng, lễ bái Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, do đó mẹ là Duyệt Đế Lợi nhờ phước con gái hồi hướng nên được sinh lên cõi chư thiên. Trong một kiếp khác của Bồ Tát Địa Tạng Vương, Ngài là nữ nhân tên Quang Mục, sống trong thời kì của Đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, được vị La Hán hóa độ, cầu xin cho mẹ thoát khỏi quả báo của nghiệp sát sinh và mắng nhiếc. Nhờ tâm từ bi và phước báu lớn lao của Quang Mục hồi hướng, mẹ của nữ nhân sau khi trải qua hết kiếp sinh tử trở thành Bồ Tát Giải Thoát. Còn Quang Mục chính là Địa Tạng Đại sĩ với lời thệ nguyện rộng lớn: “Con nguyện từ nay sắp đi, cho đến trăm ngàn vạn ức kiếp sau này, bao nhiêu những kẻ tội khổ ở trong địa ngục ngạ quỷ súc sinh của các thế giới hệ, con thề cứu vớt cho họ thoát khỏi những chỗ ấy; những kẻ tội khổ thành Phật cả rồi con mới thành”[6].

Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm 12 “Đề Bà Đạt Đa”, Bồ Tát Văn Thù tuyên thuyết Pháp Hoa trong biển cả, nhận thấy có Long nữ con của Diêm hải Long vương mới tám tuổi mà trí tuệ, lợi căn, khéo biết trình độ và hành vi của chúng sinh, có nỗ lực tinh tiến, thực hành được kinh Pháp Hoa. Bồ Tát Trí Tích và Tôn giả Xá Lợi Phất không tin Long nữ ấy đủ năng lực đạt đến tuệ giác vô thượng. Trong kinh chép rằng:

Long nữ có một viên ngọc quý, giá bằng cả đại thiên thế giới. Bấy giờ Long nữ hai tay nâng viên ngọc ấy hiến lên Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhận liền. Long nữ thưa Bồ Tát Trí Tích và Tôn giả Xá lợi Phất, con hiến ngọc quý, Đức Thế Tôn nhận cho con, việc này mau chóng không? Rất mau chóng; hai ngài trả lời như vậy. Long nữ thưa, đem thần lực của các Ngài nhìn sự thành Phật của con, thì sự ấy còn mau hơn việc này. Tức thì toàn thể đại hội các chúng lúc ấy cùng thấy, trong khoảnh khắc đột nhiên, Long nữ biến thành nam tử, đầy đủ phong cách Bồ Tát...[7]

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, có vị cao ni thạc đức đã từng phát biểu trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất: “Mỗi con người chỉ có hai vai, một bên vai trái và một bên vai phải. Nếu gánh một vai thì dù có sức như lực sĩ cỡ nào đi nữa cũng làm bộ xương bị oằn một bên, về sau bị chứng bệnh nhức mỏi (...). Cho nên vai trái còn lại quý thầy xem như không phải sở trường của mình thì xin chư tôn đức tăng hãy nhường cho chúng con để chúng con phụ gánh bớt với quý thầy. Có thế, ngôi nhà hay cơ thể Phật giáo mới có hai vai, vai phải dành cho chư tăng, vai trái dành cho chư ni” (Thích Nhật Từ, 2011: 79). Nhắc đến sự bình đẳng giữa nam và nữ trong con đường phát triển tâm linh, thầy Thích Nhật Từ phân biệt giữa bình đẳng và đồng đẳng về khoảng cách giới tính: “Đồng đẳng đặt nặng về cấu trúc sinh học mà thế giới phương Tây đã đi quá đà nên biến sở trường thành sở đoản, biến những thiên tính, cá tính nữ giới thành mặt mạnh và phát huy được thì đóng góp cho cuộc đời rất lớn nhưng nhiều người mặc cảm nên muốn chứng minh, nếu người nam trở thành lực sĩ, võ sĩ, cầu thủ thì phái nữ cũng làm được” (Thích Nhật Từ, 2011: 81). Với sự bình đẳng, người nữ vẫn giữ được nét cá tính mềm dẻo, linh hoạt được ví như nước, đóng góp cho Phật giáo thế mạnh của mình mà vẫn đạt được tuệ giác.

Nền điêu khắc Ấn Độ đã tạc hình ảnh một vị Bồ Tát không lệ thuộc giới tính nam và nữ thành hình tượng người nam có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp với hàm râu quai nón nhưng sang Trung Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm với hình tướng là nữ giới, biểu thị cho tình thương bao la không biên giới của một người mẹ dành cho các con - chúng sinh. Với hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quán Thế Âm, tâm thức cư dân ở Việt Nam đã quy kính, thương tưởng, ngưỡng mộ Ngài như đức mẹ hiền với những tính cách đặc trưng của phái nữ, dịu dàng, mềm mại, bao dung và luôn sẵn lòng ra tay cứu vớt những ai gặp khổ nạn. Ở Đông Nam Bộ, phần lớn hình tượng Phật được thờ trong nhà là tượng Bồ Tát Quán Thế Âm.

Thời gian và lễ vật thờ cúng

Thờ cúng là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo có bàn thờ, có bát nhang, thông qua đó con người thể hiện niềm tin tôn giáo (tôn giáo tính). Hoạt động thờ cúng Phật trong gia đình biểu hiện thường ngày thông qua việc đốt nhang, lạy Phật và khấn nguyện.

Các gia chủ, bất kể theo Phật hay không theo Phật, phần lớn là nữ nhân, đã thờ Phật tại nhà đều thắp hương hàng ngày vào buổi sáng hoặc buổi tối, hoặc cả hai buổi. Khi có việc đi ra khỏi nhà, họ cầm cây nhang đứng trước Phật lạy lễ và cắm vào bát nhang.

Theo Phật giáo, các ngày âm lịch: mồng một, mười bốn, mười lăm và ba mươi (tháng thiếu thì hai mươi chín) là bốn ngày quan trọng của tháng[8]. Cho nên, gia chủ thờ Phật chú trọng thờ cúng Phật vào những ngày này. Họ quét bụi, lau dọn, thay nhang bàn thờ Phật. Dụng cụ phải là khăn sạch, dùng riêng để lau chùi bàn thờ. Song song với làm sạch bàn thờ Phật, họ còn làm sạch các bàn thờ khác trong nhà như bàn thờ tổ tiên, Ông Địa - Thần Tài, Ông Táo, bàn Thiên, ... Sau khi làm sạch bàn thờ, họ thắp hương và cúng hoa quả. Nhiều hộ gia đình còn đốt trầm hương để ngôi nhà thêm thơm tho và ấm cúng.

Ngoài ra, trong những ngày này, không riêng tín đồ Phật giáo mà nhiều người không theo Phật cũng có thói quen ăn chay. Theo quan điểm Phật giáo, tùy theo cơ duyên của mỗi người có thể lựa chọn hình thức ăn chay phù hợp, có trai trường, Thập trai, Tứ trai, Nhị trai, ...[9]. Ăn chay là chỉ ăn rau trái, không ăn các loại động vật khác và cử ngũ vị tân: hành, hẹ, nén, tỏi, tỏi tây.

Phật giáo có những ngày lễ vía của Phật và Bồ Tát. Với những ngày vía, tín đồ Phật giáo thường ăn chay, cúng kiếng để tưởng nhớ công đức của các vị Phật và Bồ Tát. Thật ra, những ngày vía ấy là ngày kỉ niệm, đánh dấu mốc quan trọng của các vị Phật, Bồ Tát được người Việt thiêng liêng hóa. Chẳng hạn trong năm có ba ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm (tính theo âm lịch): ngày 19 tháng 02 (âm lịch) là vía Quán Thế Âm đản sanh, ngày 19 tháng 06 là vía Quán Thế Âm thành đạo, ngày 19 tháng 09 là vía Quán Thế Âm xuất gia.

Cội nguồn của cái thiêng trong đời sống tâm linh là sự gặp gỡ giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Buổi đầu khẩn hoang ở Đông Nam Bộ, người Việt lại thêm khắc khoải về mối liên hệ giữa hai thế giới ấy. Họ kế thừa hình thức thờ cúng truyền thống để tiếp nhận cái thiêng làm chỗ dựa vươn lên, vượt qua khó khăn trong đời sống trần tục. Do đó, thờ cúng Phật thể hiện khát vọng xây dựng cuộc sống phồn vinh về vật chất và hạnh phúc về tinh thần của người Việt, cụ thể là phụ nữ Việt ở Đông Nam Bộ.

Chủ thể thờ cúng Phật trong gia đình rất đa dạng về giới tính và về độ tuổi. Song, trong một gia đình, người cao tuổi nhất (phần nhiều là bà, là mẹ) thường đứng ra thờ cúng. Hoặc nếu vì lí do sức khỏe, con cháu của họ vẫn có thể đứng ra thay thế thắp hương, lạy Phật, dâng hoa quả, thay nước trên bàn Phật. Còn với việc tụng niệm thì do tự nguyện chứ khó ép buộc hay nhờ cậy ai thay thế, làm giúp.

Trong kinh điển Phật giáo, các lễ vật thờ cúng Phật vô cùng đa dạng. Xét trong gia đình, lễ vật thờ cúng không chỉ là hương, hoa, đèn, đồ ăn chay mà còn là các hành động thắp nhang, lễ lạy Phật, đọc kinh, niệm danh hiệu Phật. Ở đây, lễ vật thờ cúng Phật không chỉ là những vật chất, nghi lễ được dâng lên ứng trước bàn thờ Phật biểu hiện tấm lòng thành của tín đồ mong chư Phật, chư Bồ Tát chứng giám mà còn biểu hiện qua các hành động làm lợi lạc cho chúng sinh như phóng sanh, bố thí, cúng dường, tham gia các hoạt động từ thiện, ...

Phụ nữ Đông Nam Bộ thường cúng Phật một loại quả theo số ba hoặc năm quả trưng vào một dĩa, hay có khi cúng ba hay năm loại quả. Họ chuộng số lẻ vì cho rằng nó đem lại may mắn. Ngoài quả còn có hoa. Hoa dâng Phật thường đặt ở một bên và dĩa trái cây một bên hoặc chia trái cây và hoa làm hai để đặt hai bên, miễn cân xứng trên bàn thờ. Nhiều gia đình còn đặt cố định một hoặc hai lọ hoa giả để trang trí cho bàn thờ thêm màu sắc khi chưa có dịp cúng hoa thật.

Vào dịp lễ tết, ngày rằm, đầu tháng, cuối tháng, các ngày vía Phật, hay các ngày giỗ, cưới, ... bàn thờ Phật được chủ nhà lau chùi, thay chung nước, cúng thêm hoa quả dâng Phật. Thể theo lời dạy của Đức Bổn Sư: “Phụng sự chúng sinh tức cúng dường chư Phật”, các Phật tử thường phóng sanh để có thêm công đức. Phóng sanh không chỉ cứu sinh mạng của các loài vật (cá, rùa, chim, ...) mà còn giúp các con vật ấy được quy y Tam bảo. Người nào muốn kéo dài tuổi thọ càng nên phóng sanh. Tuy nhiên, người phóng sanh cần có trí tuệ nhận biết lời dạy của Đức Phật, tránh các thành phần xấu lợi dụng đức tin để làm chuyện “buôn Phật bán Thánh”. Chẳng hạn, có nhiều trường hợp, cá, chim, rùa, ... được bán trước cổng chùa chờ người vào chùa mua đem thả và sau đó người bán tìm cách bắt lại để bán cho người khác kiếm lời.

Vào ngày rằm tháng bảy, nhiều gia đình người Việt làm một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, Phật tử còn đọc một thời kinh Vu Lan để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Cúng Vu Lan báo hiếu tại nhà những Phật tử thường kèm các lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thí thực cô hồn, đọc kinh, phóng sanh...

Trong cúng Phật, bên cạnh thức ăn nấu chay, nhiều người còn cúng cơm trắng. Cơm trắng đựng trong ba chung nhỏ như chung nước để dâng lên bàn thờ Phật. Nước cúng ở bàn thờ Phật còn được các tín đồ Phật giáo sử dụng để uống hoặc rửa mặt. Họ không uống vào chung cúng Phật mà đổ sang một ly khác. Với những nhà thường tụng kinh, trì chú, họ còn tin rằng nước cúng Phật có sự nhiệm mầu.

Để tụng kinh, trì chú linh nghiệm, người tụng kinh được khuyến khích ăn chay nhưng nhiều người với lí do sức khỏe, công việc nên ăn mặn. Điều kiện để ăn thịt động vật là người ấy không giết con vật, không chứng kiến, không nghe tiếng hoặc thấy con vật bị sát hại, không phải vì mình mà nó bị giết.

Người dân thường thắp hương dâng Phật khi làm lễ, đọc kinh, cúng kiếng. Mỗi lần thắp hương, họ thắp mỗi nơi một cây. Riêng những ngày lễ, ngày mười bốn, ngày rằm, mồng một, ba mươi, vía Phật, họ thắp ba cây. Họ thường thắp trong nhà trước rồi ra ngoài sân. Trong nhà, họ thắp bàn Phật đến bàn thờ gia tiên rồi Ông Địa, Ông Táo, ... Tuy nhiên, điều này không bắt buộc; nhiều gia đình thắp ở bàn Thiên rồi mới vào thắp trong nhà. Lại có gia đình lạy Phật đầu tiên nhưng cắm nhang bàn thờ ông bà tổ tiên sau đó mới đến bàn thờ Phật.

Thời gian thắp hương của người Việt linh động. Có người thắp hương một ngày hai thời, sáng tối hoặc chỉ một thời vào chiều tối. Cũng có trường hợp thắp hương, khấn nguyện theo tâm trạng[10]. Phần lớn, khi thắp hương trước bàn thờ, họ khấn tên tuổi của mình, rồi xin Phật, Bồ Tát phù hộ độ trì cho gia đình được tai qua nạn khỏi, con cháu trong nhà được mạnh giỏi.

Không phải ai thờ Phật, cúng Phật cũng đọc kinh, trì chú, niệm Phật[11] tại nhà. Song, hầu hết những người biết đọc, tụng kinh, trì chú ở nhà thì đều thờ cúng Phật, dù họ có là tín đồ Phật giáo hay không. Họ thường tụng kinh sau khi thắp hương vào buổi tối. Việc tụng kinh này với họ như là quyền lợi hơn là nghĩa vụ. Những người thờ Phật tại nhà có những quan niệm riêng trong việc hành lễ tụng kinh để vừa có đời sống tâm linh phong phú lại vừa không ảnh hướng đến đời sống thế tục. Với những người làm việc đồng áng hay đi cạo mũ cao su vào sáng sớm, để bớt sợ và buồn, họ đem theo một quyển kinh nhỏ gọn, đọc riết rồi thành thuộc. Họ không nhất thiết niệm Phật trước bàn thờ mà khi nào nhớ thì họ niệm. Vì vậy, việc tụng kinh của phụ nữ Việt Đông Nam Bộ đa dạng về thời gian và không gian. Bên cạnh những người duy trì tụng niệm hàng ngày cũng có những người thi thoảng mới tụng. Trong số những người tụng kinh hàng ngày, có người theo giờ cố định, có người lệch từ một đến hai giờ đồng hồ[12].

Thờ cúng Phật còn đi cùng với lễ, lạy Phật. Lễ Phật là thể hiện lòng tôn kính với Phật, để trừ tâm ngã mạn, cao ngạo. Lễ Phật giúp đánh thức Phật tính trong mỗi con người. Theo Phật giáo, lễ Phật có nhiều cách[13]. Cách lễ Phật nào cũng cần thân ý đoan trang, thanh tịnh, y phục chỉnh tề. Ngoài ra, cách chắp tay đòi hỏi nghiêm chỉnh, bàn tay áp sát, các ngón tay không xòe ra như cánh quạt mà phải sát khít vào nhau giống như búp sen, bàn tay chắp trước ngực sao cho khi mắt nhìn thẳng thấy đầu mút ngón tay. Đứng trước bàn thờ Phật, người lạy đứng chắp tay trước ngực, quỳ xuống, cúi đầu sát đất, xòe hai bàn tay ngửa ra.

Vai trò nữ giới qua thờ cúng Phật tại gia trong đời sống văn hóa người Việt Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ là vùng đất người Việt chính thức đến khai hoang mở cõi đầu tiên ở Nam Bộ vào thế kỉ XVII. Trong cuộc lưu dân lịch sử ấy, họ mang theo Phật giáo từ phía bắc với các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo dân gian ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người Việt Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên - xã hội ở Đông Nam Bộ cũng có tác động đến nền Phật giáo dân tộc và hình thành sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo thờ cúng Phật trong gia đình người Việt nơi đây. Theo quá trình lưu dân của người Việt Đông Nam Bộ, phụ nữ có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của một bộ phận không nhỏ cư dân người Việt ở vùng đất này. Vai trò đó thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, người phụ nữ giữ vai trò “xây tổ ấm”, trong đó xây dựng hệ thống thờ cúng tại gia mà thờ cúng Phật là hiện tượng phổ biến của người Việt Đông Nam Bộ. Hiện tượng này lan rộng trong đời sống các gia đình là tín đồ Phật giáo và cả ở nhiều gia đình không theo Phật. Trong suy nghĩ của họ, Phật không chỉ là một nhân vật lịch sử hướng dẫn con người giác ngộ và giải thoát mà còn trở thành vị thần thánh độ mạng trong gia đình nhưng ở cấp độ cao hơn thần thánh. Những lời thuyết giảng của Phật trong kinh điển trở thành kim chỉ nam để phụ nữ huân tập về đạo đức, lối sống, cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và trong mối quan hệ tình làng nghĩa xóm với nhau.

Thứ hai, tinh thần hiếu nghĩa của người Việt Đông Nam Bộ không chỉ là bổn phận, trách nhiệm của nam giới mà còn là một phần không thể thiếu gắn với đời sống tình cảm của nữ giới trong mối quan hệ giữa bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Không chỉ giữ vai trò bếp núc trong nhà mà phụ nữ còn được đứng ở gian thờ, nơi thiêng liêng và trang trọng nhất trong không gian gia đình, để thắp nén nhang, vái lạy Phật và tổ tiên nhằm bày tỏ lòng thành kính, tâm tư, sự nguyện cầu của mình để được chứng giám. Hình ảnh này thể hiện sự bình đẳng về giới tính trong cách ứng xử của người Việt Đông Nam Bộ với nhau và giữa con người với Phật, thần linh và tổ tiên.

Thứ ba, phụ nữ là nhân tố tinh thần, tâm linh cho gia đình trong buổi đầu khẩn hoang, mở đất. Vai trò này giúp người Việt có đời sống vật chất và tinh thần an ổn, vững vàng hơn, “đàn bà xây tổ ấm” để đàn ông có thể an tâm “xây nhà”. Thêm nữa, nhu cầu lễ lạy, cầu nguyện của phụ nữ Việt Đông Nam Bộ là sự thích ứng hoàn toàn tự nhiên trong đời sống quá khứ cũng như hiện đại. Việc thờ cúng Phật trong gia đình người Việt Đông Nam Bộ với phụ nữ nói riêng và cộng đồng người Việt Đông Nam Bộ nói chung đã góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, giáo dục đạo đức, lối sống cho người Việt nơi đây, đặc biệt là thế hệ con cháu tương lai.

Thứ tư, hình ảnh nữ giới thờ cúng Phật trong gia đình ở Đông Nam Bộ là nhân tố cố kết cộng đồng, góp phần xóa nhòa sự phân biệt, kì thị giới tính đã hằn sâu trong tư duy người Việt thời đại phong kiến, để khi vào đến phương Nam thì: “Trai làm chi, gái làm chi - Sinh ra có nghĩa, có nghì là hơn”. Điều kiện thiên nhiên vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt, lại thêm giặc giã đòi hỏi người dân phải phát huy tinh thần đoàn kết, hợp lực tận dụng và đối phó với môi trường tự nhiên - xã hội, hơn là việc xét nét, kì thị giới tính của nhau.

Thứ năm, tinh thần bao dung là nét tính cách riêng biệt của giới nữ và cũng là tinh thần chung của Phật giáo. Phụ nữ lưu giữ thờ cúng Phật trong gia đình người Việt Đông Nam Bộ cũng là để giữ gìn, nâng cao và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, hay nói cách khác là đóng một vai trò trao truyền, chuyển giao văn hóa. Đó là “sự chuyển đổi hệ giá trị văn hóa, là sự thích ứng văn hóa của người Việt Nam Bộ thời hội nhập”[14]. Sự chuyển đổi văn hóa với người Việt Đông Nam Bộ vừa là động lực nuôi ý chí làm giàu vừa tạo cơ hội cho những nếp sống mới hình thành. Nương tựa vào tinh thần Phật giáo dân tộc với lịch sử hai ngàn năm gắn bó ở Việt Nam là sự chọn lựa sáng suốt của người Việt Đông Nam Bộ. Bởi Phật giáo khi đến Việt Nam trở thành Phật giáo dân gian, gắn với đời sống nhân dân lao động. Tinh thần bao dung của Phật giáo trở thành biển cả tâm linh mà trăm sông đều đổ về. Cùng với Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam Cư sĩ thì nữ Cư sĩ cũng đóng vai trò to lớn trong việc lưu giữ tiếp nhận và phát huy vai trò tâm linh cao cả của Phật giáo trong đời sống gia đình và cộng đồng ở khu vực mình sinh sống.

Kết luận

Tóm lại, niềm tin của người Việt Đông Nam Bộ với Phật giáo truyền thống dân tộc đã góp phần hình thành tín ngưỡng thờ cúng Phật trong gia đình, giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa phụ nữ Việt Nam, cụ thể là ở vùng Đông Nam Bộ. Thờ cúng Phật trong nhà là sự kết hợp tục thờ cúng phổ biến của người Việt xưa “có thờ có thiêng” cùng những tín ngưỡng, tôn giáo dân gian với sự ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên - xã hội Đông Nam Bộ và tính cách đặc trưng của người Việt ở vùng đất này. Phật giáo dân tộc với vai trò chỗ dựa tâm linh của người Việt Đông Nam Bộ góp phần hình thành truyền thống thờ cúng Phật trong gia đình, giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa người Việt Đông Nam Bộ, nâng cao vị thế của nữ giới trong sinh hoạt gia đình cũng như trau dồi lối sống, đạo đức, tinh thần trong đời sống hiện đại. Cuộc sống tâm linh của phụ nữ Việt Đông Nam Bộ vì vậy càng đa dạng, phong phú hơn. Hoạt động thờ cúng Phật trong gia đình người Việt nói riêng và Phật giáo Đông Nam Bộ nói chung thể hiện sự thống nhất trong đa dạng cách ứng xử của người Việt với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, đặc biệt là với thế giới siêu nhiên. Ở Đông Nam Bộ, Phật giáo gia đình là một bộ phận quan trọng cấu thành nên Phật giáo cộng đồng và dân tộc. Và vị thế của người phụ nữ Việt Nam qua đó đã được nâng cao, không chỉ qua học thức, đời sống vật chất, mà còn thể hiện trên con đường giác ngộ tâm linh.

Trần Lê Hiếu Hạnh -  Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH & NV - ĐHQG TP HCM


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc văn hóa tôn giáo, NXB Khoa học Xã hội.

2.  Điền dã phỏng vấn người dân tại Bình Dương – năm 2014.

3. Phan An, Định chuẩn hệ giá trị văn hóa truyền thống trong nghiên cứu người Việt Nam Bộ,

 http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2567-phan-an-dinh-chuan-he-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-trong-nghien-cuu-nguoi-viet-nam-bo.html.

4. Thích Minh Tâm (2006), Cư sĩ Phật tử cần biết, Chùa Phật Ân ấn tống.

5. Toan Ánh (2000), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Thượng), NXB Văn nghệ - Thành phố Hồ Chí Minh.

6.  Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ - NXB Khoa học Xã hội.

7. Trí Quang (1994), Kinh Pháp Hoa, tập một, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Trí Quang (2004), Kinh Địa Tạng, NXB Tôn giáo. 



[1]    Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc văn hóa tôn giáo, NXB Khoa học Xã hội, tr. 909.

[2]    Toan Ánh (2000), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Thượng), NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 302.

[3]    Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ, NXB Khoa học Xã hội, tr. 367.

[4]    Máy niệm Phật nhỏ khoảng nửa gang tay, phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Có loại máy chạy bằng pin tiểu. Có loại máy cắm điện. Có thể bật suốt ngày. Máy có các âm thanh “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, “Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Phật”, “Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật”, ... Trong đó, người dân Đông Nam Bộ ưa chuộng pháp hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”. Theo lời giới thiệu của Đức Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà cai quản cõi Tây Phương Cực Lạc. Thành tâm niệm danh hiệu Ngài sẽ được về cõi ấy.

[5]    Tư liệu phỏng vấn bà Lâm Thị Mỹ, ngụ tại Tân Uyên - Bình Dương, ngày 22/06/ 2014. Ngoài ra, trong bài có sử dụng tư liệu do tác giả đi khảo sát tại khu vực Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu - Thành phố Hồ Chí Minh.

[6]    Trí Quang (dịch) (2004), Kinh Địa Tạng, NXB Tôn giáo, tr. 108.

[7]    Trí Quang (dịch) (1994), Kinh Pháp Hoa, tập một - NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 578 - 580.

[8]   Trong truyện Tây Du Kí, nguyên tác Ngô Thừa Ân, Hồi 36: “Vào chùa báu, Ngộ Không dọa sãi - Ngụ am thanh, Tam Tạng xem trăng”, có đoạn Tôn Ngộ Không luận về Thái Âm: “Mặt nguyệt đêm ba mươi tiêu hết khí dương gọi là ngày hối, qua đêm sóc là mồng một nhờ giao với Mặt Trời nên có chút khí nhứt dương, đến mồng ba mới sáng một mảnh, qua mồng tám đặng khí nhị dương sáng nửa mặt trên như cái cung úp xuống, gọi là ngày thượng huyền, qua rằm đủ khí tam dương, nay sáng chói bốn phương gọi là ngày vọng, đến mười tám khí nhất âm sanh, khuyết hết phân nửa, như cái cung để ngửa, nên gọi là ngày hạ huyền, rồi lại ba mươi đêm tối, tối đen như mực. Vậy, mặt trăng hết tròn tới khuyết, hết khuyết tới tròn, cũng ví như người đời hết thạnh tới suy, hết suy tới thạnh”. Sa Tăng luận thêm: “Từ xưa đến nay cũng một mặt trăng ấy. Người đời thay đổi mà mặt nguyệt còn hoài, là vì có âm dương nương nhau mới sáng. Như chúng ta đồng tâm hiệp lực mới đi thấu Tây Phương”.

[9]    Ăn chay bốn ngày: mồng một, mười bốn, mười lăm, ba mươi gọi là Tứ trai. Ăn chay mồng một và mười lăm gọi là Nhị trai. Hoặc Thập trai là mười ngày: mồng một, mồng tám, mười bốn, mười lăm, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi tám, hai mươi chín, ba mươi.

[10] “Bảy giờ mình thắp. Mà những ngày nào mình thấy trong lòng mình buồn bã, tâm mình rắc rối không yên thì mình cứ khấn, cứ cầu xin vậy chứ không xác định ngày nào hết. Mình khấn giống y như mình tâm sự, mình nói chuyện chứ không biết khấn sao. Tâm linh không biết có thần giao cách cảm gì không nhưng nói ra được mình thấy nhẹ nhàng lắm.” (Tư liệu phỏng vấn Bà Đỗ Thị Tố Oanh - Bình Dương, 22/06/2014)

[11]Tụng kinh có công năng phát sinh trí tuệ và huân tập sự bình tĩnh. Trí tuệ luyện tập cho ta sự sáng suốt (tuệ). Bình tĩnh tập cho ta sức cương nghị (định), đó là hai điều cần cho sự sống theo giáo lí Phật dạy. Khi tụng kinh, tâm trí được tập trung tạo thành một năng lực mạnh mẽ, năng lực ấy có khả năng diệt trừ tội lỗi nơi tâm ý mình và tâm ý kẻ khác, những tội lỗi này ở trong trường hợp người tụng kinh quyết chí nỗ lực diệt trừ thì tội lỗi mới tiêu trừ được, những kết quả bất như ý dần dần tiêu diệt. Đồng thời, với sự giao cảm của chư Phật, những điều nguyện cầu hợp lí sẽ được thực hiện” (Thích Minh Tâm (2006), Cư sĩ Phật tử cần biết, Chùa Phật Ân ấn tống, tr. 36, 37). Niệm Phật là đọc danh hiệu của Phật, đồng nghĩa với chiêm ngưỡng và quán tưởng đến Phật, nguyện học tập gương Ngài, cầu cho mình và mọi người được bình an.

[12] Trường hợp đảm bảo một ngày hai thời kinh, sáng sớm lúc 4 giờ và tối lúc 7 giờ, như cụ bà Trương Thị Kìa (Bình Dương). Bà ăn chay một năm bốn tháng: tháng Giêng, tháng Tư, tháng Bảy, tháng Mười (âm lịch). Ngoài ra, hàng tháng bà còn ăn chay bốn ngày và các ngày vía Phật (Tư liệu phỏng vấn ngày 23/06/2014). Theo Ni cô Thích Nữ Diệu Trí (chùa Pháp Âm, tỉnh Bình Dương): “Tụng kinh phải theo giờ giấc nhất định thì chư Phật, chư Bồ Tát mới cảm ứng được” (Tư liệu phỏng vấn ngày 22/06/2014).

[13] Lễ Phật có bốn cách:

-   Ngũ thể đầu địa: chỉ vào hai chân, hai tay và đầu gọi là năm vóc gieo xuống đất.

-   Đầu diện tiếp túc: đảnh lễ ôm chân Phật tỏ lòng chí thành vô tận.

-   Tam khấu đầu lễ: là cách lễ thông thường, nhất tâm đảnh lễ, ba lần rập trán sát đất chứng tỏ lòng thành khẩn vô cùng và tôn kính tuyệt đối với Tam Bảo.

-   Lễ đứng: giống như xá Phật, chỉ cần đứng nghiêm trang, chấp tay và cúi đầu đảnh lễ trước Phật.

[14] Phan An, Định chuẩn hệ giá trị văn hóa truyền thống trong nghiên cứu người Việt Nam Bộ, từ website: 

http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2567-phan-an-dinh-chuan-he-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-trong-nghien-cuu-nguoi-viet-nam-bo.html

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang