phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Nghiên Cứu Phật Học

Y phục Phật giáo Nguyên thuỷ

Ngày đăng tin: 2 năm trước
(15/2)
Gs. Tiến Sỹ Đại đức Thiện Minh- Uỷ viên HĐTS. GHPGVN- Phó Tổng Biên tập Tạp chí Phật giáo Nguyên Thuỷ
Y phục Phật giáo Nguyên thuỷ


1. Y Phục Phật Giáo Do Đức Phật Chế Định

1.1. Hình tướng

1.2. Màu sắc

1.3. Qui cách 

2. Y Phục Theo Truyền Thống Phật Giáo Nguyên Thủy Trên Thế Giới Hiện Nay

            2.1. Các quốc gia Đông Nam Á

            2.2. Việt Nam

3. Y Phục Văn Hóa Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam - Thống Nhất Trong Đa Dạng

            3.1. Luận về hở vai phải

            3.2. Luận về màu sắc

            3.3. Luận về điều tướng

            3.4. Luận về tính hòa hợp cộng đồng, đặc thù dân tộc. 

Tài Liệu Tham khảo 

 

1. Y PHỤC PHẬT GIÁO DO ĐỨC PHẬT CHẾ ĐỊNH 

Theo giới luật chế định từ thời Đức Phật, các bậc xuất gia được phép thọ dụng 3 y để che thân.

Trên thực tế, 3 y không phải xuất hiện ngay từ thời kỳ đầu khi Đức Phật thành đạo và bắt đầu hoằng hóa lợi sanh. Trước đó, Đức Phật và Tăng đoàn vẫn sử dụng phục trang như những người dân Ấn Độ lúc bấy giờ. Thường là một tấm vải lớn quấn hết thân thể lại, cách thức phục trang của Tăng đoàn hoàn toàn giống với phục trang của người đời.

 

Phục trang thời bấy giờ thường được lượm lặt từ những xấp vải bị quăng bỏ trước các cửa hàng hoặc từ các bãi tha ma. Nghĩa là những xấp vải tăng đoàn sử dụng đều là những xấp vải không còn nguyên giá trị – chất lượng, màu sắc đều đã hoại, đã giảm rất nhiều so với bản gốc.

 

Nhân một dịp Bác sĩ Jīvaka Komārabhacca chữa khỏi bệnh khó chịu đường tiêu hóa của Đức Thế Tôn, vị bác sĩ này đã xin Đức Phật chấp thuận một nguyện vọng: chấp nhận cho ông ấy được cúng dường lên Đức Phật một xấp vải đôi[1]. Xấp vải đôi đặc biệt này là xấp vải vô cùng quí giá thời bấy giờ. Xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi là loại hảo hạng, chất lượng tốt, nổi tiếng, cao quí, và sang trọng bậc nhất trong vô số các loại vải. Xấp vải đó được dùng để tiến cúng cho Đức Vua Pajjota. Đức Vua Pajjota ban tặng lại cho bác sĩ Jīvaka Komārabhacca để tri ơn công chữa bệnh của bác đối với Ngài. Ngay tại thời điểm Đức Vua ban tặng, Bác sĩ Jīvaka Komārabhacsĩca đã khởi ý “không ai xứng đáng để sử dụng xấp vải đôi quí giá này ngoại trừ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hoặc là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.”


Trước nguyện vọng chân thành của vị bác sĩ, Đức Phật đã thọ lãnh xấp vải đôi ấy đồng thời Ngài cũng ra quyết định cho phép các tỳ khưu từ này có thể tùy ý thọ y của gia chủ cúng dường hay sử dụng y từ vải bị quăng bỏ.

Do các vị tỳ khưu được thọ lãnh y của gia chủ cúng dường hay y từ vải bị quăng bỏ nên y phục của tỳ khưu lúc bấy giờ chưa thống nhất về màu sắc, kích thước, cách may mặc … Điều này khiến dân chúng phàn nàn, phê phán và chê bai.

Sau đó, nhân trên đường đến Dakkhiṇāgiri, Đức Phật nhìn thấy những mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, những đường biên dài rộng xung quanh, những đường biên ở giữa, những mảnh vuông giao nhau. Đức Phật đã bảo đại đức Ānanda rằng:

 - “Này Ānanda, ngươi có khả năng thực hiện các y có kiểu mẫu như thế cho các vị tỳ khưu không?

- Bạch Thế Tôn, con có khả năng.”[2]

Khi đại đức Ānanda hoàn thành xong chiếc y theo gợi ý của Đức Phật và trình lên cho Đức Phật xem, Ngài bảo rằng: Này các tỳ khưu, Ānanda có đại trí tuệ bởi vì vị ấy hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ của điều đã được ta nói ra một cách vắn tắt. Vị ấy làm được dải nối theo chiều dọc, dải nối theo chiều ngang, mảnh lớn thuộc dải điều, mảnh nhỏ thuộc dải điều, mảnh lớn thuộc dải điều giữa, mảnh lớn thuộc các dải điều bên, mảnh nhỏ thuộc dải điều giữa, mảnh nhỏ thuộc các dải điều kế, mảnh nhỏ thuộc hai dải điều biên, như thế y sẽ được cắt ra, sần sùi khi được ráp lại, phù hợp với sa-môn, không còn được mong mỏi bởi những kẻ đối nghịch.

Từ đó, Đức Phật chế định các tỳ khưu được thọ dụng 3 Phước Điền Y gồm: y hai lớp (saṅghāṭi), y choàng ngoài / y vai trái (uttarāsaṅgaṃ), y nội (antaravāsakaṃ), cả 3 y này đều phải được cắt ra rồi ráp lại.

1.1. Hình tướng  

 Y 1, Antaravāsa (y nội) được sử dụng để mặc bên trong và che thân dưới. Y nội là một vuông vải, được cuộn và giữ cố định ở phần eo bởi một cái Samakaksika (đai lưng).  


Y 2, Uttarāsaṅga (y choàng ngoài, y vai trái) được sử dụng thêm khi các vị tỳ khưu đi ra ngoài hóa duyên, hoằng pháp.



 

Y 3, Saṅghāṭī (y hai lớp) được chư tỳ khưu sử dụng thường ngày, trong các lễ bái sám tại chùa. 



Ngoài ra, khi sử dụng Saṅghāṭī còn có thể dùng thêm một Kushalaka (Dây Giới) – một vuông vải dùng để chẽn phần eo của saṅghāṭī lại. 


1.2. Màu sắc

Về màu sắc của y, Đức Phật chế định các vị tỳ khưu không nên mặc các y toàn màu xanh đậm, các y toàn màu vàng, các y toàn màu đỏ, các y toàn màu đỏ sậm, các y toàn màu đen, các y toàn màu nổi bật, các y toàn màu sáng chói.

Nghĩa là màu y phục của người xuất gia không nằm trong các sắc chính, màu y cần phải được nhuộm lại, làm hoại sắc màu đi so với màu gốc. Ví như là màu vàng gốc thì bấy giờ nhuộm lại cho màu không còn là sắc vàng tươi mà chuyển thành vàng đất, đỏ không còn là sắc đỏ tươi mà nó nằm lưng chừng giữa 1 màu chính này với màu chính kia để ra một sắc hoại khác. 

1.3. Qui cách

Với ý nghĩa ruộng là phước điền của chúng sanh. Người tại gia gieo mầm lúa, người xuất gia gieo hạt giống phật pháp, gieo mầm từ bi nên qui cách một bộ y phước điền phải tuân thủ như điều tướng thửa ruộng. 

Đầu tiên, đại đức Ānanda cắt dọc tấm vải lớn theo bờ ruộng – có bờ biên (vòng quấn) vòng theo vai trái. Trong bờ biên đó chia thành nhiều thửa ruộng nhỏ – là những miếng vải được cắt dọc ngang thành các vuông dài ngắn khác nhau sau đó ráp lại như hình thửa ruộng. 

Một đường dọc của bộ y được gọi là 1 điều. Với những người xuất gia đã thọ giới tỳ khưu và tỳ khưu ni, y được chia làm 3 loại[3]: 

Y 5 điều (thấp nhất, dành cho người mới thọ giới). Y 5 điều có chiều dọc được chia thành 5 ô. Từng ô dọc lại chia làm 2 ô ngang, một ô dài và 1 ô ngắn. Ô dài có chiều dài = 2/3 ô ngắn. Các ô được xếp theo trình tự đối ngược nhau. Chẳng hạn: điều 1 có ô dài trên, ô ngắn dưới thì điều 2 sẽ xếp ngược lại, ô ngắn trước, ô dài sau. Tuần tự cho đến hết. Tổng cộng 10 ô ngang. 

Y 7 điều (dành cho những người đã thọ giới được một thời gian). Y 7 điều thì mỗi điều sẽ chia thành 3 ô ngang, 2 ô dài, 1 ô ngắn. Cách xếp tương tự như y 5 điều. Điều 1, 2 ô dài trên, 1 ô ngắn dưới. Điều 2 ngược lại, 1 ô ngắn trước, 2 ô dài sau. Tuần tự cho đến hết. Tổng cộng 21 ô ngang. 

Loại thứ 3 dành cho các vị thọ giới tỳ khưu từ 10 hạ trở lên. Y bắt đầu từ 9 điều và cao nhất là 25 điều. Những tỳ khưu đã thành tựu đủ 10 hạ, đủ tư cách làm thầy tế độ cho một vị sadi hoặc sadi ni thì thường mặc y 9 điều trở lên. Các Hòa thượng, Trưởng lão ni thường dùng y 21 điều, 23 điều, và 25 điều[4].

Người xuất gia khoác lên mình bộ phước điền y cũng chính là đang mang trên mình các thửa ruộng để người tại gia gieo hạt giống phước đức, thực hành hạnh bố thí cúng dường. Ngoài ra, khi mang trên mình bộ phước điền y chính là các vị xuất gia cũng đang hành tập gieo trồng hạt giống thiện pháp, dứt trừ tham ái sân hận si mê. Do đó, trong 1 điều có ô dài, ô ngắn. Ô dài biểu thị cho thánh quả tăng thêm, ô ngắn thể hiện phàm tăng giảm xuống. Ô ngắn chỉ có 1 ô còn lại là 1, 2, 3, 4 ô dài, bao nhiêu ô dài còn tùy theo bộ y đó có bao nhiêu điều.

Phân theo giới phẩm sẽ có:

Sadi, sadi ni: y 1 điều, 3 điều

Tỳ khưu, tỳ khưu ni: y 5 điều, 7 điều


Phân theo giáo phẩm sẽ có:

Đại đức: y 9 điều, 11 điều, 13 điều (dành cho tỳ khưu, tỳ khưu ni đủ 10 hạ trở lên)

            2 ô dài + 1 ô ngắn --)) 9 điều = 27 ô, 11 điều = 33 ô, 13 điều = 39 ô

Thượng tọa: y 15 điều, 17 điều, 19 điều (dành cho tỳ khưu, tỳ khưu ni đủ 20 hạ trở lên)

            3 ô dài + 1 ô ngắn --)) 15 điều = 60 ô, 17 điều = 68 ô, 19 điều = 76 ô

Hòa thượng: 21 điều, 23 điều, 25 điều (dành cho tỳ khưu, tỳ khưu ni đủ 25 hạ trở lên)

            4 ô dài + 1 ô ngắn --)) 21 điều = 105 ô, 23 điều = 115 ô, 25 điều = 125 ô

25 điều là số điều cao nhất dành cho những bậc có đời sống phạm hạnh tuyệt đối và có nhiều đóng góp giá trị cho việc truyền thừa và phát triển phật giáo. Số điều càng cao ô dài càng nhiều, ô ngắn càng ít lại – thị hiện cho quả thánh thanh cao nhiều còn tâm phàm tham sân si gần như đã bị diệt trừ hẳn.

2. Y PHỤC THEO TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY 

Truyền Thống y phục Phật Giáo Nguyên Thủy - Theravāda của các quốc gia Phật giáo ở thế giới đương đại vẫn tuân thủ theo điều tướng y phước điền thời Đức Phật. Các tỳ khưu và tỳ khưu ni vẫn thọ dụng 3 y đúng theo giới luật. Về hình tướng và qui cách là tương đồng, về màu đều chọn hoại sắc tránh các màu sắc chính.

2.1. Các quốc gia Đông Nam Á

Các quốc gia Đông Nam Á theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy như Thailand, Myamar, Laos, Cambodia, Myanmar, Vietnam … Chư tăng ni vẫn kế thừa 3 y phước điền đúng như giới luật Đức Phật cho phép. Màu sắc đặc trưng của từng quốc gia khá đa dạng. 

2.2. Việt Nam

Truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy – Theravada là một trong 2 hệ phái Phật giáo lớn nhất ở Việt Nam. Do vị trí địa lý, lịch sử du nhập, quá trình hình thành và phát triển mà các tông phái Phật giáo Việt Nam khá phong phú và đa dạng. Từ đây, hình thành lên nền văn hóa Phật giáo Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Dẫu còn có nhiều quan điểm đối lập, nhiều lễ tục khác biệt giữa các tông phái nhưng trên tất cả đều qui về một mối, hoạt động hài hòa dưới sự quản lý của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Sự đa dạng này chính là nguyên do cho y phục phật giáo Việt trở nên phong phú, nhiều màu sắc. Mỗi một tông phái đều lựa chọn cho mình một vài mẫu pháp phục có hình dạng, màu sắc khác nhau phù hợp với hệ thống tư tưởng của họ.

Riêng truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, Nam Tông Kinh vẫn bảo lưu và quyết tâm gìn giữ bộ y cổ xưa Đức Phật cho phép thọ dụng. Theo giới luật, người xuất gia nào không dùng y theo chế định, vị đó phạm vào giới luật nhà Phật. Ban đầu, người xuất gia dẫu là tăng hay ni cũng đều chỉ dùng đúng 3 kiểu y nêu trên. Tuy nhiên, do cơ thể sinh học người nam và người nữ có kiến tạo khác nhau nên khi nữ gia nhập sinh hoạt hội chúng thì có chút không thuận mắt. Cơ thể người nữ nếu để hở ngực và vai sẽ khiến người khác giới động tâm, mất đi hình ảnh thanh tịnh trang nghiêm. Cho nên, Đức Phật cho phép nữ chúng mặc thêm một cái áo ở trong (samkacchika) để che kín vai và ngực và vai đeo thêm một cái khăn giới (udakasatika).

3. Y PHỤC VĂN HOÁ  PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VIỆT NAM - THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG 

3.1. Luận về hở vai phải 

Có một số quan điểm cho rằng chư tỳ khưu theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy chọn đắp y theo thời Đức Phật là không còn phù hợp với thời hiện tại. Y phước điền có vẻ không được thanh tịnh và trang nghiêm. Tuy nhiên, quan niệm như vậy là chưa hoàn toàn đúng. 

Y phục là dùng để che thân,

là dùng tránh khỏi thẹn ngượng;

là dùng tránh ruồi muỗi nóng rét;

là biểu thị các tướng của Sa môn;

là ruộng điền nuôi trồng vun đắp diệu pháp;

là dùng màu sắc không thắm tươi rực rỡ biểu hiện lòng tham muốn không nảy sinh. 

Là y phục thanh tịnh, đoạn trừ phiền não bất thiện nghiệp, phát sinh phước đức thiện nghiệp. Người xuất gia không còn tài sản gì khác ngoài 3 y và bình bát. Do đó cần phải gìn giữ y phục truyền thống để khi đắp lên mình bộ y cũng là cách nhắc nhở thân tâm không dễ duôi, phải biết gìn giữ vun đắp cho đời sống phạm hạnh, là ruộng phước điền cho người tại gia nương vào. 

Sở dĩ y phước điền có hở vai phải là do phong tục của người Ấn xem hai cánh tay phải và trái như hai biểu tượng cho cái đẹp và xấu; thiện và bất thiện. Tay phải luôn dùng để làm những việc được xem là “cao quí” như lễ bái, ăn uống …; tay trái dùng cho các việc lau dọn, tắm rửa …Do đó, khi đắp y người xuất gia vắt cuộn vải lên vai trái, đưa luồn dưới nách từ sau ra trước, cánh tay trái cặp chặt lại là xong. Ngoài mục đích cánh tay trái không còn được tự do cử động bình thường, hạn chế cánh tay trái làm những điều bất thiện nghiệp thì cuộn y nằm trên vai trái cũng tựa ngọn núi Phật pháp trấn giữ cánh tay trái để không làm nên những điều người xuất gia không được phép làm. Cũng như tỳ khưu ni thì phải đắp thêm khăn giới lên vai trái của mình. 

Do vậy, không thể lấy cái hiểu biết của người thường cho rằng “hở vai là không nghiêm trang” để thay đổi chế phục mà Đức Phật đã rất sâu sắc chế định. 

3.2. Luận về màu sắc 

Thời Đức Phật màu trắng dành cho giai cấp Bà La Môn, quí tộc vua chúa; màu vàng dành cho dân thường. Đức Phật chọn cho mình và tăng đoàn màu hoại sắc vừa để gần gũi với người dân vừa để phù hợp với tư tưởng xả phú cầu bần của người xuất gia. 

Hiện này, màu trắng và màu nâu socola thường được các tu nữ lựa chọn trong đó có tu nữ theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Nếu chọn trắng thì không phù hợp với giới luật Đức Phật cho phép, chọn nâu socola lại theo truyền thống đồng hóa của Phật giáo Trung Hoa. Vậy nên chăng, truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam hãy chọn màu hoại sắc giữa hồng đậm + vàng tươi cho tăng và hồng nhạt + vàng tươi cho ni. Hai màu hoại sắc này vừa đúng với giới luật nhà Phật vừa không trùng lặp với các quốc gia khác.


 Gợi ý: Có thể chọn màu mà Hòa Thượng Thiện Tâm hiện đang sử dụng. Hoại sắc này cũng được trộn lẫn từ hồng đậm + vàng tươi. 


3.3. Luận về điều tướng 

Mỗi một tích tắc trôi qua trong ngày là mỗi một tích tắc thời gian đang mất đi. Thời gian đã trôi đi thì không bao giờ trở lại. Cuộc sống ngắn ngủi, phải biết tích cực gieo trồng các phước báu công đức, tu tập giới định tuệ. 

Dẫu bộ y không làm nên phạm hạnh tu tập của người xuất gia nhưng y chính là biểu tượng để người xuất gia hành tập và chiêm nghiệm các lời dạy của Đức Phật. Y dùng để phân biệt người tại gia và người xuất gia. Nếu các điều được thể hiện đúng qui cách như giới luật Đức Phật chế định thì đó cũng là hình thức thúc đẩy người xuất gia nỗ lực tinh tấn hơn trong con được đạo học. 

Do đó, nên chăng truyền thống Phật giáo Nam Tông Kinh cần cân nhắc kỹ hơn về điều tướng trên y phục của người xuất gia hiện nay.

 3.4. Luận về tính hòa hợp cộng đồng, đặc thù dân tộc.  

Đức Phật đã viên tịch và thời kỳ của Ngài đã trôi qua hơn 25 thế kỷ. Do sự biến thiên của lịch sử truyền thừa cùng với sự hòa hợp khéo léo lời dạy của Ngài với văn hóa đặc trưng vùng miền của từng quốc gia mà giáo pháp của Ngài cũng đã có nhiều đổi thay. 

Văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Có sự thống nhất cũng có tính đa dạng. 

Dẫu vậy thì y bát chính là tài sản duy nhất của người xuất gia. Truyền thống Phật giáo Nam Tông Kinh quyết tâm hòa chung với truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy thế giới; gìn giữ nguyên vẹn y phục đúng như thời Đức Phật tại thế. Có chăng, chúng tôi chỉ kiến nghị rằng để phát huy tính thống nhất trong đa dạng, chúng tôi đề nghị truyền thống Phật giáo Nam Tông Kinh cần xem lại qui định về màu sắc và qui cách may y để toàn bộ tăng ni chúng Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam cùng sử dụng chung. Đây đồng thời thể hiện được sự hòa hợp trong tăng đoàn theo đúng pháp Lục Hòa Đức Phật đã dạy cũng như thể hiện được đặc thù riêng của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam: Hòa hợp mà không Hòa tan với Phật giáo Nguyên Thủy thế giới./.

 

Tài liệu Tham Khảo

-         Tỳ khưu Indachanda, Đại Phẩm tập I, tập II

-         Hoà thượng Hộ Tông, Luật Xuất gia

-         Tỳ khưu Thiện Minh, Giới luật Phật giáo Nguyên Thuỷ dịch

-         Thanissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code, I, II

 

Bài nghiên cứu về Y phục Phật Giáo Nguyên Thủy được sử dụng cho Hội Thảo Khoa Học “Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam – Thống Nhất Trong Đa Dạng”. Bài có tham khảo thông tin từ các sử liệu tham khảo bằng tiếng Anh và tiếng Việt về Giới Luật Phật Giáo chính thống cùng các hình ảnh minh họa có nguồn từ internet.


Các hình ảnh sử dụng chỉ dùng cho mục đích tham khảo nghiên cứu, không dùng cho bất cứ mục đích nào khác. Tất cả hình ảnh minh họa đều chưa xin phép sự đồng ý của người chụp/tạo.



[1] Đại Phẩm, chương 8, tập II

[2] Đại Phẩm, Chương 8, tập II

[3] Đại Phẩm, Chương VII

[4] Tỳ khưu Thiện Minh, Chú giải Luật tạng Nguyên Thuỷ

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang