phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Nghiên Cứu Phật Học

30 Tụ lệ của Chư Phật

Ngày đăng tin: 2 năm trước
(9/3)
Trình bày về 30 tục lệ của Chư Phật, theo văn lục bát (kinh thẻ) của Đại Trưởng Lão Tịnh Sự (Mahā Thero Saṅtakicco)
30 Tụ lệ của Chư Phật

TAM THẬP TỤC LỆ CHƯ PHẬT

Trình bày về 30 tục lệ của Chư Phật, theo văn lục bát (kinh thẻ) của Đại Trưởng Lão Tịnh Sự (Mahā Thero Saṅtakicco), như sau :

Một là trong lúc đầu thai

Đều có chánh niệm biết nay giáng trần

Hai là trong bụng mẹ hằng

Day mặt phía trước sắp bằng ngồi yên

Ba là sanh đẻ vẹn nguyên

Bà mẹ phải đứng tự nhiên như thường

Bốn là ranh giới xứ phương

Chào đời nơi chốn biên cương hiện tiền

Năm là bảy bước kệ liền

Bốn câu vang rộng người - tiên phỉ nguyền

Sáu là Ngài gặp bốn điềm

Sanh con rồi mới quyết tìm xuất gia

Bảy là khổ hạnh nêu ra

Ít lắm tuần l đặng mà ngừa sau

Tám là ngài đắc Đạo cao

Dùng bữa cơm sữa trị lao yên thần

Chín là tự nguyện cỏ nhung

Hiện tòa đầy đủ thung dung chỗ hành

Mười là niệm thở đành rành

Ngồi nơi dưới gốc gọi danh bồ đề

Mười một thắng trận gớm ghê

Do ba chục độ hơn bề ma vương

Mười hai minh phát ba phương

Kế Đắc Toàn Giác lối đường Như Lai

Mười ba thành Phật sáng thay

Ở gần bảy chỗ bảy ngày đồng nhau

Mười bốn chán nói pháp cao

Đại Phạm xuống thỉnh nhậm mau độ đời

Mười lăm lộc giả đến nơi

Pháp Luân sơ chuyển lý chơn lần đầu

Mười sáu Thiên Thánh về chầu

Rằm giêng nghe giới ngài liền chúc ngôn

Mười bảy về chùa Kỳ Viên

Mỗi sáng trừ có ở yên hạ nào

Mười tám song thông tại xoài

Gần thành Xá Vệ độ ngoài giáo tông

Mười chín thuyết luân trọn ròng

Bảy bộ, Đao Lợi đáp công mẫu ngài

Hai mươi thang ngọc xuống ngay

Gần thành Săn Cách - từ rày thượng thiên

Hăm mốt mỗi đêm nhập thiền

An vui với hỷ thay phiền thùy Miên

Hăm hai quan sát căn duyên

Canh ba hai bận thấu tiền chúng sanh

Hăm ba chế luật phân minh

Đều do bằng cớ đinh ninh tỏ tường

Hăm bốn nói tích tùy phương

Gặp người duyên khởi phô trương thức lòng

Hăm lăm kể tích Phật Tông

Bà con tựu lại cũng đồng lệ hăng

Hăm sáu chỉ giáo khách tăng

Phương xa mới đến sớm phân giải bày

Hăm bảy chủ thỉnh hạ rày

Chưa đặng từ kiếu thì Ngài chưa đi

Hăm tám Phật sự gắn ghi

Năm việc thường giữ chẳng di một ngày

Hăm chín sắp diệt như vầy

Dùng bữa canh thịt khuya nay Níp Bàn

Ba mươi gần tịch lặng an

Hai triệu bốn ức nhập toàn thiền na.

 

------

 

 

30 TỤC LỆ CHƯ PHẬT - THEO VĂN XUÔI

 

1.     Khi đầu thai vẫn có chánh niệm, nghĩa là : Luôn có chánh niệm trong 3 thời kỳ (lúc tái tục, lúc ở trong bào thai và lúc sanh ra khỏi lòng mẹ).

2.     Ở trong bụng mẹ, ngồi xếp bằng day mặt về phía trước, tức là lúc ở trong bào thai, Bồ Tát luôn xoay mặt về phía trước.

3.     Khi sanh, bà mẹ phải đứng, hay Bồ Tát luôn lọt lòng mẹ trong khi bà đang tư thế đứng.

4.     Sanh tại nơi biên giới, hoặc luôn sanh tại nơi biên thùy.

5.     Hai chân xuống đi bảy bước, ngó 4 phía rồi kệ. Tức là lúc sanh ra – hai chân bước xuống đi bảy bước và đọc bài kệ 4 câu :

Khắp trong ba cõi Sa bà.

Chỉ ta quí báu hơn là Nhân Thiên.

Kiếp này đoạn tuyệt căn duyên.

Dứt dòng sinh tử triền miên luân hồi.

6.     Gặp 4 điềm (sanh, lão, bệnh, tử) và có con liền xuất gia, hay là ngay khi gặp 4 hiện tượng động tâm và có con đầu long, Bồ Tát liền đi xuất gia (4 hiện tượng này luôn do chư thiên hóa hiện và người thị vệ của Bồ Tát sở dĩ có thể trả lời rành mạch về 4 hiện tượng đó cũng là nhờ oai lực căn lành của Đức bồ tát kiếp chót đã hành đủ 30 Pháp Pāramī, Pháp Quán mà đặng oai lực hiện bày những cảnh trên (tác động oai lực đó khiến cho chư thiên hổ trợ những cảnh đã trình bày).

7.     Khổ hạnh ít lắm là 7 ngày, nghĩa là tất cả Bồ Tát sau khi xuất gia đều phải trải qua ít nhất một tuần lễ khổ hạnh nhiều nhất là bảy năm.

8.     Ngày sẽ đắc đạo phải độ cơm sửa, tức là bửa cơm cuối cùng trước khi thành đạo là dùng cơm sữa.

9.     Ngồi tòa cỏ nhung do Ngài nguyện hiện, hay là luôn thành Đạo trên ngôi bảo tọa tự hóa ra.

10. Ngồi dưới gốc bồ đề niệm hơi thở, hoặc là bảo tọa luôn nằm dưới tàng một cội cây bảo thọ và đắc Đạo-Quả.

11.  Thắng bọn ma vương do 30 Pháp độ, hay cũng có nghĩa phải qua một lần đối đầu với Ma Vương trước khi chứng Quả Phật.

12. Đắc Tam Minh (Lậu tận minh, Thiên Nhãn minh, Túc mạng minh) rồi mới đắc Toàn Giác, hoặc có chỗ nói đắc Tam Minh rồi mới đắc Nhất Thế Chủng Trí.

13. Đắc rồi, ở bảy chỗ gần đó, mỗi chỗ bảy ngày. Hoặc là sau khi chứng Quả, Chư Phật trải qua 7 tuần lễ Tịnh Cư ở 7 nơi gần đó.

14.  Đắc rồi chán nói Pháp cao, Phạm Thiên thỉnh mời mới nói. Nghĩa là sau khi chứng Quả, Ngài không muốn nói Pháp, phải đợi Phạm Thiên thỉnh.

15.  Đến rừng đạo sĩ, chuyển Pháp luân lần đầu. Đây nói về tục của Chư Phật về thời Pháp đầu tiên gọi là “xoay chuyển” bánh xe Pháp, hay khai triển Pháp Bảo.

16.                        Rằm tháng giêng tụng giới nhóm tứ chúng và di chúc. Nghĩa là lệ của Chư Phật cũng có ít nhất đại hội Thánh Tăng. Đại hội này lúc nào cũng hội đủ các điều kiện sau đây :

-         Tất cả Chư Tăng đều là các vị chứng Lục Thông.

-         Tất cả Chư Tăng đều không mời mà đến.

-         Tất cả các vị đều xuất gia bằng thiện lai Phíc – Khứu (Ehibhikkhu).

-         Ngay ngày trăng tròn tháng Māgha (giêng)

17. Thường về Kỳ Viên Tự trước sáng, trừ kiết hạ nơi khác. Hoặc có thể hiểu Chư Phật luôn có ngôi chùa như là trú xứ chính.

18. Hiện song thông tại cây xoài gần Xá Vệ độ ngoại giáo. Hoặc là ý nói Chư Phật luôn có một lần hóa hiện song thông để thâu phục ngoại giáo, trước khi lên Đạo Lợi Thiên tế độ bà thân sinh.

19. Nói tạng Vô Tỷ Pháp - 7 bộ tại Đạo Lợi độ bà thân sinh đắc Thánh sơ quả. Đây là mục đích mà Chư Phật đền đáp đủ ân đối với bà thân sinh.

20. Từ Đạo Lợi Thiên xuống bằng thang ngọc đến cửa thành Săn Cách. Nghĩa là sau khi thuyết tạng Vô Tỷ Pháp luôn trở về nhân loại bằng thang châu báu.

21. Mỗi đêm đều có nhập thiền định. Nghĩa là hằng đêm Phật đều nhập định (đầu canh 1 : giáo giới, canh 2 :  nhập định, canh 3 : tiếp chư thiên, phạm thiên, canh 4 : quán xét nhân duyên chúng sanh).

22. Mỗi canh chót xem căn lành chúng sanh hai lần. Nghĩa là canh cuối quán xét nhân duyên chúng sanh hữu duyên nên tế độ, bằng cách thẩm xét 2 lần (1. Duyên lành, 2. Cơ tánh chúng sanh).

23.  Chế luật bộ bằng cớ đáng chế. Nghĩa là chỉ chế định giới luật khi có nguyên nhân thích đáng.

24.  Tùy theo duyên khởi nói sự tích. Hay là chỉ thuyết bổn sanh (tiền thân của Đức Phật) khi có cơ hội thích hợp.

25. Nói tích Phật Tông khi bà con tụ. Hoặc là khi thân quyến tụ họp, Phật luôn thuyết về Phật Tông.

26.  Khách tăng ở xa sẳn từ bi chỉ giáo. Nghĩa là luôn có những pháp thoại để nhắc nhở những đệ tử ở xa mới về.

27.  Chủ thỉnh kiết hạ, chưa kiếu chưa đi. Nghĩa là nói khi được thí chủ thỉnh (kiết hạ, cư trú hay thọ thực) chưa từ giã chưa đi.

28. Hằng ngày thường hành ngũ Phật sự. Tức là không bao giờ xao lãng trong 5 phận sự thường nhựt.

Ngũ Phật Sự :

-       Buổi sang, Ngài đi bát (khất thực).

-       Ban chiều, Phật Ngài thuyết Pháp cho cận sự nam, nữ.

-       Buổi tối giáo giới cho chư Phíc – Khú (Bhikkhu).

-       Canh khuya (canh 3), giảng thuyết và trả lời nghi vấn của chư Phạm Thiên.

-       Rạng sáng (canh cuối), Ngài quán xét người hữu duyên nên tế độ.

29.  Ngài, trước lúc Níp Bàn, độ cơm canh thịt. Hoặc là dùng ba cơm thịt (thịt heo rừng) cuối cùng.

30.  Trước Níp bàn, Ngài nhập 2 triệu bốn ức kinh thiền. Nghĩa là trước lúc Níp Bàn phải nhập liên thiền, còn gọi là Níp Bàn liên thiền. Đây là nói nhập sơ thiền – x sơ thiền, nhập nhị thiền – x nhị thiền … cho đến nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền – x Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền. Rồi nhập x lại sơ thiền tiếp tục đến các tầng thiền cao hơn (Các bậc Thánh tứ quả ngoài Đức Phật toàn giác, tùy theo trường hợp đắc nhiều hay đắc ít tầng thiền mà cũng đặng Níp Bàn liên thiền, nhưng riêng Đức Phật thì đặc biệt, Ngài nhập xả liên tục từ thiền thấp tức sơ thiền … đến thiền tột cao Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền, rồi xuất – nhập, lên xuống cho nên mới tính đặng 2 triệu bốn ức kinh thiền).

Mh.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang