phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Nghiên Cứu Phật Học

Ni đoàn Phật giáo Nguyên thuỷ từ truyền thống đến hiện đại

Ngày đăng tin: 2 năm trước
(16/3)
Sơ lược về các giai đoạn phát triển cụ thể của Ni đoàn PGNT từ truyền thống cho đến hiện tại; giới luật của Tỳ khưu ni; nguyên nhân gây mâu thuẫn, tranh cãi việc phục hoạt Tỳ khưu Ni PGNT; một số giải pháp trong tương lai.
Ni đoàn Phật giáo Nguyên thuỷ từ truyền thống đến hiện đại

A. DẪN NHẬP

Đức Phật đã từng khẳng định Giáo hội của ngài lớn mạnh hay không là nhờ ở hàng Tứ chúng: Tỳ khưu, Tỳ khưu Ni, Thiện nam và Tín nữ. Theo các tài liệu ghi chép từ Kinh điển, Phật giáo Sri Lanka đã phát triển và thạnh hành cho đến năm 1017 sau Tây lịch. Sau đó, cuộc xâm lăng của Chola đã hủy diệt hoàn toàn các hoạt động phật pháp của Tăng Ni tại Sri Lanka. Phật giáo Sri Lanka gián đoạn vào thế kỷ thứ 11, Giáo hội Tăng đã phục hoạt nhưng Ni thì không. Thế nên Ni đoàn chuyển từ Tỳ khưu ni thành Tu nữ thọ 8 giới hoặc 10 giới luật Nguyên Thủy và tồn tại cho đến tận ngày nay. Theo xu hướng phát triển chung của thế giới, một số Tu nữ Phật giáo Nguyên Thủy (PGNT) đã và đang tái xuất gia Tỳ khưu ni và đề đạt nguyện vọng khôi phục trở lại Ni đoàn với tác ý góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của Phật Giáo. Đây không chỉ là mong muốn riêng của các Tu nữ PGNT và còn là niềm trăn trở chung của Tăng đoàn. Từ năm 1996 đến nay có rất nhiều các đề tài, các tham luận, các hội thảo đã nêu lên vấn đề và đang trong tiến trình suy xét tính hợp lý hay không của việc tái xuất gia và kiến nghị khôi phục.

Ni đoàn PGNT xuất phát từ việc thụ giới của Kiều Đàm Di (Mahapajapati Gotami) tại thành Vesali, hình thức xuất gia khác hẳn trong luật tạng Pali, đó là xuất gia bằng mệnh lệnh thọ Bát Kỉnh Pháp suốt đời. Kiều Đàm Di và 500 người nữ trong hoàng tộc chấp nhận giới pháp của đức Phật ban hành. Với sự thiết tha được sống đời sống phạm hạnh của một người xuất gia, được một lòng nhất tâm phụng sự Phật pháp, 501 người này đã được đức Phật đồng ý cho thọ giới và sống đời sống của các bậc tu hành. Những Tỳ khưu ni này đã rất hạnh phúc trước sự chấp thuận đó, đồng thời họ cũng quyết tâm trì giới nghiêm ngặt, sống đúng với đạo đức phạm hạnh của một người nữ xuất gia theo như những gì đức Phật đã yêu cầu. Nhờ tin tấn tu tập, Ni đoàn đã ngày một phát triển, có sức lan tỏa khắp xã hội India cũng như các quốc gia khác thời bấy giờ.

Ni đoàn PGNT Việt Nam cũng hình thành và phát triển theo dòng chảy lịch sử này và đã tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của lịch sử phát triển Phật giáo Cambodia nên Ni đoàn PGNT Việt Nam chỉ thọ 8 hoặc 10 giới.

Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi muốn sơ lược về các giai đoạn phát triển cụ thể của Ni đoàn PGNT từ truyền thống cho đến hiện tại; giới luật của Tỳ khưu ni; nguyên nhân gây mâu thuẫn, tranh cãi việc phục hoạt Tỳ khưu Ni PGNT; một số giải pháp trong tương lai.

 

B. NỘI DUNG

I. Ni Đoàn Nguyên Thủy Từ Truyền Thống Đến Hiện Tại

Kiều Đàm Di quả thật là người có công nuôi dưỡng và giáo dục Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) từ khi ngài đản sanh được 7 ngày cho đến khi từ bỏ hoàng cung xuất gia thành phật, vì ngài đản sanh được 7 ngày thì Hoàng hậu Maya băng hà, tái sanh về cõi trời Đẩu Xuất. Bà là em của Hoàng hậu Maya nên hết lòng chăm lo cho cháu. Khi Sĩ Đạt Ta xuất gia thành phật, bà tự tay dệt một chiếc y để cúng dường cho đức Phật nhưng bị ngài từ chối ([1]), ngài dạy Di mẫu hãy cúng dường cho chúng tăng có phước hơn, tránh trường hợp cúng dường cá nhân tuyển thí. Đó là bài học đầu tiên Phật dạy Di mẫu ([2]).

Hơn 20 năm sau khi Phật thành đạo, Kiều Đàm Di quyết định xuất gia theo Phật để tu thành quả vị giải thoát. Chuẩn bị xong, bà và 500 cung nữ bỏ lại sau lưng cung vàng điện ngọc, tự mặc lên người chiếc áo khất sĩ, đi chân đất từ Ca Tỳ La Vệ (Kapivathatthu) đến Vesali để mong được gặp Phật cầu pháp xuất gia giải thoát. Phật từ chối việc xin phép xuất gia của Kiều Đàm Di và 500 cung nữ. Tôn giả A Nan Da thấy vậy xúc động trước nghĩa cử của của Dì mẫu và các cung nữ, dám bỏ tất cả để cầu được xuất gia, nên A Nan Da vào xin phép Phật lần nữa cho Di Mẫu và 500 cung nữ được xuất gia.

-   “Bạch đức Thế Tôn, nếu người nữ xuất gia trong giáo pháp này, có thành quả vị thánh nhân không?”

-    “Có, A Nan Đa. Phật trả lời.”

-    “Nếu vậy, xin đức Thế Tôn hoan hỷ cho Di mẫu và 500 cung nữ được xuất gia trong giáo pháp này. Theo A Nan Da, Di mẫu cũng là người có công với Thế Tôn lúc còn ở hoàng cung và 500 cung nữ cũng có ý chí cao trong việc xuất gia cầu pháp giải thoát.”

Đức Phật quán nhân duyên, ngài bảo tôn giả A Nan Đa,

-  “Như lai đồng ý dưới điều kiện Di mẫu và 500 cung nữ phải thọ trì Bát kỉnh pháp suốt đời. 8 kính pháp là:

1. Tỳ-kheo-ni dù 100 tuổi hạ cũng phải đảnh lễ một vị Tăng vừa mới thọ giới một ngày.

2. Tỳ-kheo-ni không được an cư ở một trú xứ không có chư Tăng.

3. Chư Tỳ-kheo-ni nên cầu xin ngày nào là ngày Bố-tát và cầu giáo giới từ chư Tăng trong mỗi nửa tháng.

4. Sau mùa an cư chư Tỳ-kheo-ni phải đến cầu xin tự tứ (trình 3 việc: thấy, nghe, nghi) với nhị bộ Tăng Ni.

5. Vị Ni phạm trọng tội phải đến trước nhị bộ Tăng Ni cầu xin hành pháp Ma-na-đoả trong nửa tháng.

6. Thức-xoa-ma-na tuân giữ 6 giới trong 2 năm, muốn thọ giới Tỳ-kheo-ni phải đến trước nhị bộ Tăng Ni cầu xin.

7. Vị Ni không được phép chửi rủa hay sỉ vả vị Tăng trong bất cứ trường hợp nào.

8. Chư Ni không được phép quở trách chư Tăng, chư Tăng được quyền quở trách chư Ni.”

Tôn giả A Nan Đa báo cho Di mẫu và 500 Cung nữ việc Phật thuận cho Quý vị xuất gia với điều kiện phải thọ 8 kỉnh pháp. Bà và 500 cung nữ hoan hỷ chấp thuận gìn giữ. Thế là Ni đoàn Nguyên Thủy có mặt trong giáo hội kể từ đó.

Ngày nay có nhiều học giả và những nhà nghiên cứu đặt vấn đề, tại sao đức Phật từ chối không cho Di mẫu và 500 cung nữ xuất gia? Tại sao nữ giới xuất gia tuổi thọ giáo pháp của Phật Thích Ca mất phân nữa? Có nhiều lý do, trong đó có lý do khá thuyết phục, vai trò của Phật tổ ít khi nói chuyện trực tiếp với người nữ, đa số giới luật đức Phật ban hành cho Tỳ khưu ni đều thông qua hội chúng Tăng trước. Toàn bộ trong luật tạng Pali cho ta một thông tin khá quan trọng Tỳ khưu ni đến đức Phật có duyên sự thậm chí nghe pháp cũng trong tư thế đứng không có ngồi. Đối với chư tăng phải xin phép mới được ngồi (Pacittiya 94). Điều đó thể hiện qua đoạn kinh văn trong luật tạng Pali như sau: "... rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên..." Và khi từ giã đức Phật, chỉ có phần mô tả việc các tỳ khưu ni đảnh lễ đức Phật, hướng vai phải nhiễu quanh và ra đi, không có đoạn "... từ chỗ ngồi đứng dậy..." Đối với việc phụ nữ xuất gia làm giảm tuổi thọ giáo pháp một nửa chưa tìm thấy lý do trong kinh điển, nhưng có khả năng “kẻ thù của phạm hạnh chánh là phụ nữ”. Ngày nay đa số người ta nói phụ nữ là bạn lành của Sa môn.

Đời sống Ni đoàn Nguyên Thủy cũng tương tự như Chư tăng, sáng trì bình khất thực, chiều hoằng dương chánh pháp, hành thiền nhập định v.v… chẳng bao lâu Ni đoàn Nguyên thủy lan rộng khắp xứ India, nhiều người nữ đến xin xuất gia như Khema, Uppalavanna, Bhadda Kundalakesa, Patacara Sundarinanda, Bhadda Kapilani, kisa Gotami, Isidasi, Sona v.v…Đặc biệt Trưởng lão Ni Khema được đức Phật phong là đệ nhất Trí Tuệ trong hàng ngũ của Ni chúng, Trưởng lão Uppalavanna được Phật phong là đệ nhất thần thông.

Thế kỷ thứ III trước Tây lịch, thời đại đế Asoka, phật giáo khá thạnh hành. Ông đã làm được những việc như thống nhất đất nước, lấy ngôn ngữ Maghadha (Pali - Ma Kiệt Đà) làm quốc ngữ, mẫu tự viết ngôn ngữ này được dùng là mẫu tự Brahmi (ngày nay India dùng mẫu tự Devanagari). Ông đã hành hương những di tích thời của đức Phật và đặt trụ đá để đánh dấu nơi ông có đến thăm ([3]), đồng thời để đời sau Tăng Ni và Phật tử biết để tôn thờ, chiêm bái cúng dường. Ông đã tài trợ kỳ kiết tập Kinh điển Pali lần thứ III, kinh điển thời kỳ này được phân chia thành Kinh Luật Luận, khác kỳ kiết tập thứ I và thứ II là Pháp và Luật. Đặc biệt, ông đã cho hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamitta xuất gia theo Phật giáo, sau này hoàng tử và công chúa có công rất lớn là hoằng pháp ở Sri Lanka. Có thể nói, Trưởng lão Ni Sanghamitta là Tổ Ni trong truyền thống của các nước Phật giáo trên thế giới ngày nay. Ni chúng Myanmar, Lao, Thailand, Cambodia, China v.v… đều ảnh hưởng sự truyền thừa Ni chúng ở Sri Lanka.

Khi Trưởng lão Mahinda đến Sri Lanka, Phật giáo chẳng bao lâu phổ thông từ thành thị đến thôn quê. 6 tháng sau Trưỡng lão Ni Sanghamitta đem nhánh Bồ đề từ India sang Sri Lanka để trồng và đánh dấu mốc lịch sử khai sáng ni đoàn tại Sri Lanka. Ni đoàn này tồn tại đến năm 1017 sau Tây lịch, lý do đứt quãng là bị quân xâm lăng Chola xóa sổ Phật giáo ở Sri Lanka. Phật giáo Myanmar đến phục hồi Tăng đoàn ở Sri Lanka vào thế kỷ 11 nhưng Ni đoàn thì không.

Vấn đề Tỳ khưu Ni chuyển thành Tu nữ thọ 8 giới và 10 giới là do nhiều lý do:

-  Bát kỉnh pháp, Luật tạng Nguyên Thủy quá khiêm khắc và yếu tố chiến tranh khiến ni đoàn không còn.

-   Vấn đề xuất gia cho người nữ có phần phức tạp hơn, như thầy Tế độ ni phải 12 hạ (so với tỳ khưu chỉ 10 hạ) và không thể tiếp độ hàng năm (nếu tiếp độ hằng năm phạm tội pācittiya điều 82), điều này không thấy quy định cho tỳ khưu.

-    Sau khi cho tu lên bậc trên xong, cần phải di chuyển vị tân tỳ khưu ni đi xa, để tránh trường hợp người chồng bắt lại (điều luật pācittiya điều 70).

Về phần giới tử ni muốn tu lên bậc trên:

-   phải có sự cho phép của cha mẹ và người chồng (đã xuất giá vẫn còn lệ thuộc vào cha mẹ);

-   phải tròn đủ hai mươi tuổi, đã thực hành sáu pháp trong hai năm, và sự truyền pháp tu lên bậc trên cần được tiến hành lần lượt ở cả hai hội chúng, Tăng và Ni.

Qua những dẫn chứng trên, chúng ta nhận thấy Tỳ khưu Ni dễ bị mai một. Ví dụ như xuất gia phải lưỡng phái tăng, Hòa thượng ni không được phép xuất gia cho đệ tử hằng năm. Những quy định khắc khe đó, nếu có chiến tranh xảy ra, hội chúng Tăng Ni không còn nữa như trường hợp Sri Lanka thế kỷ 11 và thế kỷ 18 chỉ phục hồi hội chúng Tăng, còn Ni thì không. Không phải các vị trưởng lão phân biệt ni chúng mà không phục hồi mà quý ngài làm đúng theo tinh thần giới luật của nguyên thủy.

Tháng rộng năm dài, giới luật thì quá khắc khe cho Ni đoàn Nguyên Thủy, cộng thêm nạn chiến tranh nên thân phận của Ni đoàn PGNT chỉ giữ chiếc y màu trắng, nâu và hồng ở các quốc gia quốc giáo như Thailand, Lao, Cambodia, SriLanka, Myanmar và Vietnam. Quý Tu nữ thọ trì 8 giới hoặc 10 giới theo truyền thống. Thật ra 8 giới đó là tinh hoa giới trong luật tạng Pali. Trọng giới của Tỳ khưu tăng và ni đa phần đều xuất phát từ 5 ngũ giới cấm, bát giới và thập giới.

Ở Việt Nam, Tu nữ Diệu Đáng (1924- 1995) xuất gia tu nữ tại chùa Sùng Phước- Nam Vang 1941, từng tu thiền ở Thailand, du học ở Myanmar. Tu nữ Diệu Đáng có thể nói là người xuất gia Ni đoàn Nguyên Thủy Việt Nam đầu tiên. Ảnh hưởng theo dòng chảy của Tu nữ Trưởng lão Diệu Đáng, ngày nay có khoảng 700 Tu nữ hệ phái Nam Tông Kinh.

II. Giới Luật Của Tỳ Khưu Ni

Ni đoàn Nguyên Thủy thời kỳ đầu xuất gia với bát kỉnh pháp. Về sau ni chúng càng đông, các Ni vi phạm giới nào bị tứ chúng phản ảnh đến đức Phật và ngài ban hành giới luật. Như vậy giới của Tỳ khưu tăng và Tỳ khưu Ni đều có vụ án phạm giới nên đức Phật ban hành điều luật. Trong luật tạng Pali, giới của Tỳ khưu Tăng có 227 còn Tỳ khưu Ni 311 giới. Có người cho rằng, đức Phật không công bằng, cấm giới của Tỳ khưu Ni nhiều hơn tăng, nhưng ít ai nghĩ do Tỳ khưu Ni phạm giới (nói theo nghĩa thế gian là quậy) nhiều hơn tăng nên đức Phật mới cấm giới nhiều. Truyền thống Bắc tông phật giáo, giới luật tăng có 250 và Ni có 38. 311 giới của Tỳ khưu Ni được phân chia như sau:

1)  8 Pārājika (bất cộng trụ)
2)  17 Saṅghādisesa (tăng tàng)
3)  30 NissaggiyaPācittiya (ưng xả đối trị)
4)  166 Pācittiya (ưng đối trị)
5)  8 Pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
6)  75 Sekhiya (ưng học)
7)  7 AdhikaraṇasamathāDhammā (các pháp dàn xếp tranh tụng).

Trước khi trở thành Tỳ khưu ni, giới tử ni phải xuất gia Sa di ni thọ 10 giới. 10 giới đó là:

Phạn ngữ

1. Pànàtipàtà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

2. Adinnàdânà vera manì sikkhàpadam samadiyàmi

3. Abrahma cariỳa ve ramanìyàmi

4. Musàvàdà veramanì sikkhàpadam samà diyàmi

5. Surà meraya majjappamàdatthânà veramanì sikkhàpadam samàdiyàmi

6. Vikàlabhojanà vermanì sikkhàpadam samàdiyàmi

7. Naccagìta vàditavisùkadassanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

8. Màlàgandha vilepanadhàrana mandana vibhùsanatthànà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

9. Uccàsayana mahàsayanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

10. Jàtarù parajatapatiggahanà veramanì sikkhapadam sayà diyàmi

Nghĩa

1. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự giết thác lòai sanh mạng

2. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự trộm cắp

3. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự thông dâm

4. Tôi xin vâng giữ điều học,là cố ý tránh xa sự nói dối

5. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu

6. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự ăn sái giờ (từ đúng ngọ cho đến mặt trời mọc chẳng được phép ăn vật chi cả).

7. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự hát múa

8. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự trang điểm, đeo tràng bông, thoa vật thơm và dồi phấn

9. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa chỗ nằm và ngồi quá cao và xinh đẹp

10. Tôi xin vâng giữ điều học, là cố ý tránh xa sự thọ lãnh, cất giữ, hoặc bảo kẻ khác thọ lãnh, cất giữ vàng bạc châu báu, hoặc cảm xúc đến các vật ấy

 

Sau khi thành tựu Sa di ni, tiếp tục Sa di ni tu Thức xoa ma ni. Vị thức Xoa Ma ni gìn giữ lục pháp trong thời gian 2 năm, lục pháp đó là:

1. Cùng với thân người nam (từ mí tóc trở xuống đầu gối trở lên) có tâm nhiễm xúc chạm người nam thành niên và biết người ấy đối với mình có tâm ô nhiễm.

2. Trộm của người 4 tiền trở xuống: Trị giá 4 tiền trở xuống cho đến một cây kim ngọn cỏ.

3. Cố giết mạng súc sinh: Cố ý giết hại dị loại chúng sinh khiến cho nó chết.

4. Tiểu vọng ngữ: Nói trái lại với điều mình thấy, nghe, hay, biết.

5.  Ăn phi thời: Bóng mặt trời quá giữa ngọ mà ăn.

6. Uống rượu: Cho đến một giọt dính vào môi

Thức xoa ma ni phạm 4 giới trước của Sa di thập giới (4 tội căn bản) bị trục xuất ra khỏi Tăng đoàn (diệt tẩn). Phạm bất cứ một pháp nào trong lục pháp đã nêu trên phải bạch nhị yết ma lại và thọ lại lục pháp 2 năm. Nếu phạm các giới khác, chỉ gọi là khuyết hạnh, hối cải liền trừ.

Sa di ni và Thức xua ma ni gìn giữ giới và điều học của mình tốt, đúng 20 tuổi thầy bổn sư cho tu lên bậc trên Tỳ khưu ni. Nghi thức tu phải trải qua tứ tác bạch tuyên ngôn của hai bộ phái Tăng và Ni. Từ đó nghiêm trì giữ 311 giới luật của đức Phật ban hành trong luật tạng Pali.

III. Phục Hồi Tỳ Khưu Ni Nguyên Thủy Theravada

Hai vị Thượng tọa Mapalagama và Vipullasara lãnh đạo và huấn luyện 10 tu nữ Sri Lanka để chuẩn bị cho việc truyền giới Tỳ khưu ni ở India. Sau ba tháng huấn luyện, một ni đoàn Korea truyền đại giới cho 10 Tu nữ Sri Lanka vào năm 1996 ở Sanatha, India. Người lãnh đạo 10 Tu nữ tiên phong này chính là Tỳ khưu ni Kusuma, trước đây tên là Kusuma Devandra.

Tháng 12 năm 1998, tại thánh địa nơi Phật thành đạo (Bodhigaya) do sự tài trợ tổ chức Phật Quang Sơn - có Trụ sở tại Cao Hùng - Taiwan, Chư tôn đức các truyền thống PGNT, Đại thừa, Tây Tạng đến tham dự đại lễ xuất gia tỳ khưu ni của PGNT. Tu nữ các nước như Thailand, Myanmar, Cambodia, Vietnam đến tham dự xuất gia. Đáng tiếc một số vị tu nữ xuất gia này khi về nước giáo hội chánh thống chưa công nhận, thậm chí ở Thailand có văn bản của đức Tăng thống cấm.

Kể từ năm 1998 đến nay, truyền giới tỳ khưu ni được tổ chức hằng năm tại Dambulla Sri Lanka và hiện tại có hơn 500 Tỳ khưu ni sống và tu ở Sri Lanka. Nhưng trong lúc nhiều người, cả tăng lẫn tục, ủng hộ và tán thán sự phục hồi của Hội chúng Tỳ khưu ni, cho đến nay, sự kiện này vẫn chưa được công nhận chính thức bởi nhà nước Sri lanka, hay các bậc Đại trưởng lão, những người được chỉ định là lãnh đạo tối cao của Tăng đoàn. Trong một số quốc gia Nguyên thủy khác như Myanmar và Thailand, sự chống đối việc thành lập Hội chúng Tỳ Khưu ni vẫn còn mạnh mẽ. Trong các quốc gia đó, các vị trưởng lão cho rằng việc phục hồi Hội chúng ni là trái với Vinaya (Luật) và thậm chí cho rằng đó là một yếu tố khiến cho sự tồn tại lâu dài của Đạo Phật bị đe dọa.

Bangkok, Thailand - Hội đồng Tăng già tối cao Phật giáo Thailand đã phê chuẩn quyết định của Hội Thiền lâm Wat Pah Pong về việc khai trừ Tu viện Phật giáo Bodhinyana, Tây Úc ra khỏi hội, sau khi viện chủ tu viện này cho phép truyền giới Tỳ kheo ni cho 4 tu nữ. 

Vì không có dòng truyền thừa của Tỳ kheo ni Nam tông nên việc truyền giới Tỳ kheo ni cho nữ tu bị cấm trong PGNT Thailand, vốn là một tông phái chính ở Thailand.

Tuy nhiên, viện chủ Tu viện Phật giáo Bodhinyana, sư Phra Brahmvamso, sinh quán tại Anh quốc, đã cho phép mở giới đàn truyền giới Tỳ kheo Ni cho nữ tu vào cuối tháng 10/2009 và đã tham dự lễ này bất chấp sự phản đối của các cao Tăng ([4])

Tại sao họ làm vậy? Vì họ căn cứ vào tư liệu của China là vào năm 428 và 433 sau Tây lịch, Ni đoàn Sri Lanka truyền giới cho China, vậy nay Ni đoàn China, Taiwan truyền giới lại cho Ni giới Nguyên Thủy. Một số nhà lãnh đạo Phật giáo truyền thống Nguyên Thủy cho rằng Ni Đại thừa truyền giới cho Ni giới Nguyên Thủy là đều không phù hợp theo tinh thần giới luật. Những nhà sư Phương Tây như Hòa thượng Bramhmavamso, Trưởng lão Bodhi lại cho việc phục hồi Tỳ khưu Ni là việc bình thường, đáng phải làm. Vả lại những phụ nữ Tây phương họ muốn bình thường hóa với Chư tăng.

Trong khi ấy, Quý Trưởng lão Hòa thượng truyền thống Nguyên Thủy căn cứ về tiến trình giới luật để truyền Tỳ khưu ni như vậy là không đúng quy trình của luật tạng Pali. Theo trình tự của giới luật, giới tử Ni phải thọ Sa di ni thời gian không hạn định, gìn giữ 10 giới cấm; sau đó thầy tế độ cho thọ Thức xoa Ma ni 2 năm, thọ trì lục pháp như đa đề cập ở trên; tiếp theo Thức xoa Ma ni tu lên bậc trên trãi qua các tuyên ngôn Tăng sự của hai bộ phái Tăng và Ni. Vấn đề ở đây, các Hòa thượng truyền thống Nguyên Thủy bảo rằng thiếu hội chúng Tỳ khưu ni thì làm sao thành tựu tăng sự cho việc phục hoạt Tỳ khưu ni, việc sử dụng Tỳ khưu ni của Đại thừa China, Taiwan v.v… thì quý ngài chưa chấp nhận và không đúng pháp.

Vấn đề tế nhị trong nhà Phật, truyền thống Nguyên Thủy theravada trên thế giới cho rằng Tỳ kheo Ni của China, Taiwan, Korea thậm chí chưa thành tựu Sa di ni huống hồ chi phẩm giá Tỳ kheo ni để phục hoạt cho Tỳ kheo Ni của Nguyên Thủy. Những vấn đề chúng ta cần phải lưu ý: Một là, nghi lễ truyền giới Sa di Ni phải thực hiện theo trình tự nghi lễ xin thầy xuất gia, dâng y cho thầy, xin y lại, thụ Tam quy, thụ thập giới, tất cả sử dụng nghi lễ bằng ngôn ngữ Pali. Ni đoàn China, Taiwan không thể thực hiện được điều này. Hai là, Sa di ni thụ 10 giới, năm giới sau của thập giới, chúng ta nhận thấy ni China, Taiwan không thực hiện trọn vẹn trong truyền thống của họ, cụ thể là giới ăn phi thời, giới cất giữ vàng bạc châu báu v.v... Dựa vào hai tiêu chí trên, những nhà lãnh đạo tinh thần của truyền thống Nguyên Thủy như Thailand, Myanmar, Sri Lanka chưa chấp nhận là vậy.

IV. Định Hướng Tu nữ và Tỳ khưu Ni Nguyên Thủy trong Tương Lai

Truyền thống Tu nữ Nam Tông Kinh có mặt ở Việt Nam song song với chư Tăng. Chư tăng, Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Bửu Chơn hoằng pháp và đặt nền móng cho PGNT vào năm 1938; Tu nữ Diệu Đáng thiết lập Ni bộ Tu nữ Bửu Quang, Bửu Long vào năm 1941, tồn tại cho đến ngày hôm nay. Hiện nay, Ni viện Bửu Quang còn một Tu nữ Trưởng lao Diệu Ngọc thọ 102 tuổi. Quý tu nữ này là thành viên của Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam từ năm 1957 đến năm 1981. Trong thời gian này, Quý Tu nữ khi xuất gia được đức Tăng thống Giáo hội cấp Giấy chứng nhận Tu nữ “Chaya”.

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, quý Tu nữ này chưa có giấy chứng nhận Tăng Ni vì hai lý do: Một là, số lượng Tu nữ quá ít. Hai là, Quý Hòa thượng chưa thống nhất công nhận như thế nào. Năm 2011, Tu nữ chánh thức công nhận “Trong Nội Quy Ban Tăng Sự Trung Ương” là thành phần xuất gia biệt truyền trong truyền thống Phật giáo Nam Tông kinh. Năm 2012, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tăng sự Trung ương chánh thức chấp thuận cấp giấy Chứng nhận Tu nữ Nam Tông.

Hội nghị cuối năm 2015 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong tham luận Hệ phái Phật giáo Nam Tông kinh có kiến nghị Hội đồng Trị sự GHPGVN cho phép Quý Tu nữ tham gia chức danh để hoạt động Phật sự trong Hội đồng Trị sự, các Ban Viện Trung ương, Các tỉnh thành có Tu nữ Nam Tông Kinh.

Hiện nay, Tu nữ Phật giáo Nam Tông Kinh dưới sự Chứng minh của Hòa thượng Viên Minh và lãnh đạo tinh thần của của Hòa thượng Thích Thiện Tâm, Phó chủ tịch HĐTS. GHPGVN mọi sinh hoạt tu học tạm ổn. Có những Tu nữ tham gia học ở Học viện Phật giáo Việt Nam và du học ở Thailand, Myanmar, America, Australia v.v…Ở tỉnh Vĩnh Long, Tu nữ Mỹ Hồng có lập thêm chùa Như Pháp; Tp. Cần Thơ, Tu nữ Ngọc Duyên lập Tịnh thất Siêu Lý năm 1985; Tp. Hồ Chí Minh, Trưởng lão Tu nữ Pháp Đạt lập tịnh thất Pháp Đạt năm 2015 ở Huyện Bình Chánh; Tỉnh Đồng Nai,Tu nữ Diệu Định lập Ni viện Y Sơn năm 2000.

Về mặt giới luật, Quý Tu nữ thọ 8, hoặc 10 giới; hành trì Bát kỉnh pháp; nghiêm túc giữ 10 điều Trục xuất; 10 điều hành phạt; 10 điều học; 75 Ưng học pháp. Vậy tổng cộng Giới Tu nữ là 111 giới. Nghi thức xuất gia Thầy bổn sư truyền giới phải là Tăng, trưởng lão Tu nữ trao Pháp y. Một tháng có hai ngày 15 và 30 hằng tháng đến xin giới ở tỳ khưu tăng và học giáo giới. Pháp y của Tu nữ hiện nay có 3 màu đăng ký với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đó là màu trắng, màu nâu và màu hồng. Màu trắng là màu chánh thống ([5]).

Sự xuất hiện Tỳ khưu Ni PGNT tại Việt Nam vào năm 2002, nguyên do là bốn Tu nữ hệ phái Nam Tông sang Sri Lanka thọ giới Tỳ khưu ni tại chùa Tapodhana Rama Sirilanka dưới sự hướng dẫn thầy bổn sự Hòa thượng Dhammaloka và Ni sư Korea. Chư Tăng tham dự đều là Chư tăng Nguyên Thủy Sri Lanka, Chư Ni có cả Nam lẫn Bắc Tông quốc tế. Danh sách bốn Tu nữ Nam Tông xuất gia tỳ khưu ni tại Sri Lanka:

1.     Tỳ khưu ni Liễu Pháp, Pháp danh Viditadhamma

2.     Tỳ khưu ni Như Liên, Pháp danh Susanta

3.     Tỳ khưu ni Tịnh Nguyện, Pháp danh Dhammananda

4.     Tỳ khưu ni Huệ Minh, Pháp danh Pannabhasa.

Bốn vị Ni này hiện nay đều thành đạt ở Việt Nam lẫn nước ngoài. Có đệ tử đông và có nhiều cống hiến cho PGNT về mặt văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội. Quý vị này có trình độ văn hóa cao, thậm chí có vị còn đạt học vị tiến sĩ Phật học - Tỳ khưu ni Liễu Pháp.

TN. Liễu Pháp sinh năm 1967, thế danh Dương Thị Thanh Hương, quê gốc ở Huế. Tốt nghiệp cấp III năm 1985 trường Nguyễn Huệ - Huế ; Tốt nghiệp cử nhân năm 1990 tại Đại học Sư phạm Huế, Thạc sĩ Phật học năm 2000 tại Đại học New Dehli India; Tiến sĩ Phật học năm 2013 tại Đại học New Dehli India. Hiện nay là Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam. Ni trưởng Ni viện Viên Không tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Cô phát tâm xuất gia năm 1991 tại chùa Tây Linh, Huế theo truyền thống phật giáo Bắc Tông. Năm 1993 xuất gia Tu nữ với Hòa thượng Viên Minh tại chùa Bửu Long, Q.9, Tp. Hồ Chí Minh, có pháp danh là Liễu Pháp.

Từ lúc thọ giới Tỳ khưu ni tại Sri Lanka năm 2002, cô phấn đấu hoàn thành học vị Tiến sĩ Phật học năm 2013. Trở về nước tham gia giảng dạy ở Học viện Phật giáo Việt Nam, tham gia điều hành và tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế, tham dự Hội nghị Sakyaghita tổ chức ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, cô đã đóng góp khá tốt trong các phong trào Văn hóa, giáo dục và xã hội trong thời gian qua.

Từ lúc trở về Việt Nam, cô phát huy thành lập Ni viện Viên Không dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Viên Minh thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN. Tiếp độ Ni chúng, hiện nay có 9 Tỳ khưu ni và 16 vị Sa di ni. Song song cô có Tỳ khưu ni Như Liên Trụ trì Tịnh An Lan Nha tỉnh Bà Rịa Vung Tàu, tiếp độ 4 Tỳ khưu ni.

Việc xuất hiện Tỳ khưu Ni hệ phái Nam Tông cho đến nay vẫn chưa có buổi họp nào có tính pháp lý để chấp thuận hay không. Được biết, nhiều vị Trụ trì không chấp thuận, nhưng chỉ phát biểu theo ý cá nhân, chưa có tính pháp lý tổng hợp. Tới thời điểm này, Quý vị xuất gia Tỳ khưu ni vẫn chưa có tính pháp lý thực thụ, nếu có chỉ là giấy chứng nhận Tăng Ni theo mẫu chung của GHPGVN. Nhưng trong Nội quy Ban Tăng sự TW thì Phật giáo Nam Tông kinh chưa có Tỳ khưu ni, chỉ có Tu nữ, như vậy vấn đề này phải giải quyết sao? Nếu kê khai lý lịch và chùa chiền thì phải khai hệ phái gốc là gì? Nếu khai hệ phái Nam Tông, Phật giáo Nam Tông hiện nay có giới đàn riêng, chứng điệp có Tam sư thất chứng của Nam Tông. Nhưng cần lưu ý, chúng ta xuất gia theo hệ phái Nam Tông Kinh, mà thành phần Tam sư Thất chứng không phải là Nam tông có phù hợp hay không? Chúng tôi gợi lại vấn đề này mong chư tôn đức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các vị lãnh đạo Phật giáo Nam Tông có một giải pháp đúng để ổn định, kế thừa và phát triển dòng Ni bộ PGNT.

Phân ban Tăng sự Phật giáo Nam Tông Kinh Trung ương do Hòa thượng Thích Viên Minh chứng minh, Hòa thượng Thích Thiện Tâm Trưởng ban và 32 thành viên đại diện Phật giáo Nam Tông kinh các tỉnh thành. Phân ban này có quyết định công nhận của Trung ương GHPGVN năm 2015. Hy vọng trong tương lai có những buổi hợp để định hướng cụ thể cho việc Ni bộ PGNT để trình Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có định hướng cụ thể cho việc phát triển Tu nữ và có hướng giải quyết Tỳ khưu ni Nam Tông theo đúng luật tạng Pali và Nội quy Ban Tăng sự Trung ương.

C.KẾT LUẬN

Ni đoàn PGNT đã có tiến trình lịch sử phát triển lâu đời, sâu rộng như dòng chảy bất tận, thăng trầm theo thời gian. Ni đoàn đã lặng lẽ cống hiến trí tuệ và có những cống hiến tích cực cho sự phát triển bền vững của Phật giáo thế giới nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng. Dẫu có địa vị xã hội như thế nào, có xuất thân quyền quí ra sao thì một khi đã nhất tâm phụng sự tam bảo, các vị ấy đều đã biết dẹp bỏ hết những cái tôi riêng tư để từ đó một lòng tinh tấn hoằng pháp lợi sanh, hết lòng cống hiến vì sự phát triển chung của Phật giáo.

Có những vị bỏ cả đời cho việc hoằng pháp lợi sanh ở trong nước và hải ngoại, say mê trong việc giảng dạy ở học viện và mở nhiều khóa tu học cho phật tử. Về văn hóa, có vị biên dịch, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị phật học, tham gia viết báo v.v…Về từ thiện xã hội, có nhiều Tu nữ mỗi năm có thể kêu gọi, quyên góp và tổ chức các hoạt động từ thiện với con số hàng tỷ đồng.

Trong tứ chúng, tỳ khưu ni, Tu nữ là một bộ phận không thể tách rời trong Giáo hội, nếu thiếu thì giáo hội sẽ suy yếu, mất đi tính kế thừa và phát triển. Tương tự như chiếc ghế có 4 chân, bị lìa một chân, chắc chắn chiếc ghế đó khó sử dụng. Phật giáo phát triển mạnh, vai trò người tu nữ đóng góp lúc nào cũng có tỷ lệ cao. Chùa chiền nữ phật tử cũng chiếm đa số, chư ni thường có số đông hơn số lượng tăng chúng. Do đó, chúng ta cần phải bảo vệ, nâng đỡ hàng Ni bộ trong Phật giáo.

Mục đích của việc xuất gia là phá ngã, phá tướng, phá chấp. Kết quả là thành tựu quả vị phật Thinh văn giác, Độc giác và Chánh đẳng chánh giác. Theo Tiểu Bộ Kinh -  Buddhavamsa, người phụ nữ xuất gia vẫn đạt được quả vị Thinh văn giác, ngoại trừ quả vị độc giác và toàn giác. Thời đức Phật, chúng ta thấy hàng ngũ nam Thinh văn nổi tiếng có Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, còn nữ Thinh văn nổi tiếng có Khema và Uppalavanna.

Vấn đề phục hồi Tỳ khưu ni trên thế giới, cụ thể là Sri Lanka, là một hiện tượng khả quan trong nữ giới, phù hợp với phụ nữ phương tây, thoả đáng cho những tăng ni và phật tử quan tâm ủng hộ. Tuy nhiên, khi xuất gia xong trở về nước, quý vị đã gặp một số chướng ngại từ giáo hội, tông môn hệ phái chưa đồng thuận, dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận Tăng Ni chưa có cụ thể. Điểm quan tâm lớn, quy trình tái xuất gia tỳ khưu ni của Nam tông có phù hợp tinh thần quốc tế, thích nghi với địa phương, đúng truyền thống giới luật Nguyên thuỷ hay việc phục hồi đó chỉ là một cá nhân tổ chức, nhưng mang danh nghĩa quốc tế? Điểm này, cần phải có những luật sư của PGNT thẩm định, tiến độ phục hồi đó.

Như vậy, qua tham luận này, chúng tôi có một số kiến nghị như sau:

1.     Cần làm sáng tỏ việc tái phục tỳ khưu ni PGNT trên thế giới vào năm 1996 và 1998 ở India có phù hợp với tinh thần giới luật của đức Phật hay không?

2.     Những vị xuất gia Tỳ khưu ni ở Sri Lanka khi trở về nước chưa được giáo hội công nhận, chúng ta phải có biện pháp bảo vệ quyền lợi của họ ra sao?

3.     Hơn 20 vị Tỳ khưu ni Nam tông hiện nay ở Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và hệ phái Nam Tông phải giúp đỡ họ như thế nào cho phù hợp với giới luật Nguyên thuỷ, phù hợp với Nội quy Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

 Đại đức Tiến sĩ Thiện Minh

 

SÁCH THAM KHẢO

1.     Tỳ khưu Indachanda, Giới luật Tỳ khưu Tăng, xuất bản năm 2000

2.     Tỳ khưu Indachanda, Giới luật Tỳ khưu Ni, xuất bản năm 2001

3.     Hòa thượng Hộ Tông, Giới luật người xuất gia, xuất bản năm 1976

4.     Hòa thượng Bửu Chơn, Tứ Thanh Tịnh Giới, xuất bản năm 1970

5.     Tỳ khưu Siêu Minh dịch, Chú giải Giới luật Nguyên Thuỷ, xuất bản năm 2009



([1])Đại phẩm Mahavagga

([2]) Thông Kham - Lịch sử Phật tổ Gotama

([3])Mahavamsa – Đại vương Thống sử

([4]) Theo Tạp chí Bănkok Thái Lan, Minh Trí dịch (Internet)

([5]) Công văn đăng ký của HT Thích Thiện Tâm năm 2013

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang