phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Gương Tăng Ni

Đôi dòng tiểu sử Đại đức Nguyễn Đức Tài - pháp danh Giác Tuệ

Ngày đăng tin: 2 năm trước
(10/2)
Tỳ khưu Yết ma Thiện Minh
Đôi dòng tiểu sử Đại đức Nguyễn Đức Tài - pháp danh Giác Tuệ

NAM MÔ THẾ TÔN ỨNG CÚNG CHÁNH BIẾN TRI

Trước khi cử hành lễ nhập quan và di quan, tiễn đưa hình hài của Đại đức Nguyễn Đức Tài, Pháp danh Giác Tuệ về nơi an nghỉ cuối cùng ở Đài hỏa táng Hoa Kỳ, tiểu bang California, chúng tôi đại diện Ban tổ chức xin có đôi dòng tiểu sử và vài lời vĩnh biệt đối với Đại Đức. 

Kính bạch Chư tôn thiền đức Tăng Ni,

Kính thưa tang gia hiếu quyến cùng toàn thể quý vị Phật tử, 

Tại Vĩnh Long, vùng đất hiền hòa, thiêng liêng, có dòng sông Cửu Long tươi mát, có cánh đồng lúa phì nhiêu, Đại đức Nguyễn Đức Tài, pháp danh Giác Tuệ chào đời năm 1962 trong gia đình đạo đức gương mẫu, nho gia, có 9 anh chị em, Đại đức là con thứ hai. Thân phụ là ông Nguyễn Hiếu Nghĩa, thân mẫu bà Nguyễn Thị Mười. 

Tuổi thơ Đại đức Nguyễn Đức Tài, sống êm đềm và hạnh phúc bên cha mẹ. Đời sống gia đình sung túc, khá giả trong vùng thời đó, nhưng cố Đại đức lại siêng năng hiếu học và cầu tiến trong cuộc sống. Nhờ vậy nên đã đổ tú tài vào năm 18 tuổi. Sống có hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng thuận hòa với anh em, tôn kính những người đáng tôn kính, thế nên ai gặp Nguyễn Đức Tài, đều cũng tỏ tình thương mến thương. 

Duyên lành hội đủ năm 1981, song thân cho phép, Đại đức đã vào chùa Siêu Lý Vĩnh Long làm giới tử. Được Hoà thượng Tịnh Sự thương, Chư tăng mến và chăm học kinh luật luận, kinh tụng pali nên 3 tháng sau được thọ giới tại chùa Siêu Lý, thầy bổn sư là Hoà thượng Tịnh Sự. Xuất gia xong, theo thầy làm thị giả, học Vi Diệu Pháp, giới luật của người xuất gia, chuyên cần trong pháp thiền định. 

Hoà thượng Tịnh Sự thường vân du chùa này chùa kia để dạy Vi diệu pháp, nên Đại đức Giác Tuệ cũng theo hầu thầy và học luận tạng pali. Thế là giảng đường Siêu Lý, chùa Trúc Lâm, Q. 6 ; Chùa Kỳ Viên, Q.3, Phúc Tuệ Tịnh Môn, Thiền Quang I, Thiền Quang II, Tổ đình Bửu Quang v.v… 

Năm 1989, vì hoàn cảnh gia đình, Đại đức hồi tục, không còn là người xuất gia nữa, hoà nhập cuộc sống đời thường. Giữa đời và đạo là mối bận tâm ưu tư, trăn trở của ngày tháng, mới thật sự hoà nhập. 

Từ năm 1989 đến 1992, trường Võ Hoà Khanh, thầy giáo Nguyễn Đức Tài đã có 3 năm giáo viên giảng dạy môn Kế toán. Ba năm tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại trong  lòng của Ban Giám hiệu và đồng nghiệp một niềm kính mến vô biên. 

Năm 1992 đến năm 1995, thành lập cơ sở Sản xuất Nước hoa, nước Rửa chén Minh Khương. 

Thời gian hồi tục, làm giáo viên, chủ cơ sở tiểu thương nhỏ, Nguyễn Đức Tài đã lập gia đình với một phụ nữ quê quán ở Gò Dưa, Thủ Đức, đó là cô Đoàn Thị Lệ, Anh chị đã sanh hai người con, nay đã khôn lớn. 

Gia đình đang hạnh phúc, một ngày kia vào năm 2003, Ông Đoàn Văn Dây là anh của cô Đoàn Thị Lệ qua đời. Vì Trú xứ của Ông Dây và Gia đình Đức Tài gần nhau. Chư tăng Tổ đình Bửu Quang đến viếng tang lễ và tụng kinh hằng ngày. Dịp này Nguyễn Đức Tài gặp lại chư tăng sau nhiều năm xa cách. Gặp lại mừng vui khôn xiết. Kể từ lúc hồi tục ít có dịp trở về chùa. Ngày cuối cùng của đám tang ông Đoàn Văn Dây, Đại đức Thiện Minh có đến tham dự buổi Di quan, có gặp Cư sĩ Đức Tài trò chuyện thân mật. Trong buổi nói chuyện, Đại đức Thiện Minh nhã ý mời cư sĩ đến chùa Bửu Quang giảng dạy Vi diệu pháp cho Tăng ni mới tu và chư Phật tử. Cư sĩ không nhận lời. Hẹn sẽ trả lời sau. Một tuần sau, Cư sĩ Đức Tài và người bạn đời đến Bửu Quang Tự thăm Đại đức Thiện Minh và nhận lời dạy Vi diệu pháp. Thế là từ đó đến tận hôm nay Cư sĩ có mặt khá nhiều ở Tổ đình Bửu Quang với vai trò Giáo thọ môn Vi Diệu Pháp. Giống như mãnh hổ được trở về với núi rừng, thì hạnh phúc biết bao, lợi ích cho pháp bảo biết dường nào. 

Năm 2004, Tổ đình Bửu Quang long trọng cử hành khoá Vi diệu pháp Tiểu học, giảng viên là Cư sĩ Đức Tài, học viên chỉ 20 học viên, Tăng ni và Phật tử. 

Năm 2006, Cư sĩ được phép gia đình, phát nguyện xuất gia gieo duyên để tu hành và giảng dạy những ngày còn lại. Thầy bổn sư Hoà thượng Giác Sơn, Thượng toạ Giác Giới, Đại đức Thiện Minh thầy tiếp dẫn. 

Kể từ lúc nhận làm Giáo thọ ở Bửu Quang Tự, Giáo thọ Giác Tuệ đã làm những công như sau : 

-1/ Đã hoàn xuất sắc Khai giảng và bế giảng 8 khoá Tiểu học, có khoảng 220 học viên tham

- 2/ Đã hoàn thành xuất sắc Khai giảng và Bế giảng 2 khoá Trung học, có hơn 20 học viên.

- 3/ Đã hoàn thành xuất sắc Khai giảng và Bế giảng 2 khoá Cao học, có khoảng 15 học viên.

- 4/ Biên soạn Giáo trình giảng dạy : «  Tự học Vi Diệu Pháp » tập 1,2,3,4,5

- 5/ Biên soạn và xuất bản những quyển sách có giá trị như : Cư sĩ Giới pháp, Thực tánh pháp, Ứng Tri pháp v.v…

- 6/ Cố vấn chỉ đạo các Đệ tử học viên, đánh máy, hiệu đính 7 Bộ luận của Cố Hoà thượng Tịnh Sự dịch thuật trước và sau 1975 để in phổ biến trong cộng đồng giới Phật giáo.

- 7/ Tổ chức hai khoá thiền Tứ niệm xứ cho các học viên Vi Diệu Pháp tại Tổ đình Bửu Quang, mỗi khoá có khoảng 50 học viên.

- 8/ Thực hiện được hai quyển Kỷ yếu : «  Kỷ yếu Học viên Vi Diệu Pháp »

- 9/ Tổ chức 3 năm Dâng Y Kathina đến các chùa Phật giáo Nguyên Thuỷ ở Vùng Mekong, đó là Chùa Thiên Trúc, Chùa Bãi Chà Dà, Chùa Ranh Hạt, Chùa Ba Trại, Chùa Rạch Sỏi, Chùa Xóm Khỉ, Chùa 7 Ớt, chùa Tà Kheo.

- 10/ Cho Quy y Tam bảo khoảng 20 Phật tử như : Phật tử Định Tri, Viên An, Tịnh Diệu, v.v…

- 11/ Cùng Đại đức Thiện Minh Vận động Tu  nữ Quang Giới, Tăng Ni và Phật tử chùa Bửu Quang Xây dựng Giảng đường Abhidhamma và Thư viện Phật giáo Nguyên Thủy. 

Năm 2008, Tỳ khưu Giác Tuệ đã thọ bịnh, biết không còn sống nhiều trên dương thế, nên quyết định dành thời gian còn lại để làm những việc lợi ích cho bản thân, gia đình và đạo pháp. Những ngày xuất gia với Hòa thượng Giác Sơn, Hòa thượng ban cho pháp danh Giác Tuệ. Ý nghĩa pháp danh đã đi theo suốt cuộc đời còn lại của Đại đức. Từ ngày Xuất gia cho đến ngày vĩnh biệt trần gian, Đại đức không hề sao lãng trong việc vun bồi phước thiện, đồng thời Đại đức thường khuyên bảo các Phật tử, người thân nên làm nhiều phước thiện. Đại đức còn thường xuyên niệm phật ngồi thiền, biên soạn kinh sách, căn bịnh những ngày tháng cuối cuộc đời đã hành hạ thể xác, nhưng nhờ phước đức, tâm lực tu niệm nên thể xác thì bịnh hoạn, tâm thì hoan hỷ trong phước thiện nên quên đi phần nào khổ vì bịnh. 

Ngày 1 tháng 9 năm 2015, Đại đức và gia đình giã từ người Chư tăng Ni, học viên và Phật tử lên đường sang định cư ở Hải ngoại Hoa Kỳ để đoàn tụ gia đình Cha mẹ và anh em ở tiểu bang California, thành phố Wesminter. 

Đoàn tụ chưa được bao lâu với người thân, chưa kịp tìm chùa để tiếp tục việc tu và học. Ai có ngờ đâu, vô thường đã đến, một chiều mùa thu, vô thường đã cướp đi mạng sống của Đại đức Giác Tuệ, Nguyễn Đức Tài vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 11 tháng 10 năm 2015 tại bệnh viện trong sự nghẹn ngào, bi thương, đau xót và đầy lệ rơi của những người thân. Một mình Đại Đức ra đi, tất cả chúng ta đau xót và mất mát, một sự mất mát ngàn thu không bao giờ tìm lại được. 

Đại Đức Giác Tuệ ra đi vĩnh viễn là một sự mất mát lớn lao cho gia đình để lại cha mẹ già, để lại 2 đứa con thân yêu và một người bạn đời chia vui sẻ buồn trong những năm tháng luân hồi sanh tử. 

Bạn bè và những người thân mãi mãi mất đi một bạn hiền lý tưởng, có trách nhiệm, thương yêu và thông cảm cho nhau. 

Giáo hội Phật giáo Việt Nam mất đi một thành viên của giáo hội. Các chùa Phật giáo mất đi một người Tu sĩ thân thương đáng kính. 

Sự ra đi của Đại đức như một vì sao sáng lìa ngôi, một cội tùng trốc gốc, như một cánh nhạn bay vào không gian vô tận, xa tít mù khơi để lại cho người thân, bàn bè thân thương và giáo hội một khoảng trống vô cùng vô tận. 

Ngưỡng mong Tam bảo gia hộ, tiếp độ giác linh Đại Đức an vui nơi nhàn cảnh. 

Ngưỡng mong giác linh Đại đức chứng giám. Xin vĩnh biệt và mãi mãi vĩnh biệt Phật tử 


 Tỳ khưu Yết ma Thiện Minh

 

 

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang