phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Lịch Sử

Chuyện tâm linh trong án thù của triều Nguyễn với công chúa Ngọc Hân

Ngày đăng tin: 3 năm trước
(13/2)
Công chúa Ngọc Hân trong lịch sử được biết đến là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Nàng lấy vua Quang Trung và trở thành Bắc Cung Hoàng hậu – một vị hoàng hậu nổi tiếng trong lịch sử.
Chuyện tâm linh trong án thù của triều Nguyễn với công chúa Ngọc Hân


“Hồng nhan đa truân”, câu nói đó có lẽ nó ứng vào cuộc đời của Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân. Nàng mất ở tuổi 29 vì héo mòn trước nỗi đau mất chồng, mất con. Những tưởng đó là dấu chấm hết cho một kiếp hồng nhan, nhưng, cái nghiệp “giai nhân” đã đeo đuổi số phận của nàng ngay cả sau khi Ngọc Hân mất.

Vòng xoáy báo thù của triều Nguyễn với những người trung thành với vương triều Tây Sơn đã không buông tha cả khi Bắc Cung hoàng hậu Ngọc Hân đã thành người thiên cổ.


Đền Ghềnh nơi thờ công chúa Ngọc Hân.

Quật mộ để trả thù

Để tưởng nhớ đến người xưa, vào một buổi chiều đầy nắng và gió, men theo đê sông Hồng , chúng tôi đặt chân đến làng Nành (xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Đây là quê ngoại của Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân.

Bâng khuâng đứng trước khu tưởng niệm công chúa Ngọc Hân cùng hai người con (khu tưởng niệm này được xây dựng và hoàn thành vào năm 2010-PV) mà lòng thấy quặn đau cho số phận bi thương của một nàng công chúa tài sắc vẹn toàn. Thắp nén nhang trên di lăng (ngôi mộ giả của công chúa Ngọc Hân cùng hai con), bỗng chốc lòng chúng tôi cảm thấy thương xót cho người xưa.

Các cụ cao niên làng Nành kể lại, công chúa Ngọc Hân từng chịu nhiều đau đớn ở cõi trần. Và lúc chết, nàng vẫn còn bị đày đọa khi có kẻ tà tâm báo cho triều đình nhà Nguyễn (thời vua Thiệu Trị) biết nơi công chúa đã nhắm mắt xuôi tay. Nhà Nguyễn không ngần ngại cho đào mộ công chúa Ngọc Hân và hai con của nàng với vua Quang Trung vứt xuống sông Hồng.

Theo ông Nguyễn Đắc Bình (65 tuổi, người làng Nành), trước đây các cụ cao niên trong làng thường kể lại cho con cháu về chuyện vợ vua Lê Hiển Tông là bà Nguyễn Thị Huyền- mẹ của công chúa Ngọc Hân. Khi đó, do sợ việc nhà Nguyễn truy bức nhà Tây Sơn sẽ làm hại đến mộ phần của con gái cùng hai cháu, bà đã bí mật vào Huế đưa hài cốt của ba mẹ con Hoàng hậu Ngọc Hân từ Huế về chôn cất tại bãi Cây Đại, ở rìa làng Nành.

Để làm được điều này, bà Nguyễn Thị Huyền đã chuẩn bị hết sức kỳ công, phải cực khổ vượt qua quãng đường từ Hà Nội vào Huế và luôn tuyệt đối giữ bí mật. Tuy nhiên, vào năm 1842, một kẻ tiểu nhân đã tìm cách báo lên quan để mong lĩnh thưởng. Sau đó, nhà Nguyễn đã ra lệnh quật mộ lên, lấy hài cốt ba mẹ con đem ném xuống sông Hồng.

“Cơn thịnh nộ"... của sông Hồng?

Theo sự mách nước của ông Bình, chúng tôi tìm đến khúc sông nơi quan quân triều Nguyễn ném xác Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân. Được biết, do thương cảm cho số phận của một tuyệt sắc giai nhân, người dân đã âm thầm xây đền tại nơi tương truyền xác của bà được ném xuống để thờ phụng mang tên đền Ghềnh.


Tượng thờ vua Quang Trung và Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân tại xã Ninh Hiệp.

Nằm sâu trong con ngõ nhỏ thuộc thôn Ái Mộ (xã Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội), đền Ghềnh ngày nay cách cầu Chương Dương hơn 100m ở phía hạ lưu. Phía trước của đền Ghềnh là dòng sông Hồng cuộn chảy với bao hoài niệm trôi đi theo từng con nước. Đứng nơi đây, chúng tôi phóng tầm mắt nhìn thẳng ra xa là một vùng nước mênh mông như cố kiếm tìm những dấu vết của người xưa. Nhưng dường như tất cả đã chìm sâu theo năm tháng.

Trên văn bia ở đền hiện nay chỉ ghi lại: Năm 1858 bà Đặng Thị Bản, một người trong vùng vì mến mộ tài năng, đức hạnh của công chúa Ngọc Hân, cùng với tấm lòng trắc ẩn đối với người con gái đất Thăng Long tài hoa nhưng đoản mệnh đã đứng ra quyên góp xây dựng đền Ghềnh. Trong hậu cung đền Ghềnh hiện vẫn còn lưu đôi câu đối ca ngợi công chúa Lê Ngọc Hân: “Núi nhạc linh thiêng, gương bà họ Lê lưu truyền sử sách - Sóng gió lặng yên, đền dựng lên to đẹp bên sông Hồng”.

Trước đây, sông Hồng đoạn chảy qua đền là một ghềnh nước xoáy. Nhưng theo năm tháng do dòng chảy biến động, ghềnh nước này mất đi và chỉ còn lại dấu tích nơi tên đền. Cụ Đặng Đình Khuê, thủ từ của đền Ghềnh cho biết, vào năm 1842, khi quan quân nhà Nguyễn đưa thi hài công chúa Ngọc Hân trên đường đi vứt thì qua đây đột nhiên sóng gió nổi lên, giông lốc giật mạnh.

Cả đoàn thuyền lớn phút chốc bị sóng gió quật mạnh, xô đập dữ dội. Chiếc thuyền trong phút chốc bị sóng gió làm cho nghiêng ngả. Tình thế hiểm nguy khôn lường, quan quân triều Nguyễn không biết làm cách nào, đành vứt vội xác của công chúa Ngọc Hân và xác hai con của nàng xuống sông rồi chèo thuyền tìm cách vào bờ chạy trốn.

Cụ Đình Khuê cũng cho rằng, đền Ghềnh ra đời thời kỳ nhà Nguyễn còn trị vì nên tượng thờ của bà chúa Tiên (công chúa Ngọc Hân) được đặt bí mật ở Hậu Cung. Trao đổi với PV báo ĐS&PL, chị Đặng Bích Diệp, nhân viên thuộc ban quản lý di tích đền Ghềnh cũng cho biết, nét đặc trưng trong lễ hội đền Ghềnh là tục rước nước từ sông Hồng vào đền.

Thực chất đó là nghi lễ ẩn dụ rước linh hồn của công chúa Ngọc Hân và hai con trước khi tổ chức lễ hội. Nghe cụ Khuê và chị Diệp kể chuyện, lòng chúng tôi bỗng xốn xang vì số phận và lịch sử đã xô đẩy cuộc đời của một tuyệt sắc giai nhân thành bi kịch. Giờ đây, thân xác của nàng công chúa tài sắc cùng hai con đã hòa vào sông núi, như nhắc nhở cho thế hệ sau về số phận của một nữ nhi tài hoa nhưng bạc mệnh.

Những hàm oan xuyên thế kỷ

Số phận của nàng công chúa Ngọc Hân không chỉ bi thương mà cuộc đời bà còn gắn liền với những nỗi hàm oan xuyên thế kỷ. Theo đó, từng có người cho rằng, công chúa Ngọc Hân không chết vào năm 1799 mà bà còn sống mãi về sau. Rồi bà lấy vua Gia Long – người sáng lập ra vương triều Nguyễn. Thậm chí, có nhà văn từng tưởng tượng ra câu chuyện tình đẫm nước mắt giữa bà và vua Gia Long.

Rồi người ta gán ghép cho bà là nhân vật trong câu ca ở Huế, “Người đâu có số lạ lùng/ Con vua lại lấy hai chồng là vua”. Nhưng thực chất đến nay nhân vật được nhắc đến trong câu ca trên được làm rõ là công chúa Lê Ngọc Bình em của Ngọc Hân. Oan thất tiết của bà Ngọc Hân được giải. Nhưng oan này chưa hết thì có thông tin bôi nhọ phẩm hạnh của bà cho rằng, bà chính là người giết chồng (tức vua Quang Trung). Đến nay, sử sách đã khẳng định, tất cả đều là thông tin bịa đặt. Qua đó có thể thấy được, cuộc đời của công chúa Ngọc Hân đầy rẫy những điều thi phị và có cái kết đầy bất hạnh.

Phác họa cuộc đời ngắn ngủi của tuyệt sắc giai nhân

Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Mẫu thân của công chúa Lê Ngọc Hân là Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh (huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh). Công chúa Lê Ngọc Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô Hoàng tử Lê Duy Kỳ tức người sau này lên nối ngôi vua Lê lấy niên hiệu Chiêu Thống.

Khi Nguyễn Huệ làm Tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây Sơn đánh Bắc Hà với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh” năm 1786 thì công chúa Ngọc Hân mới 16 tuổi. Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786, thụ phong Bắc Cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh hạ một con trai là Nguyễn Văn Đức và một gái là Nguyễn Thị Ngọc. Công chúa Ngọc Hân mất năm 1799, đương triều vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm đó nàng mới 29 tuổi.

Theo doisongphapluat

-----
Ngọc Hân công chúa

Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (1740-1786). Mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hà Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Vua Lê Chiêu Thống gọi công chúa Ngọc...

Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (1740-1786). Mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hà Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Vua Lê Chiêu Thống gọi công chúa Ngọc Hân là cô ruột. Công chúa thông minh từ bé, diện mạo thanh tú, xinh xắn.
Ngọc Hân Công Chúa
Bản tính thùy mị dịu dàng. Được vua cha yêu quí đặt tên là Chúa Tiên và truyền cho nữ quan Lễ sư vào cung rèn cặp chữ nghĩa cho công chúa cùng dạy đủ môn: cầm, kỳ, thi, họa.
Chưa đầy 10 tuổi, công chúa đã thuộc làu kinh điển, thông thạo âm luật, giỏi thơ văn cả Hán lẫn Nôm, nhưng có sở trường về văn thơ Nôm.
Nữ sĩ công chúa thường cùng bà Lễ sư khi ngâm vịnh xướng họa, lúc đàn sáo véo von, hoặc thù tạc vui quân tướng sĩ.
Càng lớn, công chúa càng xinh đẹp nết na, duyên dáng đức hạnh, được tiếng thơm khắp hoàng cung; mọi người đều quí trọng.
Năm 1786 Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân tiến ra Bắc với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", được vua Lê Hiển Tông phong tước "Phù chính dực Vũ uy Quốc Công" và gả công chúa Ngọc Hân mới 16 tuổi cho ông.
Sau hôn lễ con gái chẳng bao lâu, bỗng nhiên nhà vua bị bạo bệnh băng hà.
Đợi xong thất tuần vua cha, công chúa Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân, ở phủ Bắc Bình Vương.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu, còn gọi Hữu cung Hoàng hậu.
Lấy chồng được sáu năm, công chúa Ngọc Hân sinh hạ hai người con. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời. Sau tang lễ, bà đau buồn âm thầm đặt riêng một lễ ở Hữu cung, đọc bài Văn tế tự soạn để khóc chồng! Thật là một chuỗi lâm li bi thiết, ví như:
"… Một phút mây che vừng Thái Bạch,
Trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.
Tơ đứt tấc lòng ly biệt.
Châu sa giọt lệ cương thường…
Và:
"… Liều trâm thoa mong theo chốn chân dung, da tóc trăm thân nào có tiếc.
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương".
(Trích Văn tế)
Tiếp đó, bà còn sáng tác thêm "Ai tư vãn" bằng văn quốc âm, thể song thất lục bát, dài 164 câu. Toàn bài tác giả đã vận dụng lời lẽ thật tha thiết mà rất chân thành, rất xúc động từ câu mở đầu:
"Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan hoa héo ron ron!
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu
Lúc thì chạnh nghĩ mối duyên may mình đã được trải qua:
"… Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu qui
Trăm ngàn dặm quản chi non nước
Chữ nghi gia mừng được phải duyên
Sang yêu muôn đội ơn trên
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm…
(Trích Ai tư vãn)
Khi lo lắng thuốc thang cho chồng (vua Quang Trung):
"Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Thoắt lại mơ tưởng lúc chồng vẫn còn sống:
"… Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say
Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng
(Trích Ai tư vãn)
Tác giả lại ngậm ngùi trách tạo hóa hẹp hòi… và tha thiết xin thay mạng:
"… Công dường ấy mà nhân dường ấy
Cõi thọ sao hẹp bấy Hóa công?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Rồi còn muốn liều thân:
"… Quyết liều mong ven chữ tòng
Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e"
(Trích Ai tư vãn)
Nhưng còn vướng víu chỉ vì con nhỏ:
"… Còn trứng nước thương vì đôi chút
Chữ tình thâm chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đòi khi
Hình dường còn ở, hồn thì đã theo;
Mặc dầu biết chắc còn sống thì sẽ nhiều khổ đau oan nghiệt:
"Phút giây bãi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng.
Nỗi đoạn trường còn sống còn đau! ..."
(Trích Ai tư vãn).
Nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân bị bệnh mất ở Phú Xuân năm Kỷ Tị (1799). Bà mất sau vua Quang Trung 7 năm, được tôn Miếu hiệu là Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Lúc đó triều đình cử danh sĩ Phan Huy Ích soạn 5 bài Văn tế bằng Quốc âm để tế Hoàng hậu Ngọc Hân. Đầu tiên là bài cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, trong có đoạn:
"… Giọt ngân phái câu nên vẻ quí, duyên hảo cầu thêm giúp mối tu tề; Khúc thư châu thổi sánh tiếng hòa, khuôn nội tắc đã gây nền nhân nhượng".
"Hồ đỉnh ngậm ngùi cung nọ, những rắp chìm châu nát ngọc vốn từng nguyền; Cung khôn bận bịu gối nao, ép vì vun quén quế lan nên hãy gượng.
"Nẻo thuở doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹn mười phân; Trải phen bến Vỵ đưa duyên, phím sắc xoang cầm vây một thể.
"Dầu gót ngọc vui miền Tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế còn thơ. Dẫu xiêm nghe mến cảnh Thanh Đô, nỡ nào lãng một bóng tang du hầu xế…".
Còn lại 4 bài văn tế nữa, dành cho các vị:
- Mẹ Hoàng Hậu Ngọc Hân là Phù Ninh từ cung đứng tế.
- Các công chúa con gái vua Quang Trung đứng tế.
- Bà con quê ngoại ở Phù Ninh đứng tế.
Theo Quách Tấn, trong "Dụ am văn tập" của danh sĩ Phan Huy Ích còn chép đầy đủ bài Văn tế Vũ Hoàng Hậu cùng năm mất của bà là 1799.
Thế nhưng lại có một vài nhà viết sử, văn học sử đã nêu hai giả thuyết khác nhau không có cứ liệu chính xác:
- Nào là: "Ngọc Hân công chúa bị Gia Long bắt truyền nạp vào hậu cung! ... và bà có thêm 2 con với vua Gia Long…".
- Nào là khi thành Phú Xuân thất thủ, Hoàng hậu Ngọc Hân cùng 2 con cải trang dắt nhau chạy vào Quảng Nam ẩn náu; ngay sau đó cả 3 mẹ con bị bắt và bị triều nhà Nguyễn gia hình được tự chọn cái chết trong tam ban triều điển! ...".
Xin nói niên lịch bà Hoàng hậu Ngọc Hân mất là năm Kỷ Tỵ (1799). Cách hai năm sau, Chúa Nguyễn Phúc Ánh mới lấy được thành Phú Xuân, đó là năm Tân Dậu (1801).
Nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn năm Nhâm Tuất (1802).
Như vậy bà Ngọc Hân không hề lấy vua Gia Long bao giờ, vì bà đã mất trước khi nhà Nguyễn chiếm ngự Phú Xuân.
Phần văn chương trong Ai tư vãn của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: "… văn phong vừa điêu luyện vừa bình dị…".
Ta còn thấy rõ từng nét đau đáu tha thiết của một góa phụ trẻ trung vương giả. Mặt khác còn nổi bật tình nhà, tình nước, sểnh đàn tan nghé! nỗi nước chông chênh!
Và điều rõ nét nhất ta thấy được ở tác giả Ai tư vãn: bà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của Chinh phụ ngâm.
Riêng bài Văn tế của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân lại mang nặng tính chất bác học. Văn vẻ sắc bén vững vàng; chứng tỏ được tài Hán văn của bà.
Bà xứng danh là bậc nữ lưu văn học uyên bác ở cuối thế kỷ 18.
Mh.

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang