" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Nghi Lễ

VẤN ĐỀ TU NỮ PHẬT GIÁO NAM TÔNG

Ngày đăng tin: 5 năm trước
(5/1)
Đại đức Tiến sĩ Thiện Minh

1/ Nguồn gốc của tu nữ Phật Gíao Nam tông tại Việt Nam  

Phật giáo Nam tông du nhập vào Việt Nam khoảng thập niên 30 do Hoà thượng Hộ Tông làm trưởng phái đoàn hoằng pháp. Tổ đình Bửu Quang là ngôi chùa  đầu tiên do các ngài xây dựng và chọn làm Trung tâm hoằng pháp đầu tiên của Phật giáo Nam Tông tại Việt Nam. Chính nơi tổ đình này Phật giáo Nam tông đã phát triển và hiện nay có 90 ngôi chùa Phật giáo Nam tông trên cả nước với 600 chư tăng Nam tông kinh và 300 tu nữ.

Tu nữ Nam tông Việt Nam có mặt vào năm 1945. Người đầu tiên là tu nữ Diệu Đáng – con gái út của cố Hoà thượng Hộ Tông. Tu nữ Diệu Đáng tốt nghiệp cử nhân Phật học tại Myanmar, người thông thạo nhiều ngoại ngữ như  Anh, Pháp, Miến Điện, Campuchia.  Tu nữ  Diệu Đáng xuất gia tại Campuchia sau đó về Việt Nam thành lập hội chúng Tu nữ Phật giáo Nam tông đầu tiên tại Tổ đình Bửu Quang.  Dần dần, tại các chùa Bửu Long ( quận 9), chùa Gíac Quang ( quận 8 ), chùa Tam Bảo ( Đà Nẵng ) cũng thành lập hội chúng Tu nữ với khoảng gần 200 vị là thành viên chính thức xuất gia theo truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ trên thế giới cũng như ở Việt Nam được Gíao hội tăng già nguyên thuỷ Việt Nam ( 1957- 1981) cấp giấy chứng nhận tu nữ.

2/ Điều kiện để trở thành tu nữ

Thời Đức Phật, Kiều Đàm Di Mẫu xin Đức Phật cho xuất gia theo Phật. Đức Phật chỉ trao truyền cho Kiều Đàm Di Mẫu và 500 người nữ đi cùng được xuất gia theo Phật bằng hình thức thọ trì tám giới cấm (Bát Kỉnh Pháp).

Theo năm tháng, giáo đoàn người nữ xuất gia được hình thành và phát triển mạnh mẽ, truyền bá ở nhiều quốc gia khác nhau. Do vậy,  Đức Phật đã ban hành những nghi thức xuất gia cho người phụ nữ theo giới luật Pali . Theo đó, nghi  thức xuất gia của tu nữ phải theo nhị bộ tức là xuất gia bên tăng trước rồi sau đó xuất gia theo bên ni. Và từ đó, người tu nữ xuất gia phát triển và  tồn tại cho đến thế kỉ thứ IV sau Tây lịch.

Thế kỉ thứ III trước công nguyên, vị tỳ kheo ni đầu tiên truyền bá Phật giáo và thiết lập giáo đoàn tỳ kheo ni tại Tích Lan chính là con gái của vua A Sô Ka tên là Săng Khá Mít Tá (Sanghamitta)

Theo lịch sử Phật giáo, chính phái đoàn tỳ kheo ni ở Tích Lan đã truyền giới và thiết lập hội chúng tỳ kheo ni tại Trung Quốc. Nhưng do chiến tranh và hoàn cảnh khách quan nào đó nên tỳ kheo Ni ở Tích Lan không còn nữa và cả giáo đoàn tỳ khưu tăng cũng thế. Tuy nhiên, sau đó giáo đoàn tỳ khưu tăng của Tích Lan được phục hồi do Giáo Hội Phật Giáo Miến Điện. Điều đáng tiếc là chỉ có tỳ khưu tăng được phục hồi còn tỳ kheo ni thì không được phép với lý do là căn cứ theo giới luật Pali, xuất gia tỳ kheo ni phải  theo truyền thống giới luật nhị bộ. Do đó, việc mất gốc tỳ kheo ni ở Tích Lan là vì không có hội chúng tỳ kheo ni nên việc tái phục giáo đoàn của ni không thành tựu. Chính vì thế, tu nữ không đủ điều kiện (có nhị bộ) làm lễ xuất gia thọ đại giới để trở thành tỳ kheo ni theo luật tạng Pali. Cho nên hiện nay trên thế giới, ở các nước Phật Giáo, người nữ chỉ xuất gia và thọ giới dưới sự hướng dẫn truyền giới của chư tăng làm lễ xuất gia mà thôi. Một người cư sĩ nữ muốn trở thành tu nữ phải có thời gian ít nhất 3 tháng ở trong chùa dưới sự chấp thuận của chư tăng, có sự hướng dẫn của một tu nữ trưởng do chư tăng giới thiệu cho vị tu nữ trưởng. Vị tu nữ trưởng sẽ dạy các oai nghi tế hạnh, kinh luật, nội quy sinh hoạt của tự viện do người cư sĩ nữ sẽ xuất gia. Sau khi đã xuất gia trở thành tu nữ thì thọ mười giới cấm, bát kỉnh pháp, ba mươi điều học, bảy mươi lăm ưng học pháp. Tuy nhiên, trước khi xuất gia, người tu nữ phải được cha mẹ cho phép, có được sự ưng thuận của chồng (nếu có), có chứng nhận của chính quyền địa phương không vi phạm pháp luật, có giấy chứng nhận sức khoẻ tốt (sợ bịnh truyền nhiểm).

3/ Phương pháp tu học

Tu nữ xuất gia ngoài việc học giới luật phải tham gia hai thời khoá công phu sáng chiều, tham dự hai kì sám hối hằng tháng vào ngày 14 và 30. Trong hai ngày sám hối này, tu nữ phải sám hối và xin giới lại với chư tăng. Tu nữ phải học và hành trì 5 bộ kinh tạng Pali, thông thạo những giới luật đã ban hành, am hiểu 7 bộ luận. Về pháp hành, vị tu nữ phải chuyên tâm thực hành thiền Vipassana tứ niệm xứ. Đây là phương pháp tu tập bắt buộc tu nữ phải thực tập tu niệm mỗi ngày nhằm có được chánh niệm và tỉnh thức. Nhờ có chánh niệm, vị tu nữ sẽ có trí tuệ, có kiến thức, có giới hạnh trang nghiêm.

4/ Tu nữ Phật Giáo Nam Tông trước và sau năm 1981

Tu nữ Phật Giáo Nam Tông trước năm 1981 phát triển tốt, có hệ thống tổ chức tốt, có tính pháp lý cao. Vì lúc bấy giờ tu nữ Phật Giáo Nam Tông trực thuộc sự quản lí của Giáo hội tăng già Nguyên ThủyViệt Nam. Chính vì vậy, Giáo hội đã cử nhiều vị tu nữ  du học các nước trên thế giới. Tuy nhiên, sau năm1981, khi Phật giáo Nam Tông tham gia trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tu nữ Phật Giáo Nam Tông vẫn chưa được thừa nhận trong hệ thống tăng đoàn của Giáo Hội. Chỉ vì lý do họ chưa phải là tỳ khưu ni. Vẫn biết bị thiệt thòi ở nhiều mặt nhưng quý tu nữ vẫn học và tu nội bộ, không yêu sách, không đòi hỏi tính pháp lý của Giáo hội. Mãi đến năm 2000, kể từ khi Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh do Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát chủ trương cho những ai có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học, có dự thi tuyển đầy đủ  được nhập học tại học viện thì quý bà, quý cô tu nữ Phật giáo Nam tông  hội đủ các điều kiện trên được học tại học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng đông. Có một số vị tu nữ sau khi tốt nghiệp cử nhân Phật học đã du học tại các nước, đặc biệt có nhiều vị tu nữ hiện đang bảo vệ luận án tiến sĩ tại Thái Lan.

Trong nhiệm kì VI,  TWGHPGVN,  tập thể các vị trụ trì Phật Giáo Nam tông kinh đã ký tên kiến nghị GHPGVN cấp trung ương phải công nhận tu nữ trong hệ thống tổ chức của Giáo hội. Bản kiến nghị này đã có kết quả là nội quy Ban Tăng sự trung ương chương…điều…đã công nhận tu nữ Phật giáo Nam tông là thành phần xuất gia trong hệ phái Phật giáo Nam Tông. Năm 2009, GHPGVN cho thành lập Phân Ban đặc trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự trung ương GHPGVN. Ngày lễ ra mắt Phân Ban đặc trách Ni giới, tu nữ Siêu Pháp thuộc Tổ Đình Bửu Quang ( TPHCM) đã có phát biểu tham luận. Sau lễ ra mắt này, Phân Ban đặc trách Ni giới thành lập 10 tiểu ban trong đó có đại diện của tư nữ Phật giáo Nam Tông. Tại hội nghị SAKYAGITA (hội nghị Những người con gái của Đức Phật) các tiểu ban tổ chức hội nghị đều có tu nữ Nam tông làm thành viên. Đặc biệt trong hội nghị này,  tu nữ Diệu Định thuộc Thiền viện Phước Sơn đại diện 300 tu nữ trên cả nước có bài phát biểu tham luận được đăng trong kỷ yếu của hội nghị bản tiếng Anh và bản tiếng Việt.

5/ Định hướng phát triển tu nữ Nam tông

Cuối tháng 5/ 2012, TWGHPGVN có tổ chức hội nghị tu chỉnh hiến chương và tiến đến hội nghị Phật giáo toàn quốc lần thứ 7 tại thủ đô Hà Nội. Trong hội nghị này, nội dung 3 bài phát biểu tham luận của Hoà thương Đào Như (Cần Thơ), Đại đức Sơn Ngọc Huynh (Vĩnh Long) và Thượng toạ Pháp Chất (TPHCM) có kiến nghị với Trung ương Giáo hội về việc cấp giấy chứng nhận xuất gia cho tu nữ Nam tông  để quý tu nữ có đủ pháp lý tu học và hoằng pháp.

Tình hình thực tế hiện nay, hội chúng tu nữ Phật giáo Nam tông còn rất yếu là do tu nữ chưa có tự viện riêng nên sinh hoạt tu tập còn nhiều hạn chế. Hiện nay, tại Cần Thơ chỉ có một chùa tu nữ Phật giáo Nam tông duy nhất là chùa Siêu Lý, ở TPHCM có chùa Diệu Quang,  TP Huế có chùa Kiều Đàm Di Mẫu. Ngoài ra, tại các chùa Nam tông kinh như Tổ Đình Bửu Quang, chùa Bửu Long,Thiền viện Phước Sơn đều có khu vực Ni viện dành riêng cho quý tu nữ xuất gia tu học nhưng cơ sở vật chất cũng còn nhiều thiếu thốn.

 Để tu nữ Phật giáo Nam tông phát triển mạnh hơn nữa, mong GHPGVN cấp trung ương cấp nhanh giấy chứng nhận xuất gia cho tu nữ. Bên cạnh đó, quý cô tu nữ trẻ tuổi cần phải nỗ lực tu học, tham gia các hoạt động xã hội, phát triển văn hoá, dịch kinh viết sách, đẩy mạnh công tác hoằng pháp góp phần phát triển hội chúng tu nữ Phật Giáo Nam Tông . Đồng thời cũng cần xây dựng thêm nhiều chùa tu nữ Nam tông, lập thêm nhiều đạo tràng Phật tử Nam tông để giảng dạy giáo lý Phật giáo, dạy phương pháp tu thiền Vipassana.

6/ Y phục :

Hiện nay, y phục của tu nữ Phật giáo Nam tông tại Việt Nam có ba màu: trắng, nâu, hồng. Màu trắng đã có từ lâu ảnh hưởng của Thái Lan và Campuchia, còn màu nâu và hồng mới xuất hiện khoảng 10 năm  nay, do ảnh hưởng sự truyền thừa ở Miến  Điện. Theo nhận định của Quý Tu nữ màu nâu là màu thích hợp hơn, vì thuận tiện cho quý cô

 

Nguồn tin: dai minh

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang