" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Hoằng Pháp

TIỂU KINH ĐOẠN TẬN ÁI

Ngày đăng tin: 6 năm trước
(14/2)
Bài pháp này Đại Đức Thiện Minh giảng tại chùa Bửu Quang ngày 26/8/2011 trong khoá An cư kiết hạ.

TIỂU KINH ĐOẠN TẬN ÁI        

 

Bài pháp này Đại Đức Thiện Minh giảng tại chùa Bửu Quang ngày 26/8/2011 trong khoá An cư kiết hạ.

 

Nội dung bài giảng

 

Nam mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật

 

Kính thưa toàn thể đại chúng,

 

Hôm nay chúng ta tụng đọc bài kinh số 37 tựa đề : ‘’Tiểu kinh đoạn tận ái’’.

Kinh này tiếng Phạn là Culatanhasankhavasuttam.

 

Đoạn tận ái nghĩa là gì? Ái tiếng Phạn là tanha. Ái diệt, ái đoạn tận gọi là niết bàn. Cõi niết bàn là cõi không ái.

 

Bài kinh hôm nay gọi là tiểu kinh. Chúng ta chú ý bài kinh này để tu làm sao diệt ái, gọi là niết bàn.

 

Mở đầu bài kinh: ‘’ Một thời, Thế Tôn ở tại Savatthi, Đông viên, giảng đường Lộc Mẫu. Rồi Thiên Chủ Sakka đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Sakka đứng một bên bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến một mức độ nào, một tỷ kheo ái tận giải thoát?

 

Ở đoạn này ta thấy mối liên hệ giữa Đức Phật và vua Trời Đế Thích. Vua Đế Thích là học trò của Phật Thích Ca, ngài đã chứng Tu Đà Hườn . Vua Trời Đế Thích hỏi Đức Phật Thích Ca: ‘’Đến mức độ nào, một tỷ kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”? .

 

Ngài Mục Kiền Liên thì không hỏi mà đi lên cõi trời thăm vua Đế Thích rồi hỏi về câu trả lời của Phật về vấn đề ái tận giải thoát. Vua Trời Đế thích bận bịu say mê các cô tiên nữ nên không nói.

 

Quý vị biết là có 6 cõi trời nằm trong cõi dục là: Tứ đại thiên vương, Đạo lợi, Dạ ma, Đẩu xuất, Hóa lạc và Tha hóa tự tại.

Vua Trời Đế Thích tuy đã đắc quả Tu Đà Huờn nhưng vẫn còn ái, đắm say tiên nữ, đắm say vui chơi. Nên thay vì trả lời câu hỏi của ngài Mục Kiền Liên, vua Trời Đế Thích đã ‘’đánh trống lãng’’ và chỉ muốn giới  thiệu cho Mục Kiền Liên đi xem  lâu đài. Ngài Mục Kiền Liên liền ấn ngón chân làm cho lâu đài rung chuyển. Sự rung chuyển này làm cho chư Thiên và Vua Trời Đế Thích hoảng sợ khiếp đảm, cuối cùng  phải thuật lại cho Mục Kiền Liên nghe câu trả lời của Đức Phật về ái tận giải thoát.

 

Trong cuộc sống, Đức Phật đi tới đâu không phải lúc nào Ngài cũng luôn được kính trọng. Đệ tử của Phật cũng vậy, không phải ai cũng thuyết phục được người khác và được ngưỡng mộ. Ví dụ, chư tăng ni ở trong chùa thì được người hiểu đạo kính trọng, người không biết đạo thì không biết tôn kính. Ngài Mục Kiền Liên cũng bị vua Trời Đế Thích đối xử thiếu lòng tôn kính trong trường hợp đó.

 

Từ đó ta thấy trong mối tương quan giữa con người với nhau, nếu không đủ duyên thì đôi khi cũng phải làm giống như con hổ là gầm lên  một tiếng cho người ta biết đây là hổ.

 

Vua Trời Đế Thích chỉ ham đam mê vui chơi với các tiên nữ. Mục tiêu của Ngài Mục Kiền Liên đi lên cõi trời  ba mươi ba để hỏi Đế Thích câu trả lời của Phật về ái tận giải thoát nhưng Đế Thích lại cho đi tham quan lâu đài. Nên Mục Kiền Liên làm cho đất rung chuyển, lúc đó Đế Thích mới giật mình và cho Mục Kiền Liên biết câu trả lời của Phật như sau:

 

‘’ Thật không xứng đáng , nếu có thiên vị đối với tất cả pháp ‘’. Vị ấy biết rõ tất cả pháp . Sau khi biết rõ tất cả pháp , vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có  một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời. Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt niết bà . Vị ấy tuệ tri: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa.’’

 

Ở đây vị tỳ khưu thắng tri tất cả pháp. Tri là hiểu. Pháp tiếng Phạn là dhamma. Pháp là cái gì ? Tất cả ‘’ Tướng ‘’ và ‘’ Vô tướng’’…’’ Sắc’’ và ‘’ Vô sắc’’…tất cả ‘’ Cảnh giới của Tâm ‘’ và ‘’ Tâm ‘’ đều là Pháp , tức là cái chi cũng là Pháp, đặc tánh chi cũng là Pháp. Như thế , tất cả những gì ‘’có xảy ra’’ hay ‘’không xảy ra’’  mà tâm thức có thể ‘’ cảm ‘’ và ‘’ thọ’’ được đều thuộc về ‘’Pháp’’. Pháp hoàn toàn không do nơi Ta mà có, không do nơi Ta mà diệt…hoàn toàn do nơi Pháp từ nhân duyên sanh, cũng do nơi nhân duyên diệt. Tất cả các Pháp đều là  “không”. 

 

Biết cảm giác đi, biết cảm giác ăn, biết bản chất đi, biết bản chất ăn …đó gọi là pháp chơn đế. Trong pháp tục đế có pháp chơn đế, trong pháp chơn đế có pháp tục đế .

 

Tỳ khưu phải biết được tất cả pháp, liễu tri các pháp. Thắng tri và liễu tri. Thằng tri là biết về pháp đó, hiểu về pháp đó một cách rõ ràng. Liễu tri có ý nghĩa cao hơn. Thắng tri do học mà biết, còn liễu tri do hành mà biết. Nhờ liễu tri tất cả các pháp nên nếu có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ nào, chúng ta quán tánh vô thường, quán tánh ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly trên các cảm thọ.

 

Có thể nói toàn bộ đời sống của chúng ta đều nằm trong ba cảm thọ này, nó chi phối con người mạnh mẽ. Lạc thọ là những cảm giác mình muốn và đạt được. Khổ thọ là những gì mình không muốn nhưng lại gặp phải. Ví dụ : ngày quý vị mới vô mùa an cư kiết hạ, quý vị thích thời tụng kinh sáng, tụng kinh chiều. Quý vị thích ngồi thiền, hoan hỷ khi nghe giảng pháp. Còn bây giờ, sau gần hai tháng vô hạ, lặp đi lặp lại những thời khoá công phu như vậy, có lẽ trong quý vị cũng từng có cảm giác bị bảo hoà, không khí cũng bớt sôi nổi, chư tăng, tu nữ có lúc cũng vắng nhiều hơn lúc ban đầu, tụng kinh không còn êm ả như trước mà dường như gấp rút hơn, tụng nhanh hơn như thể để còn làm việc khác. Quý vị ngồi thiền thân tâm cũng không còn an lạc như trước. Người nghe pháp thì vắng nhiều do không còn ham thích nữa. Đó là thọ khổ. Nhưng cũng có người không lạc không khổ. Sự bất khổ bất lạc thọ này do không chấp trước một sự việc gì trên đời.

 

Ba cảm thọ này sanh lên, thường xuyên xuất hiện trong tâm hành giả. Cho nên tỳ kheo phải quán tánh vô thường. Cuộc đời luôn thay đổi. Niềm vui hoan hỷ lúc mới vô hạ giờ đã vơi cạn dần. Qua đó hãy quán sự hời hợt của chúng ta, quán sự đông đảo trước kia rồi bây giờ vắng vẻ, biết đó là vô thường. Cho nên thú vui nào cũng mở đường cho đau khổ. Hoa nở để rồi tàn. Trăng tròn để rồi khuyết. Hạnh phúc để rồi khổ đau. Sum họp để rồi chia xa. Quán để chiêm nghiệm bản chất vô thường của vạn pháp. Nếu quán được như vậy chúng ta thấy thật tướng vô thường của tất cả mọi sự vật hiện tượng trong cuộc đời thì sẽ không sợ hãi, không phiền não.

Có một vị Hoà thượng xưa nay rất nổi tiếng, uy tín, phong độ, trụ trì một ngôi chùa lớn với nhiều hoạt động từ thiện giúp cho bá tánh khắp nơi. Vậy mà giờ đây vị hoà thượng ấy bị bệnh ung thư não. Con người xưa kia với thân thể mạnh khoẻ  bảy, tám chục kg bây giờ chỉ còn lại hình hài tiều tuỵ hơn ba mươi kg, đôi chân chỉ còn da bọc xương to bằng cánh tay ngày xưa thôi, đôi mắt trủng sâu như ngọn đèn đã khô dầu. Nhìn những cảnh tượng biến dịch thay đổi đó mà nhớ lại thời huy hoàng của người ta. Hãy tập nhìn tất cả sanh ra và tan rã đều nơi nhân duyên. Con người mới đây còn thấy mạnh khoẻ , bất chợt bịnh nằm im lìm một chỗ, đến những cử động nho nhỏ cũng rất đau đớn, miệng cố gắng mĩm cười cho an lòng bạn hữu nhưng chỉ là những gượng gạo buồn bã. Người trên giường bệnh héo hon như một bình hoa tàn úa, như củi đã hết lửa, sắc pháp đã hoại.

 

Quán thật rõ tánh vô thường của vạn pháp

 

 Con người ta sống,  mỗi ngày qua đi là tiến dần đến cái chết, là sự sống giảm dần theo từng ngày, từng ngày đó thôi. Thời gian không chờ đợi ai, cái chết không chừa một ai.  Quý vị thấy đó, đời sống bây giờ do ăn uống vô độ, quá nhiều hoá chất nên sắc pháp lụi tàn từng giây, từng phút mà không hay biết. Nếu hiểu sự nguy hiểm trong tham ăn, tham uống thì hãy biết dừng lại, biết chừng mực. Chúng ta nên ăn uống giản dị, càng xa hoa, càng ham ăn sơn hào hải vị chừng nào càng chết sớm. Thực phẩm ăn uống bây giờ quá phong phú, đa dạng. Nếu có lòng tham ăn, tham uống quá lớn, quý vị cứ nạp vô cơ thể nhiều những thức ăn, thức uống có những chất phụ gia, những hoá chất độc hại bên trong sẽ không lường hết được hậu quả của nó, tác hại đến sức khoẻ dường nào. Cơ thể chúng ta có điểm dừng của nó. Sắc pháp luôn thay đổi. Tất cả đều nằm trong định lý vô thường, không có cái gì vĩnh hằng với thời gian.

 

Đức Phật dạy phải quán tánh ly tham

 

 Chúng ta khổ vì chúng ta không biết ly tham, trái lại quá nhiều tham ái. Tham ái nhiều thì chúng ta luân hồi nhiều. Tham ái ít thì luân hồi ít. Không tham thì không luân hồi. Vậy phải quán tánh ly tham. Thường chúng ta tham cái gì? Tham tài sắc lợi danh. Có những người tham sắc nên chết vì sắc. Có những người tham tài cuối cùng chết vì tài. Nói chung, lòng tham chúng ta vô cùng vô tận. Chúng ta dính mắc trong tài sắc lợi danh, trong sắc/thinh/hương/vị/xúc/pháp. Ta gọi tên nó là ngũ dục. Suốt cuộc đời ta chìm đắm, tham lam 5 thứ này không ngừng nghĩ. Mắt thấy cảnh sắc nên tham đắm. Tai nghe âm thanh nên tham đắm. Mũi ngửi mùi hương nên tham đắm. Thân xúc chạm nên tham đắm. Ý chúng ta biết cảnh pháp nên chúng ta tham đắm. Cho nên 5 loại dục này chi phối chúng ta dữ dội trong đời sống hằng ngày. Có người bị nặng về mắt, dễ bị lôi cuốn bởi những gì mắt thấy, thấy cái đẹp là xiêu lòng. Chúng ta có căn phòng để ở nên rất dễ bị dính mắc vào nó. Chẳng hạn phải trang trí làm sao cho đẹp, đặt cái bàn viết, cái tủ áo, cái bình hoa sao cho bắt mắt, hợp với sở thích mới được. Nhưng nếu mọi cái bị đảo lộn vị trí, có thể chúng ta sẽ bực bội, sẽ gầm lên. Có người bị nặng về tai, dễ bị lôi cuốn bởi những gì tai thích nghe, ví dụ như âm nhạc, thích nghe lời nói ngọt bởi âm thanh cũng có sức quyến rũ riêng của nó. Có người bị nặng về mũi, có thói quen dùng dầu thơm nên bị ghiền mùi thơm. Suốt ngày chúng ta phục vụ cho 5 món dục này. Dường như ta đã nô lệ cho lòng tham quá nhiều . Tâm tham rất vi tế mà ta không thấy biết. Ở đây có những cái tham thô và tham tế. Có những cái tham ẩn chứa bên trong. Có những cái tham biểu lộ ra ngoài. Tham cái gì thì thân biểu hiện là đưa tay lấy cái đó. Do ý khởi lòng tham nên thân hành động cướp đoạt. Nhiều khi ý khởi lòng tham nhưng do không lấy được bèn biểu lộ lòng tham muốn qua khẩu, qua ý. Có những người suốt cuộc đời nô lệ cho lòng tham, thấy cái gì cũng muốn tham, cái gì thấy ngộ ngộ là nổi lòng tham, lấy đem về chỗ mình. Người ta nói : “Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó dời”. Nếu không tu tập cho tốt để chuyển hoá tâm tham thì sẽ chết cuộc đời. Tham không chỉ ở những cái lớn như tài sắc lợi danh mà còn từ những cái nhỏ như đồ vật dùng hằng ngày. Người tu phải thấy được tánh tham của mình để sửa đổi vì lòng tham nó ngũ ngầm trong tâm, vì mình quen sống trong tham nên mình không biết đó là tham. Phải bỏ đi lòng tham. Phải dạy cho tâm mình ly tham. Ly tham là dạy cho tâm mình cắt đứt những cái tham, ví như tham mái tóc dài, tham ăn ngon, tham mặc đẹp, tham vẻ xinh xắn của khuôn mặt, tham căn phòng sang trọng, đầy đủ tiện nghi vật chất.  Tu phải biết đủ, đức phật dạy tu phải biết tri túc. Tri túc là phương pháp giảm thiểu lòng tham.

 

Đức Phật dạy phải quán tánh đoạn diệt

 

 Cuộc sống này sanh sanh, diệt diệt. Đức Phật nói: “Các pháp hữu vi thật không bền vững, nó có tánh sanh diệt là thường”. Vừa mới đây vui sum họp chút xíu thôi đã buồn chia ly. Trong cái vui đã có tánh sanh diệt. Ngày hôm nay buồn, ngày mai vui. Vui buồn cứ sanh sanh diệt diệt, diệt diệt sanh sanh. Trong bình minh đã ẩn chứa hoàng hôn. Trong hoàng hôn đã thấp thoáng bình minh là vậy.

 

Tiếng pali Sankhara có nghĩa là các pháp hữu vi đều vô thường. Tiếng pali Dhamma có nghĩa là các pháp là vô ngã.

Cho nên pháp hữu vi là các pháp nằm trong trạng thái vô thường, khổ, vô ngã. Các pháp Tự tánh vốn đều Vô ngã. Vô ngã tức chẳng thuộc về ta, chẳng phải của ta, chẳng do nơi ta v.v…Đều là do nơi nhân duyên mà sanh, cũng do nơi nhân duyên mà diệt. Đó chính là thật tánh của Pháp. Chúng ta thường bám chắc vào những khái niệm không có thật như : Ta, Danh dự, Thọ Mạng, Danh Vọng, Địa vị, Tài sản, Chủng tộc, Lịch sử, Văn hóa v.v… vốn là những thứ không có thật vì nó vốn do Nhân duyên hợp thành …Lại Cũng Do Duyên Mà.

Tan rã, Hủy diệt. Giống như người bị trôi dạt trên biển lớn thấy một dề lục bình liền khấp khởi vui mừng, bám thật chặt, cho rằng đó là nơi an toàn lâu dài rồi không còn chút lo nghĩ nào nữa. Đâu biết rằng chỉ một vài cơn sóng nhồi hay vài con gió thổi dề lục bình kia tan rả, không còn là chổ  “an toàn’’ cho người kia bám víu vào đó nữa. Cho nên chúng ta phải thấy thật tướng của các pháp hữu vi là vô thường,  khổ, vô ngã, đó chính là sự đoạn diệt, là bản chất đoạn diệt của các pháp.

 

Quý vị thấy cô Lợi đang ngồi nghe rồi cô chầm chậm đứng lên. Đó là biểu hiện trạng thái đoạn diệt. Cái ngồi đã đoạn diệt rồi mới sanh ra cái đứng lên được. Cô đứng lên từ từ cho thấy đã không còn nhanh nhẹn như trước. Tuổi trẻ không còn nữa thì tuổi già tới. Tuổi trẻ đoạn diệt cách khác. Tuổi già đoạn diệt cách khác.

 

Đức Phật dạy quán tánh xả ly trên các cảm thọ

 

 Xả ly là buông bỏ, không dính mắc, không cố chấp. Nếu cảm thọ vui, cảm thọ khổ mà không biết quán tánh xả ly thì cuộc sống sẽ đau khổ triền miên. Con người biết xả ly thì sẽ cực kỳ hạnh phúc và an lạc. Nếu cố chấp trên các cảm thọ sẽ đau khổ. Chấp cái này, chấp cái kia, vui cũng chấp, buồn cũng chấp, giữ mãi trong lòng những lạc, khổ ấy thật là mê muội. Con người càng nguyên tắc chừng nào càng không biết xả ly, càng bị trói buộc chừng ấy, Bởi nguyên tắc chỉ là do con người tự đặt ra, tự quy ước, quy định với nhau mà thôi.

Ví dụ: ở chùa có thanh quy, giới luật của chùa thì quý vị tăng ni phải chấp hành. Sáng có tụng kinh công phu sáng. Chiều có tụng kinh công phu chiều. Ai là người tu hành trong chùa thì chấp nhận quy định đó để sống hạnh phúc. Nhưng nguyên tắc này đối với người này là đúng nhưng đối với người khác thì không. Đối với người tu hành công phu tụng kinh, tham thiền là cần thiết nhưng đối với người đời thì không.

 

Tu là sự lựa chọn của mỗi người. Do vậy ai không công phu thì cũng tuỳ hỷ với họ. Khổ nhất của người tu là ai cũng công phu mà mình thì không công phu. Giờ ăn sáng đến rồi mà mình mới thức dậy nhưng cũng phải ra ăn sáng để cho người ta thấy khuôn mặt mới ngũ dậy của mình. Cho nên nếu có khi nào quý vị nhìn thấy cảnh đó hãy quán tánh xả ly trên các cảm thọ để tuỳ hỷ, tuỳ thuận và không bị chướng ngại.  

 

Ở đời, vui tột đỉnh thì cũng có lúc nhục nhã, đau khổ tột đỉnh. Khi con người trải qua nhục nhã, đau khổ mà còn đủ bình tỉnh vượt qua những đau khổ, nhục nhã ấy, biết vươn lên trong cuộc sống thì con người đó mới đáng cho ta học hỏi. Còn người nào mà chỉ luôn gặt hái những thành công, thắng lợi thì tâm hồn họ sẽ thiếu sự trải nghiệm, sâu sắc. Con người đã từng cực kỳ đau khổ, nhục nhã thì mới có đủ thiện tâm, nụ cười, ánh mắt bao dung để xoa dịu nổi khổ cho người khác. Giống như người đã từng mắc mưa mới thấu hiểu được nổi khổ của kẻ mắc mưa bị lạnh lẽo, ướt át biết chừng nào.

 

Quán tánh xả ly nên không chấp trước một vật gì trên đời. Còn quá nguyên tắc là chấp, là đồng nghĩa với bắt lỗi. Bắt lỗi được thì lên máu, lên mặt. Không bắt lỗi được thì xị mặt sầu bi, ủ dột.

 

Đức Phật dạy do quán tánh xả ly, vô thường thì chúng ta sẽ không chấp có cái gì trên đời, vì càng chấp càng lo, càng sợ. Do không chấp trước nên không lo lắng, không phiền não, không sợ hãi. Đó là niết bàn rồi vậy.

 

Quán tánh vô thường, ly tham, đoạn diệt …vị ấy biết sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, không còn tái sanh nữa, đắc quả Alahán tức là bậc đã lìa sanh tử và phiền não, là chấm dứt luân hồi.

 

Bài kinh thứ 37 ‘’ Tiểu kinh đoạn tận ái’’ chính là nói về Niết Bàn. Mục đích tu của chúng ta là đạt quả vị Niết bàn, là không còn ái. Bài kinh giúp cho chúng ta một cái nhìn, một phương pháp tu chân chánh để đoạn tận ái, thấy được quả vị Niết Bàn không lâu xa .

 

Qua bài kinh ‘’ Tiểu kinh đoạn tận ái’’ chúng ta tự thân phải nỗ lực tu tâm, dưỡng tánh để chuyển hoá thân tâm, thanh lọc thân tâm để đoạn tận lòng tham. Chúng ta ly tham , ly si để đến quả vị Niết bàn.

 

Hãy nên nhớ quả vị Niết bàn có được là do sự công phu, nỗ lực tu tập, không phải do cầu nguyện, van xin mà có.

 

Bài pháp đến đây cũng vừa phải lẽ với thời gian. Chúc  quý vị tinh tấn tu tập, quán tánh vô thường, đoạn tận tham ái để có được quả vị niết bàn như nguyện.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

TN Quang Duyên ghi chép

Nguồn tin: TN Quang Duyen

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang