" />
phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Chú Giải

Chú giải Giới Luật Nguyên thủy - (Samantapāsādikā – The Vinaya Commentary)

Ngày đăng tin: 6 năm trước
(5/1)
Nguyên Tác: BUDDHAGHOSA MAHATHEROBản dịch Anh ngữ: N. A. JAYAWICKRAMABản dịch Việt ngữ: Tỳ Khưu Siêu Minh
Chú giải Giới Luật Nguyên thủy - (Samantapāsādikā – The Vinaya Commentary)

 

MỤC LỤC

LỜI TỰA - LỜI TÁC GIẢ

KỆ MỞ

BẢN TƯỜNG TRÌNH VIỆC TRIỆU TẬP ĐẠI HỘI ĐẦU TIÊN

BẢN TƯỜNG TRÌNH VIỆC TRIỆU TẬP ĐẠI HỘI THỨ HAI

BẢN TƯỜNG TRÌNH VIỆC TRIỆU TẬP ĐẠI HỘI THỨ BA

TƯỜNG TRÌNH LIÊN TỤC CỦA CHƯ TRƯỞNG LÃO     

Lời tựa

Tôi đã tự ý ghép cụm từ Vinayassa Bāhiranidānaṃ (Smp, 107) thành Vinayanidāna, có nghĩa là “Nguồn Gốc Giới Bản” (Inception of Discipline) dùng làm tựa đề cho tập Kinh này. Bản dịch dựa trên bản văn đã được ấn bản thành phần thứ hai trong cuốn sách này. Bản văn này chủ yếu dựa trên phiên bản tiếng Tích lan (Sinhale) trong bộ luật Samantapāsādikā do chư vị Trưởng lão Baddegama Piyaratana và Valiviṭiye Sorata Nāyaka biên soạn. Simon Hewavitarne Bequest ấn bản, tập XXVII, và phiên bản Hội Thánh Điển Pāli do ngài Takakusu và Sorata biên soạn. Một số phiên bản khác đã được xuất bản gồm các bản văn ta có thể tiếp cận cũng đã được đem ra so sánh với bản văn tái bản. Không nhất thiết phải tra cứu các bản chép tay vì lẽ các vị biên tập trước đó đã tra cứu kỹ  lưỡng một số giải thích đa dạng. Ta cần lưu ý đến những  khác biệt ở một số ví dụ điển hình trong phiên bản của Hội Thánh Điển Pāli. Một khởi xuất ít quan trọng chính là phân bổ bản văn thành các đoạn được đánh số. Tuy nhiên, ta không thể hạn  chế từng  đoạn đánh số đó thành một chủ đề duy nhất vì lẽ chính các chủ đề đó đã hoà trộn lẫn nhau trong các đoạn đó. Ngay cả nếu như ta có thể thực hiện được điều này, ta thấy không nhất thiết phải nhân thêm các đoạn văn thành một số đoạn nhỏ khó sử dụng đối với một bản văn ngắn gọn thuộc loại này. Tôi hy vọng các phân đoạn cũng như phần ghi thêm trong ngoặc kép, cả trong bản dịch lẫn trong bản văn số trang nơi phiên bản PTS sẽ giúp cho quí độc giả dễ dàng tham khảo.

Bản dịch Tập Bāhiranidāna chúng ta hiện có trong tay đã được  hoàn tất hơn kém từ năm 1956, nhưng do một số lý do nào đó việc xuất bản đã bị đình lại cho đến tận hôm nay. Trước đó ngài Ts. B.C Mendis có yêu cầu tôi viết một bài giới thiệu từ góc độ lịch sử. Tuy nhiên việc ngài rời bỏ giảng dạy tại viện Đại Học Tích lan (Ceylon) và kết quả là ngài rời khỏi thành Peradeniya đã khiến cho ý định đó không thể thực hiện được. Tuy nhiên ngài vẫn cung cấp cho tôi một bản chép tay ghi lại bản dịch phần viết tập Bāhiranidāna. Bất kỳ lúc nào cần đến tôi vẫn có thể tận dụng được một cách dễ dàng. Tôi vô cùng biết ơn ngài Ts. vì đã gợi ý cho tôi thực hiện bản dịch này, đặc biệt phần tường trình được coi là một tập kinh gốc hữu ích về lịch sử Phật Giáo tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon).

Tôi cũng chân thành cám ơn Cô I. B. Horner, M.A, chủ tịch Hội Thánh Điển Pāli (PTS.) đã tích cực động viên hỗ trợ và đã đọc rất cẩn thận bản dịch viết tay của tôi và cung cấp những lời gợi ý quý báu đồng thời lại cung cấp rất nhiều thông tin mà hiện giờ tôi còn ghi lại trong các chú thích trong bản dịch này. Tôi cũng chân thành cám ơn cô vì đã đồng ý cho xuất bản tác phẩm này và liệt kê vào số các tập kinh trong Phật Giáo. Trong loạt bài viết ở tạp chí “Buddhists Series.” Tôi cũng phải ghi ơn đến ngài Ts. L. S. Perera thuộc viện Đại Học Tích lan (Ceylon) và ngài D.T. Devendra, trong tập “Bách Khoa Phật Giáo”, cả ngài Peradeniya nữa, bởi lẽ đã cung cấp  cho tôi một số bản vẽ chi tiết về thành Anuradhapura cổ đại.

 

LỜI GIỚI THIỆU DỊCH GIẢ

 

Bāhiranidāna

Quyển Bāhiranidāna (hay Nguồn Gốc Giới Bản) là chương giới thiệu Tác Phẩm Samantapāsādikā do ngài Buddhaghosa biên soạn, đây là tập chú giải Tạng Luật. Chương giới thiệu chủ yếu nhằm giải thích Nidāna tức là “Căn bản” hay “Nguồn Gốc” của Tạng Luật (Vinaya). Tác giả mong muốn rằng không một chi tiết liên quan nào, cho dù tầm thường đến đâu cũng không bị bỏ qua mà không được ghi lại trong tập Nidāna của ngài. Phần giới thiệu dài dòng các phân loại học thuyết (Smp., tr. 39tt), gồm những chi tiết hết sức công phu liên quan đến Trưởng lão Moggaliputta Tissa (Smp. 64tt). Tập huyền thoại nhà vua Asoka (Smp., 44 tt.), việc mô tả công việc hoằng pháp sau việc triệu tập Đại Hội Phật Giáo lần thứ ba (Smp., 64tt), việc truyền bá Phật Giáo đến đảo quốc Tích Lan (Tích lan (Ceylon)) (Smp. tr.73tt) và những tình tiết liên quan đến cuộc truyền bá này đã tạo thành những mắt xích quan trọng trong việc xử lý  chuyện kể “Nguồn Gốc Tạng Luật.” Theo Trưởng lão Buddhaghosa nắm được, mục tiêu của ngài chính là muốn thiết lập tính xác thực Tạng Luật trước khi tiến hành  biên soạn tập chú giải này. Trước tiên Trưởng lão Buddhaghosa tiến hành định nghĩa từ Vinaya (Giới luật) được hiểu là toàn bộ Tạng Luật theo như ngài đã biết. Tiếp theo đó ngài giới thiệu Bản Mẫu Tạng Luật (mātika=tabulation), tức là “việc trình bày thành bảng” do công việc chú giải là bước đầu tiên trước khi xử lý bản văn Giới luật hiện hữu: “Vuttaṃ yena yadā yasmā dhāritaṃ yena cabhataṃ. yatthappaṭṭthitaṃ c’etaṃ. . .” Ai đã tuyên bố, tuyên bố khi nào, vì lý do gì ngài đã tuyên bố, ai đã tổ chức và thiết lập ở đâu…” (Smp. 2). Để trả lời sáu vấn đề liên quan đến sáu tiết mục trong bản mẫu, ngài Buddhaghosa đã cung cấp cho chúng ta một số lớn các thông tin, tuy không được trình bày một cách toàn diện, cho dù các chương giới thiệu tập Sumaṅgalavilāsini và tập Chú Giải Bộ pháp Tụ (Atthasālinī) hơn kém đã bao gồm cùng một lập trường từ góc độ Kinh Phật và dưới góc độ Vi Diệu Pháp tương ứng. Trong khi đó các tập Biên  Niên Sử lại thảo luận các tiết mục này từ một góc độ khác. Ngài đã thấy rõ rằng mỗi đề tài ghi trong Bản Mẫu này nên được giải thích thoả đáng, đặc biệt nhằm làm sáng tỏ và để dễ dàng am hiểu. Để trả lời cho câu hỏi, “Ai đã công bố” trên, “Tena kho pana samayena Buddho bhagavā Verañjānaṃ viharati…” Ngài Buddhaghosa đã tiến hành cung cấp một bài tường trình hoàn chỉnh về chính việc triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ ba. “Và để cho ta quen với nguồn gốc  các tư liệu” (Smp. 3tt.) Sau bài tường trình công việc duyệt xét Giới Pháp (Dhammavinaya) ngài đưa ra một tài liệu nghiên cứu công phu liên quan đến cách phân loại lời Phật dạy  nhằm định rõ ý nghĩa nội dung và tính chất cho từng đơn vị phân loại. (Smp.16tt). Có một số khó khăn gặp phải, việc thảo luận này được lồng ghép vào chuyện kể Tụng Kinh là điều không được hài hòa với chiều hướng chung trong cách tường thuật, nhưng lại được nối kết với các từ sau, “ Như vậy lời của  Đức Phật không thay đổi” Về tình cảm… đã được duyệt xét lại toàn bộ….và không chỉ có điều này thôi đâu, nhưng cả những khác biệt đa dạng khác nữa trong việc biên soạn như ta đã thấy trong Tam Tạng….cũng đã được  xác định  khi chư vị tỳ khưu duyệt lại trong suốt bảy tháng làm việc ròng rã. Cuối cùng ngài Buddhaghosa đã phát hiện ra dấu vết Giới luật, cũng như phần còn lại nơi những lời dạy của  Đức Phật dưới dạng chúng ta hiện có trong tay, kể từ Đại hội Phật giáo lần thứ nhất và ngài đã giải thích làm rõ những lời đó. “ Ai đã nói những lời đó, khi nào và vì lý do gì những lời đó được được nói ra?” (Smp. 34). Trong việc xử lý ý nghĩa những lời nói đó, ai đã tiếp thu ý nghĩa này, ai đã truyền đạt lại cho chúng ta và còn được  kiến lập cho ai.”  Ngài đã  tìm ra manh mối lịch sử  Tạng Luật từ phía đức  Thế Tôn. (Smp. 35). Nơi những giai đoạn tiếp theo, liên quan đến từng việc Triệu tập Đại hội ba Phật Giáo và cuối cùng là việc tụng Giới luật Mahā-Ariṭṭha tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) dưới sự chủ trì của Mahinda (Smp. 106). Mục tiêu chính yếu của ngài là chứng minh rằng chính Tạng Giới luật ngay trong đặc tính thanh tịnh ban sơ (amissa) mà ngài đang bình giải. Chính vì thế có điều bắt buộc rằng những giai đoạn ngài đã phát hiện ra phải được truy tìm cho ra nguồn gốc. Việc kế tục các trưởng lão kể từ Ngài Trưởng lão Upāli xuống đến tận thời điểm Triệu tập  Đại hội  Phật giáo lần thứ hai và các trưởng lão “đã liên tục duyệt xét lại toàn bộ  Phật Pháp và Giới luật….ngay cả bằng phương cách như Trưởng lão Mahākassapa đã duyệt lại.”  (Smp. 38).

Bài tường trình việc Triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ ba đã được ghi lại chi tiết hơn cả hai Đại Hội Đầu tiên. Các Trưởng lão tổ chức lần duyệt xét thứ hai đã nhận ra rằng  một khó khăn còn lớn hơn cả mười quyền hạn những người Vajjiputtakas đã giáng xuống Phật Giáo dưới thời cai trị của nhà vua Dhammāsoka và buộc phải tiến hành những bước cần thiết để đối mặt với hoàn cảnh cụ thể khi tai hoạ  đó lại nổi lên (Smp. 39tt). Còn nhiều thời gian dành cho Moggaliputta Tissa trước khi tới gặp nhà vua Asoka (trong Smp. 44tt). Tính chất giầu có nơi những chi tiết hoang đường chỉ liên quan chút ít đến nguồn gốc thực tại của Tạng Luật, ngoại trừ để chứng tỏ những điều kiện cần thiết để triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ ba. Cuộc cải cách của nhà vua, những việc phục vụ Giáo hội, mối lo lắng được trở thành “thừa tự” của giáo hội và những của thí hậu hĩ ngài cung cấp cho Tăng đoàn được  mô tả chi tiết khá nhiều (Smp. 48tt). Sự việc gián đoạn thực thi  tụng giới bổn (uposattha) là do những kẻ chủ trương tà đạo đã lén lút gia nhập Tăng đoàn nhằm đạt được những lợi ích cá nhân (Smp. 55) và việc cố gắng bất thành của nhà vua  làm sống lại Tăng đoàn đó thông qua quan thừa tướng Mahādeva (Smp. 57) và sự hối hận do hậu quả việc đó đem lại và mối nghi ngờ của  nhà vua buộc ngài phải tìm đến sự trợ giúp của ngài Moggaliputta Tissa để gỡ bỏ mối nghi ngờ cho ngài và giúp ổn định Tăng đoàn. (Smp. 58tt) Tất cả đều là những chi tiết mang đầy ý nghĩa đã được ghi lại trong chuyện kể về việc Triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ ba. Trưởng lão đã làm rõ mối nghi ngờ của nhà vua bằng cách xóa bỏ trách nhiệm nghi ngờ của nhà vua khỏi toàn bộ những trách nhiệm do hành vi lầm lạc của vị quan thừa tướng (Smp. 61). Việc thanh tịnh Giáo Hội bắt đầu với chính hành vi nhà vua học hỏi giáo lý của  Đức Phật do chính Trưởng lão thuyết giảng và đã thử thách những kẻ theo tà đạo và các tỳ khưu bằng một câu hỏi hết sức đơn giản như sau, “ Vị Chánh Đẳng Giác đã diễn giải loại giáo lý nào vậy?” Toàn bộ những kẻ theo tà đạo mọi người như một đều trả lời dồn cho  Đức Phật phải chịu trách nhiệm về những học thuyết mà họ chủ trương đã khiến cho nhà vua rơi vào tình huống dao động đến nỗi chỉ khi chư vị tỳ khưu đích thực trả lời rằng  Đức Phật chính là người đã diễn giải một học thuyết đã được phân tích kỹ càng, nhà vua chỉ cần tìm đến xin Moggaliputta Tissa chứng thực điều này ngay cả những lời giảng dạy Trưởng lão đã thuyết giảng trước đó. Trong cuộc hội họp sơ khởi này, được thực hiện để bảo kê tính chất tinh tuyền của giáo lý, nhà vua đã đóng vai trò nổi bật trong việc tạo ra đoàn kết nơi Tăng đoàn bằng cách bắt hoàn tục những kẻ theo tà đạo, bắt họ phải mặc áo trắng (để lột bỏ toàn bộ biểu tượng bề ngoài của bậc Sa-môn họ đã theo đuổi) – (chú giải Dpv. vii 53), và trục xuất họ ra khỏi Tăng đoàn vĩnh viễn (Uppabbājesi). Chính vì thế vào những năm sau này để ghi nhớ tâm tình đó nhà vua đã nói ám chỉ đến biến cố này bằng cách ghi lại trên cột đá những Chỉ Dụ  như Sārnāth, Kosambi, và Sāñci (Smp. 62, n. 4). Tăng đoàn đã được thanh tịnh khỏi những yếu tố bất phiền toái không mong muốn và nhà vua yêu cầu chư vị tỳ khưu thực hiện nắm giữ  Luật Giới bổn. Việc nắm giữ ngày Giới bổn này đã bị gián đoạn suốt bảy năm và hiện đã được  thực hiện trở lại. Trưởng lão Moggaliputta Tissa không hài lòng với việc trục xuất thuần nhất thể chất khỏi Tăng đoàn nhờ việc can thiệp bằng quyền uy tạm thời, đã bác bỏ toàn bộ những luận thuyết tà đạo bằng cách cho tụng trong tập thể, Thuyết Sự Luận (Kathāvatthu) để việc đánh bại những kẻ theo tà đạo được  đảm bảo một cách chắc chắn ngay cả trên bình diện tri thức. Tiếp theo đó có khoảng một ngàn chư vị tỳ khưu đã cùng nhau tụng  Phật Pháp và Giới luật một cách đồng loạt như đã được thực hiện như vậy tại hai Đại hội trước (smp. 62).

Phần kể còn lại  mang tựa đề “Tính liên tục các trưởng lão.” lại bao gồm những chủ đề thuộc một phạm vị rộng lớn hơn so với từng đoạn trong số bốn chương trong tập  Nguồn Gốc Tạng Luật (Bāhiranidāna) kể trên. Chương này bắt đầu với việc kế tục các trưởng lão kể từ Trưởng lão Upāli bên Ấn độ cho tới Sīva tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) đến một thời được coi như “hiện nay” theo truyền thống Porāṇas dựa vào đó mà ngài Buddhaghosa đã thuật lại chuyện kể của ngài (smp.63). Cũng chính vì muốn xử lý chuyện kể liên quan đến tính liên tục các trưởng lão mà công tác lên đuờng hoằng pháp do ngài Trưởng lão Moggaliputta Tissa sai đến các vùng “thị trấn biên thùy” được  mô tả lại (Smp. 64tt.) Căn cứ vững chắc của toàn bộ những hành vi chính thức của Tăng đoàn trong những vùng tương ứng được đảm bảo bằng những “nhóm được  phái đi” gồm năm người mỗi nhóm, là số người tối thiểu yêu cầu để lập lại  trật tự nơi một thị trấn biên cương. Phái đoàn đến Đảo quốc Tích lan (Ceylon) được  bàn đến với rất nhiều chi tiết (Smp. 73tt) và bao gồm tới một phần ba chuyện kể trong tập “Nguồn Gốc Tạng Luật.” Những đoạn quan trọng trong chương đó là: trưởng lão Mahinda tới Đảo quốc Tích lan (Ceylon) (Smp. 75), việc gặp gỡ Devānampiyatissa (Smp. 81), những phái đoàn sứ giả được cử đến gặp nhà vua Pāṭaliputta (Smp. 78. 95tt), việc xây dựng Đại Thiền Viện (Mahāvihāra) (Smp. 84), việc xây dựng Đại Bảo Tháp Thūpārāma (Smp. 93) sự xuất hiện trưởng lão ni Sanghamittā và cây Đại Bồ Đề tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) (Smp. 96-103) và cuối cùng là việc tụng Giới luật do Mahā-Ariṭṭha thực hiện (Smp. 106). Việc ghi lại ngày tháng trưởng lão Mahinda tới Đảo quốc Tích lan (Ceylon) là 236 năm sau ngày Đức Phật nhập Vô Dư Niết Bàn, có một danh sách biên niên sử các nhà vua tại vương quốc Magadha và tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) được ghi lại. Những biến cố niên đại đã diễn ra tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) từ  những năm trị vì đồng thời với các nhà  vua cai trị tại Ấn độ. (Smp. 76). trưởng lão Mahinda đã giao trọng  trách duy trì liên tục tính của giáo hội bằng cách, “khiến cho giáo lý bắt rễ sâu” vào vùng đất thuộc Đảo quốc Tích lan (Ceylon), khi ngài nhận ra ngài Mahā-Ariṭṭha là một con người có thẩm quyền để học hỏi nghiên cứu Giới luật và thuyết giảng tại Đảo Quốc này (smp. 105). Chính những người kế tục Ariṭṭha đã truyền đạt giới luật lại cho cái ta gọi là “ngày hôm nay.” Như vậy thẩm quyền Giới luật được thiết lập và Mātikā đã có thời diễn giảng trọn vẹn như là một câu chuyện kể ngoại vi liên quan đến giới luật được thuật lại.  Sau biến cố này ngài Buddhaghosa được thoải mái tiến hành công việc giải thích Giới luật.

Truyền thống Đại Thiền Viện (Mahāvihāra Tradition)

 Đây là tập Nguồn gốc Tạng Luật (Bāhiranidāna) đã xử lý một cách ngắn gọn. Gác sang một bên nhiều vấn đề hấp dẫn nổi lên từ nội dung truyền thống này, nhiều người khác đã xử lý dưới hình thức này hay hình thức khác liên quan đến tập Samantapāsādika hay các tập biên niên sử Pāli, một vài từ nói về tác phẩm Samantapāsādika xét thấy cũng rất cần thiết vào giai đoạn này, trong khi đó một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc Tạng Luật (Bāhiranidāna) có thể được thảo luận đến sau này.

Phần mở đầu và phần ghi cuối tập Samantapāsādikā đã cung cấp cho chúng ta một số thông tin đa dạng. Chính những lời của ngài Buddhaghosa trong các đoạn kệ mở đầu đã nói lên một cách hùng hồn về tập chú giải ngài sắp sửa biên soạn. Điều này cũng thấy diễn ra với toàn bộ các tập chú giải ngài đã biên soạn. Đây không phải là một cách chú giải nguyên thuỷ, nhưng chỉ là một cách khẳng định lại về những tư liệu ngài có thể tiếp cận được  trong tập Chú giải Tích Lan Sīhalale (Aṭṭhakathā Sīhaḷa). Vì theo chính lời ngài Buddhaghosa khẳng định, đó chính là một tập “Chú giải được biên soạn lại” (navasaṅgahitavaṇṇanā) (Smp. PTS. 1414). Niềm tin hoàn toàn tuyệt đối nơi  các vị “Trưởng lão thời xưa” (pubbacariyā) và việc ngài căn cứ vào thẩm quyền (uy tín) của các ngài trong việc diễn giải Tạng Luật đã được diễn đạt rất rõ ràng trong những lời mở đầu tập chú gỉải ngài biên soạn. (Xin đọc Smp. i. n. 1) Cả trong phần mở đầu lẫn phần ghi cuối sách ngài đã thú nhận mình chịu ơn đối với ba phiên bản chính của tập Sīhaḷa Aṭṭhakathā,Mahā (hay Mūla)-Aṭṭhakathā, Mahāpaccariya và tập Kurundī. Chính ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng dưới sự dìu dắt của Trưởng lão khôn ngoan Buddhamitta là người rất thông thạo giới luật.” (Smp PTS. 1415). Việc mang ơn đối với tập chú giải Sihāḷa Aṭṭhakathā, thực sự là điều chính xác đối với toàn bộ những tập chú giải của ngài, vì ngài Buddhaghosa đã liên tục ám chỉ các tập Chú Giải của ngài đặt cơ sở trên những tập chú giải cổ xưa ngài có thể tiếp cận được  theo ngôn ngữ tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) ; thí dụ như: trong những lời ghi cuối sách các tập chú giải về bốn kinh bộ Pāli  viết theo thể kệ những nửa câu kệ đã xuất hiện nơi một số câu kệ song hành: Sā hi Mahā-Aṭṭhakathāya sāram ādāya niṭṭhita mayā, “ Vì Chính tôi đã biên soạn bằng cách rút ra điều cốt lõi trong tập Chú Giải Mahā-Aṭṭhakathā” và, Mūla ’aṭṭhakạthāya  sāram ādāya mayā imaṃ karontena, “Trong khi tôi đang biên soạn tập chú giải này bằng cách rút ra điều cốt lõi trong tập Mūla-Aṭṭhakathā,” Cả hai tập này đều nhắc đến phiên bản tập chú giải Sīhaḷa Aṭṭhakatthā thuộc Đại Thiền viện (Māhavihāra).

Tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) đã có một truyền thống vĩ đại học hỏi nghiên cứu Tạng Luật từ lần tụng đọc kiết tập lần đầu tiên dưới thời trưởng lão Mahinda (Smp. 106). Đây cũng là mục tiêu của tập Nguồn Gốc Tạng Luật là chỉ ra liên tục tính nơi truyền thống này ngược lên cho tới thời kết thúc những văn kiện nguyên thuỷ dựa trên tập Samantapāsaādika được biên soạn. Liên quan đến vị thế quan trọng gán cho Tạng Luật nơi trường phái Nam Tông - Nguyên Thuỷ trong việc phát triển tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) (xin đọc Smp. i. số 2) Những quan điểm của những người hộ trì Tạng Luật là giá trị tuyệt đối liên quan đến việc giải thích chính xác.  Điều này cũng có thực như vậy liên quan đến việc giải thích Phật Pháp, vì việc nghiên cứu Dhammavinaya xét một cách toàn diện được coi như là một hệ thống được rút ra (luận ra) nơi Đại Thiền Viện. Những lời khẳng định thường xuyên trong lời ghi cuối sách các tập chú giải về bốn Kinh A-hàm (agamas), Samayaṃ pakāsayantī Mahāvihāravāsīnaṃ (với chút ít khác biệt) và cũng như trong các tập chú giải khác được gán cho ngài Buddhaghosa làm tác giả.) “ Tiến tới từ bộ phận quan điểm truyền thống trong cộng thể anh em đại thiền viện,” hay một số những lời tuyên bố trong phần mở đầu các tập chú giải Āgama, như sau,

Samayaṃ avilomento therānaṃ theravaṃsappadīpānaṃ sunmipuṇa-vinicchayānaṃ Mahāvihāradhivāsinaṃ, hitvā punnappunagataṃ atthaṃ atthaṃ pakāsayissāmi;

“(Từ đó) tôi sẽ giải thích ý nghĩa (Tạng Luật) tránh tối đa những nhắc lại không cần thiết. Những phần diễn giải không đi ngược lại với toàn bộ quan điểm truyền thống các trụ trì tại Đại Thiền Viện liên quan đến những suy luận trưởng thành sâu sắc, là ánh đèn soi tỏ dòng giống chư vị Trưởng lão.” Điều này cũng được  áp dụng cho tập chú giải Tạng Luật, tập chú giải Kinh Bản Sanh (Jātakaṭṭhakathā) (cũng được gán cho ngài Buddhaghosa làm tác giả) trong phần mở đầu có khẳng định, “Tôi sẽ công bố phần diễn giải ý nghĩa Kinh Bản Sanh dựa trên phương pháp những bài thuyết pháp các cư dân trụ trì trong Đại Thiền Việṇ” (Jātaka. i, i. stt. 10tt.). Cũng có lời công bố được ghi lại trong tập Kaṅkhāvitaraṇi, là tập chú giải Pātimokha (tr. i, tr.6). Trong tập Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī), ngài Buddhaghosa đã nhấn mạnh đến tính chất thanh tịnh nơi những quan điểm Đại Thiền Viện (Mahāvihāra) như sau: (“Tôi sẽ thực hiện công việc chú giải) bằng cách chứng minh những phán đoán không lộn xộn của những trụ trì trong Đại Thiền Viện, không bị uế nhiễm do các tà kiến nơi các phái tà đạo khác” (DhsA., 2. st. 16). Có một điều hết sức rõ ràng đó là hệ thống Tạng Luật được tiến hóa trong Đại Thiền Viện qua hàng bao thế kỷ đã rất rõ ràng và hoàn hảo tối đa, đã được các vị hộ trì gìn giữ cẩn thận một cách tuyệt  vời và được mọi người khen ngợi về phẩm chất tốt lành của ngài Buddhaghosa. Khía cạnh đó nơi truyền thống Đại Thiền Viện gắn kết với Tạng Luật khiến chúng ta lưu ý đến ở đây. Và hơn thế nữa Đại Thiền Viện (Mahāvihāra) còn là một trung tâm nghiên cứu Tạng Luật. Những công bố đầy uy tín của các tỳ khưu  chuyên nghiên cứu Luật Tạng đã được truyền xuống từ thế hệ này đến thế hệ khác một cách trung thành và tạo thành một phần “samaya”  nội tại trong Đại Thiền Viện. Chư vị tỳ khưu còn là những  nhà bình giải hay những vị học giả trường phái Nam Tông tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) và đã lãnh trách nhiệm bảo đảm cho truyền thống được thanh tịnh trong tập Chú Giải viết bằng tiếng Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā) và đóng vai trò chủ yếu trong việc tiến hóa các tập chú giải cho đến thời ngài Buddhaghosa biên soạn và sắp xếp lại. Sự “phát triển” thêm nữa đã bị ngưng lại do kết quả việc ngài Buddhaghosa viết lại những chú giải đó bằng tiếng Pāli. Không thiếu bằng chứng cho thấy có nhiều vị chú giải Sīhaḷa Aṭṭhakathā khác đã xuất hiện trở lại ngay cả sau thời ngài Buddhaghosa và các vị chú giải tiếp theo sau nữa, cho dù cuối cùng họ đã đi vào quên lãng đúng thời. Có lời khẳng định cho rằng họ đã bị thiêu rụi trong một ngọn lửa mừng vĩ đại (Buddhaghosuppatti 7) chỉ là một cách tưởng tượng khẳng định rằng họ không còn được dùng vào bất kỳ mục tiêu nào khác nữa. Các nhà viết văn coi việc Chú giải Sīhaḷa Aṭṭhakathā biến mất như là một cú sốc lớn đối với sự phát triển nền văn chương Sinhale. Tuy nhiên rất có thể và có điều không thể chối cãi được đó là kết quả những khổ công lao nhọc của các “trưởng lão thời xa xưa” đó đã hoàn thành ở một hình thức nào đó  để cho ngài Buddhaghosa có thể tận dụng được khi ngài bắt đầu biên soạn các tập Chú Giải của ngài và dọn đường cho một nền văn chương chú giải viết bằng tiếng Pāli để đến nay ta có thể tiếp cận được. Đây là điều không gì sánh nổi nơi bất kỳ một trường phái Phật Giáo nào khác.

Các thuật ngữ Aṭṭhakathika và Aṭṭhakathācariya được đề cập đến nơi số lớn các tập chú giải (Xin đọc EHBC, 14. số. 9-11) đã trực tiếp nhắm tới các vị trưởng lão này dưới lá cờ của Đại Thiền Viện (Mahāvihāra – Smp. i. tr. 7), họ đã cống hiến cho sự phát triển việc chú giải Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā). Những phán đoán về “các nam tử của vị Chánh Đẳng Giác” được xem xét kỹ lưỡng khi những tập chú giải quá khứ đã được biên soạn (Smp. i. 13). Trong  khi những lời khẳng định không mấy chính xác ta bắt gặp trong tập Andhaka (rất nhiều!) và những sai lầm của các vị viết văn nguyên thuỷ (pamādalekha. Smp. i. tṛ 14) trong tập Đại Chú Giải (Mahā-Aṭṭhakathā) (Td. trong Smp. PTS. 311) cũng đã được miễn thứ. Một ví dụ cụ thể về vấn đề này có thể thấy (Smp. PTS. 495tt) trong các lời bình luận về những điều kiện truyền thông gắn liền với những hoạt động chú giải xa xưa tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) cho trưởng lão Mahinda khi ngài cung cấp những lời giải thích giáo lý của Đức Phật bằng tiếng bản ngữ đảo quốc. Ngài thường giải thích lời Phật dạy bằng một thành ngữ dễ hiểu cho thần dân của ngài. Tiếng Phạn Sinhale thuộc thế kỷ thứ ba trước CN. đã trở thành quen thuộc đối với một số các thổ ngữ tiếng Phạn đương thời nơi Ấn độ A-ri-en vào thời đó, đặc biệt đối với những nhóm thuộc vùng miền Tây Prakrist và đối với Saurasentī và chính vùng Āvanti của Mihinda. Ở một mức độ nào đó, sự tương đồng này có thể được nhận ra bằng cách so sánh ngôn ngữ của  câu ghi khắc trên bia cổ xưa được  biết đến tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon)[1]  với ngôn ngữ Pāli Asokan và những ngôn ngữ Prakrist đầy ấn tượng mang dáng dấp văn chương. Vào khoảng thế kỷ thứ năm sau CN, sau một khoảng cách thời gian gần sáu thế kỷ rưỡi, lúc đó ngài Buddhaghosa đã đến Đảo quốc Tích lan (Ceylon), truyền thống hiện có và chú giải, vừa được ghi lại lẫn truyền khẩu, được thấy ghi lại bằng một thứ ngôn ngữ không còn dễ hiểu đối với chư vị “tỳ khưu đến từ hải ngoại” và khác biệt đáng kể so với những cách diễn đạt trong Kinh Pāli, như đã được thấy ghi lại nơi những mẫu vật bằng tiếng Prakrist Sinhale vào thời điểm này. Chính vì lý do đó theo ý kiến của ngài Buddhaghosa điều nhất thiết nhất là công việc dịch thuật những tập chú giải ta có thể tiếp cận được vào thời điểm đó sang tiếng Pāli, làm như vậy ngài đã tỏ lòng tôn kính đối với ngôn ngữ Sinhale bằng cách gọi thứ ngôn ngữ đó là một loại “ngôn ngữ đầy thú vị” (manoramā bhāsā.) Ngài Buddhaghosa đã ghi lại trong phần mở đầu viết về các tập chú giải bốn Kinh A-hàm (Āgamas), trong tập Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Aṭṭhasālinī) và Tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapadaṭṭhakathā) rằng ngài sẽ chú giải ý nghĩa, ‘ Sau khi đã loại bỏ ngôn ngữ Sinhale, một thứ ngôn ngữ đầy thú vị và chuyển dịch sang thứ ngôn ngữ hoàn thiện tương hợp với cách diễn tả trong các bản văn”. Như vậy lý do ngài Buddhaghosa chuyển ngữ những tập chú giải tiếng Sinhale cũng chính là để cho chư vị tỳ khưu sống bên ngoài Đảo Quốc Tích lan (Ceylon)  có thể tiếp cận được nội dung những tập chú giải đó.

Một lý do quan trọng khác nữa, đó là không chỉ chuyển dịch nhưng còn ghi lại một hình thức cố định, đó là truyền thống chú giải của Đại Thiền Viện (Mahāvihāra) được nhắc tới do những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, như Adikaram (EHBC, 94) cộng với dấu hiệu hiểm nguy đầu tiên nói lên nơi chư tăng thiền viện Abhayagiri mà chư vị tỳ khưu thuộc thiền viện Mahāvihāra đã vội vàng ghi lại bằng chữ viết các Bản Văn Pāli ngay cả không có sự hỗ trợ của nhà  vua Vaṭṭagamaṇi Abhaya (43 và 29-17 Trước CN.) đang trị vì đảo quốc vào lúc bấy giờ. Nơi thiền viện Alokavihāra hẻo lánh tại thị trấn Mātula nơi những ngọn núi tại miền trung đất nước, rất xa thủ đô khiến cho nhà vua không thể trực tiếp chú ý đến công việc này[2]. Sự rạn nứt giữa chư tăng Abhayagiri đã lan rộng với thời gian qua đi và dần dà rất nhiều giáo phái khác xuất hiện, đa số những giáo phái này đều trở thành chi nhánh với thiền viện Abhayagiri. Một số ít các vị vua tiếp theo dứt khoát tỏ thái độ đối nghịch với Đại Thiền Viện (Mahāvihāra), mà vị tồi tệ nhất trong số các vị vua này lại chính là nhà vua mang tên Mahāsena (334-361 sau CN.) Vị vua này đã bách hại chư vị tỳ khưu Đại Thiền Viện và hộ trợ chư tăng Abhayagiri. (Mhv. xxxvii,212) Trong lúc đó hoàng hậu lại thuyết phục nhà vua hỗ trợ cho chư tăng Đại Thiền Viện để củng cố vị thế cho nhà vua  và duy trì cho được  “samaya-giả thời” chống lại những cuộc tàn sát liên tục của các thế lực đối nghịch, thường không ủng hộ các nhà sư đồng phạm hạnh đến từ Ấn Độ. Suốt nửa thế kỷ dưới sự thống trị của nhà vua Mahāsena đã tạo điều kiện cho chư tăng Đại Thiền Viện tự củng cố sức mạnh và thắt chặt hàng ngũ để tự tồn tại. Chính là một kết quả chư vị tỳ khưu hằng mong muốn chu toàn, đã gần một nửa thế kỷ trước đó họ đã phải trải qua những điều xỉ nhục tầm cỡ như vậy dưới tay những kẻ chống đối đã được vị vua đương thời hết lòng ủng hộ. Trong nhiệm vụ gây hại quấy rối các tỳ khưu tại Đại Thiền viện mà bộ phận kiến thức kinh điển họ rất coi trọng cuối cùng đã bị hạ thấp bằng một số hình thức nào đó, đã được dịch sang ngôn ngữ chính tiếng Pāli để có thể truyền đạt với sự kính trọng thích hợp, sự thánh thiện và oai nghi để có thể truyền lại cho các hậu thế. Sự hiện diện của ngài Buddhaghosa tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) là cơ hội hết sức thuận lợi không thể để mất và hơn thế nữa đây chính là một dấu hiệu cho thấy các biến cố đen tối  dưới thời nhà  vua Mahāsena có thể tái diễn, nếu có một vị Trưởng lão tương tự như Sanghamitra, trong số những đối nghịch lại có thể khuấy lên một đám cháy to lớn kiểu đó, những hình ảnh ngài  Buddhaghosa viết lên trong  lời ghi cuối sách khi ngài đề cập đến nhà vua và vương quốc xem ra có vẻ buồn thảm, ngài rất sung sướng là mình đã hoàn tất tập  Samantapāsādikā trong vòng có một năm, không  gặp bất kỳ chống đối nào nơi một thế giới có nhiều hiểm nguy vây quanh. (Smp. PTS. 1416) và đã nhắc lại trong các tập chú giải của ngài liên quan đến các tác phẩm Vi Diệu Pháp, những lời khích lệ động viên, “ngay cả đối với những vị vua tốt lành vào những ngày tháng trôi qua bằng cách yêu mến các thần dân của họ để cả nhà vua nữa cũng sẽ yêu mến họ một cách chính trực vì là chính hậu duệ của họ.” Những năm cuối cùng ít ỏi dưới trào vua Mahānāma trị vì vương quốc[3] có thể đưa ra một số biểu thị những ngày khó khăn tiếp theo sau hai năm khi nhà vua đã băng hà, cho dù vào thời gian đó mọi  việc tưởng chừng như diễn tiến tốt đẹp[4]. Lời động viên được nhắc lại liên tục có thể được coi như hoặc chỉ là một lời khẳng định mang tính chất hình thức thuần tuý hay chỉ là một biểu thị gián tiếp cho thấy mọi sự diễn tiến không tốt đẹp tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) và rằng vương quốc đó không được trị vì một cách đúng mức. Toàn bộ các nhân tố đó cho thấy thời điểm đã chín mùi để ghi lại các tập chú giải dưới dạng chính xác hơn liên quan đến các tập Chú Giải viết bằng tiếng Sinhale. (Sīhaḷa Aṭṭhakathā).

Một lý do khác nữa, ngài Buddhaghosa đưa ra để viết lại các tập chú giải bằng tiếng Pāli chính là ước ao của ngài muốn đảm bảo tính chất ổn định cho giáo lý tốt lành của  Đức Phật (Saddhammaṭṭhitikāma). Ta nên coi điều này như là lý do chính ngài Buddhaghosa đã viết lại các tập Chú giải. Quả thật ngài Buddhaghosa đã đến Đảo quốc Tích lan (Ceylon) vào ngay thời điểm thuận lợi trong lịch sử đại Thiền viện, tác phẩm của ngài tượng trưng cho một qui trình soạn thảo luật lệ theo truyền thống Đại Thiền Viện và điều mang ý nghĩa hơn lại chính là việc biên soạn các tập chú giải chứ không phải là vị Chú Giải.

Từ những nhận định trên, ta thấy vai trò của ngài Buddhaghosa là biên tập viên và là dịch giả đã quá rõ ràng. Ngài có thâm tín vững chắc vào tính chất thanh tịnh nơi truyền thống Đại Thiền Viện và đó là điều có nghĩa  cho ngài nhiều nhất, thế nên ngài đã cố gắng duy trì truyền thống này với bất cứ giá nào. Những hoạt động chú giải của ngài tập trung vào việc giải thích chính xác các lời Phật dạy theo quan điểm Phật giáo Nguyên Thuỷ. Những truyền thống xung khắc trước đó không hề ngăn cản ngài từ bỏ bổn phận đó. Quả thật, hình như ngài đã phải miệt mài vùi đầu vào truyền thống đó nên ngài mới  tách ra được  nhiều khuynh hướng khác nhau để khám phá ra cách giải thích chính xác truyền thống Theriya.[5] Mục đích của ngài là giải thích và cắt nghĩa  nhằm duy trì một quan điểm nhất quán.  Những hạn chế nghīêm trọng ngài phải làm việc ( như đã được vạch ra ở chỗ khác)[6] đã được xác định rõ ràng nhất nơi chính các từ của ngài viết trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Vism. 522), khi ngài cho rằng trong khi giải thích những mệnh đề avijjāpaccyā Saṅkhārā, ngài đã phải trung thành với bài thuyết pháp của các vị Vibhajjavādins, để không bôi lọ những quan điểm của các vị “Trưởng lão”, không mâu thuẫn với  chính luận điểm của ngài, không xúc phạm đến các quan điểm của các trường phái không tán thành quan điểm chính thức, không chối bỏ Kinh Phật và cố gắng phù hợp với những gì đã được chứng minh trong phần mở đầu của chính tập Samantapāsādika. Những kết quả công lao khó nhọc của ngài thật vô song so với bất kỳ một văn sĩ nào viết về những lời Phật dạy và không có ai sánh kịp nơi thành quả ngài đã thực hiện được.

Nguồn Tư liệu tập Samantapāsādikā

Không nhất thiết phải triển khai rộng thêm đề tài tập chú giải Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā) nhằm đưa ra chi tiết sáng tỏ đã được ghi lại do Lalalasekera (PLC, 91tt.) và trong tập Adikaram (EHBC. 10tt). Các tập đại chú giải hay gốc chú giải (Mahā- hay Mūla-Aṭṭhakathā) được  công nhận là nguồn tư liệu chính thức dùng trong tập Samantapāsādikā (gồm ba mươi chín tham khảo) trong khi đó tập Mahāpaccarī (chín mươi tư tham khảo), tập Kūndi (sáu mươi bảy tham khảo), Andhaka (ba mươi tham khảo) Tập Saṅkhepa (chín tham khảo) và Paccarī (có đề cập đến trong Mahāpaccarī hay Saṅkhepa - một tham khảo)[7] đã được tham khảo kỹ lưỡng. Các nguồn tư liệu ngài Buddhaghosa đề cập đến trong lời Giới Thiệu ngài thực hiện cũng chính là những tham khảo xếp thứ tự danh sách trên. Ngài đã công khai ngưỡng mộ tập Đại Chú Giải (Mahā-Aṭṭhakathā) trong khi đó  tập chú giải Andhakaṭṭhakathā lại có phần nhận được nhiều phê phán trong tập Samantapāsādikā. Cho dù ngài thường đặt nặng đến việc cắt nghĩa tập Đại Chú Giải hơn, những ví dụ cho thấy tính ưu tiên ngài dành cho những giải thích trong các tập chú giải khác cũng có rất nhiều ý nghĩa (xin đọc EHBC, 11 tt). Trong ba tình huống cụ thể tập kinh Saṅkhera được đề cập chung với tập Mahāpaccari (như đã được trích dẫn trong EHBC, 12, số 9 tt) cũng làm rõ căn tính của tập Cullapaccarī. Có điều hơi lạ là ngài Buddhaghosa đã đề cập đến tập Chú Giải Luật Tạng trong các tập chú giải về các tác phẩm Kinh Tạng và Vi diệu Pháp, td. VibhA. 334, Pj. I, 97, hình như không góp phần việc ý nghĩa nào như là một nguồn tư liệu cho tập Samantapāsādika trong đó ngươì ta kỳ vọng rất nhiều điều đó sẽ xẩy ra. Rất có thể do chính bản thân tập Kinh này không phải là một tập chú giải độc lập viết bằng tiếng Sinhale, nhưng chỉ được tạo thành một phần thuộc từng phiên bản đã được công nhận trong tập chú giải viết bằng tiếng Sinhale so với toàn bộ Kinh Pāli. Khi Trưởng lão Buddhaghosa đề cập đến tập Samantapāsādikā trong các tập chú giải khác, ngài tỏ ra hơi đặc biệt, trong khi đó ngài đã không đả động gì tới tập chú giải Luật Tạng trong tập chú giải của ngài. Tham khảo ghi lại trong Pj. ii. 340 liên quan đến tập Khandakaṭṭhatatha phải được sắp xếp trong cùng phạm trù như đã được chỉ ra cho thấy là một phần của tập chú giải Luật Tạng vậy., trong khi đó tham khảo trong Pj. i. 97 đề cập đến Chú Giải Luật Tạng đã  làm rõ cho chúng ta thấy bản chất tập này. Vì rõ ràng tập kinh đã kể lại câu chuyện về Đại Hội Phật giáo lần thứ nhất gần giống như phiên bản được tìm thấy trong Tập Giới Luật ii 284tt hơn là với những phiên bản được phát hiện ra trong phần giới thiệu các tập chú giải các tác phẩm đầu tiên của từng Tam Tạng vậy. Ngoài việc trình bày bằng cách nào các bài tường trình về hai  Đại Hội Phật Giáo đầu tiên được ghi lại trong tiểu phẩm Giới luật là hai Khandhakas cuối cùng, điều này còn hỗ trợ tham khảo cho rằng tập Chú Giải Tạng Luật này không phải là một tập kinh tách biệt với tập chú giải tiếng Sinhale là Adikaram (EHGBC, 13) đảm bảo là như vậy. Nhưng cho thấy là một phần trong các phiên bản của những tập chú giải đã được công nhận giống như tập Khandhakaṭṭhakathā đã tạo thành một thành tố trong đó. Ta cần nghiên cứu thêm nữa để đi đến một kết luận dứt khoát dựa vào đó những tham khảo này được thực hiện và đây là điều xem ra vẫn còn rất mơ hồ.

Niên đại các tác phẩm của ngài Buddhaghosa

Tiếp đến vấn đề về niên đại tác phẩm Samantapāsādika liên quan đến các tác phẩm khác của ngài, chúng ta đang phải đối mặt với những dữ liệu có vẻ đối nghịch nhau. Nếu  lời ghi cuối sách được chấp nhận vô điều kiện thời chỉ có một tác phẩm duy nhất có niên đại chính xác đó là tập  Samantapāsādikā. Nhưng điều này đã khiến chúng ta rơi vào tình huống khó xử nghiêm trọng trong Mhv. xxxvii, 246, tham khảo này gợi ý rằng:  Sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon)  dưới triều đại nhà vua Mahānāma , ngài Buddhaghosa đã quay về Ấn độ chứ không phải sau khi nhà vua qua viên tịch được cho là một năm sau khi ngài Buddhaghosa hoàn tất tác phẩm Samantdapāsādikā.  Lời ghi cuối sách (Smp. PTṢ. 1415) khẳng định rằng:

Pālayantdassa sakalaṃ Laṅkādīpaṃ nirabbudaṃ

Rañño Sirinivāsassa sirīpālayasassino.

Samavīsatime kheme jayasaṃvacchare ayaṃ

Āraddhā, ekavīsamhi sampatte pariniṭṭhitā;

“Được thực hiện chính xác vào năm chiến thắng và hoà bình lập lại lần thứ hai mươi.[8]  Vào thời điểm đó nhà vua đầy vinh quang và nổi tiếng Sirinivāsa đang cai trị không gặp trở ngại gì trên toàn cõi Đảo quốc Laṅka Tích lan (Ceylon) , ngài Buddhaghosa đã hoàn tất tác phẩm này ngay vào thời điểm bắt đầu năm thứ hai mươi mốt triều đại của nhà vua  Sirinivāsa.” Cũng chính nhà vua này được đề cập đến trong  lời ghi cuối tập kinh Dhammapadaṭṭhakathā với tên là Sirikuḍḍha và được xác định danh tánh chính là nhà vua Mahānāma.[9]Coi như ngày lên ngôi vua là vào năm 409 sau CN, theo  lời ghi cuối tác phẩm Samantapāsādikā được biên soạn vào những năm 429-430 sau CN. Tập Kinh Thanh Tịnh Đạo phải được biên soạn trước năm 429 sau CN. vì đây chính là tác phẩm đầu tay của ngài Buddhaghosa biên soạn tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) và chi tiết này được hỗ trợ không chỉ do truyền thống, song còn do các tham khảo thực sự cho toàn bộ các tập chú giải của ngài biên soạn có tương quan đến với nhau, Tập Thanh Tịnh Đạo không đả động gì đến những tập chú giải ngài đã thực hiện tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon). Những tham khảo ta thấy đề cập đến trong Tập Kinh Thanh Tịnh Đạo  liên quan đến các tập chú giải Trung Bộ Kinh (Majjhima) Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta) và  Tăng Chi  Bộ Kinh (Anguttara) không dành cho chính những tập chú giải của ngài Buddhaghosa đã biên soạn song có liên quan đến những tác phẩm thuộc về Sīhaḷa Aṭṭhakathā mà ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi bắt đầu biên soạn tác phẩm Samantapāsādikā này[10].

Tập Kaṅkhāvitaraṇī, là tập chú giải Giới Bản (Pātimokkha), cũng thấy thường xuyên đề cập đến trong Samantapāsādikā[11] trong lời công bố sau đây: vitthāro pana Samantapāsādikāya Vinayasaṃvaṇṇāya vuttanayen’eva veditabbbo. “ Và cách giải thích phải được hiểu như ngài đã khẳng định trong phần chú giải Giới luật trong tập Samantapāsādikā.” Ta cũng thấy rõ hơn kém rằng tập Kinh Kaṅkhāvitaraṇī được biên soạn sau tập Samantapāsādikā; vì đây là một tập chú giải Giới luật Bản thế nên rất có thể việc biên soạn tác phẩm này phải được thực hiện tiếp theo ngay sau tập Kinh  Samantapāsādikā. Không hẳn chúng ta rơi vào vị thế hạnh phúc này một khi  chúng ta bắt đầu thẩm vấn sự kiện biên niên sử tương đối giữa tập Samantapāsādikā và các tập chú giải về các tác phẩm Kinh Tạng và Tạng Vi Diệu Pháp của ngài Buddhaghosa được coi như là những tham khảo hỗ tương lẫn nhau. Các tập chú giải về bốn Kinh A-hàm có liên quan tới tập Samantapāsādikā, trong khi đó mỗi tập trong số những tập chú giải này lại liên quan đến tác phẩm hay các tác phẩm kế tiếp thuộc Tam Tạng lại liên quan đến tác phẩm hay các tác phẩm trước đó. Như vậy tập Sumaṅgalavilāsnī (DA. iii. 981, 1000, 1043) liên quan đến Kinh Sumantapaāsādikā; Kinh Papañcasūdanī (MA. i. 198, 199; iii, 45, 106) liên quan đến tập Samantapāsādikā và (i. 2; v. 24) liên quan đến kinh Sumaṅgalavilāsinī; Kinh Sāratthappakāsinī (ii. 37, 145) liên quan đến kinh Samantapāsādikā, ( i. 3, 348) có liên quan đến kinh Sumaṅgalavilāsnī, và (I, 13; ii, 45) liên quan đến Kinh Papañcasūdanī; Kinh Manorathapūraṇī (AA. iii, 334; iv. 136tt.) có liên quan đến kinh Samantapāsādikā, (I, 3; iii, 285) liên quan đến kinh Samaṅgalavilāsinī và (AA. i. 15) có liên quan đến kinh Papañcasūdanī. Đến lượt Kinh Samantapāsādikā liên quan đến Kinh Sumaṅgalavilāsnī (tr. 115. ấn bản tiếng tích lan.) và Kinh Papañcasūdanī (tr. 115, 644, 721. ấn bản tiếng tích lan.). Rất có khả năng Buddhaghosa đã chèn thêm một số trong các tham khảo này vào các tác phẩm đã được hoàn tất. Đây không phải là điều khó để thực hiện vì số các bản được  thực hiện trong một cuộc lưu lại ngắn ngủi tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) không có nhiều là bao.

Con số ít hơn các tham khảo trong tập Samantapāsādikā so với các tập Chú Giải Kinh A-hàm rất có thể là do biểu thị một thực tế đây chính là một tác phẩm cổ xưa cho dù không tìm thấy bằng chứng mối tương quan biên niên sử nào, đặc biệt khi chúng ta tính đến niên đại trong  lời ghi cuối sách và trong tham khảo kinh Mahāvaṃsa so với việc ngài Buddhaghosa rời khỏi Đảo quốc Tích lan (Ceylon) quay trở về Ấn Độ. Kinh Panañcasūdanī (MA. ii. 30), Sāratthappakāsinī (SA. ii. 45), và Kinh Manorathapūraṇī (AA. v. 16) liên quan đến Kinh Sammohavinodanī trong khi đó đến lượt kinh này (VibhA. 43, 396, 410, 479) lại đề cập đến Chú Giải Bộ Pháp Tụ như là một tập chú giải có quyền ưu tiên hơn Kinh Sammohavinodanī. Điều này bình thường có thể cho biết rằng các tập chú giải giới luật (Vinaya) và Vi Diệu Pháp xuất hiện trước các tập chú giải Kinh A-Hàm và các tập chú giải các tác phẩm của từng Tam Tạng đựoc biên soạn theo thứ tự các tác phẩm đó đã được  phân loại trong Kinh Phật Pāli (Canon). Các tham khảo hỗ tương trong Samantapāsādikā (Smp. PTS., tr. 150) và Chú Giải Bộ Pháp Tụ  (DhsA. 97tt) phải được giải thích dựa trên một cơ sở khác.[12] Cho dù Chú Giải Bộ Pháp Tụ do chính ngài Buddhaghosa biên soạn, trước khi ngài tới Đảo quốc Tích lan (Ceylon), kinh này phải được  hoàn tất tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) sau khi đã được  đưa ra duyệt xét lại dưới ánh sáng của nguồn tư liệu mới có được tại Đại Thiền Viện (Mahāvihāra) vì đây là cách giải thích duy nhất có thể nại đến đối với các tham khảo về Thanh Tịnh Đạo (Visudhimagga) và các tác phẩm tiếp theo sau và tập Chú Giải tiếng Sinhale nằm trong khối lượng tác phẩm đó. Dưới ánh sáng các dữ liệu đã đề cập đến ở trên, ta nên xử lý hết sức cẩn thận, ở đây một cách sắp xếp theo hệ thống biên niên sử mang tính chất thăm dò được gợi ý cho dù điều này không có nghĩa được coi như là thoả đáng:

1.               Visuddhimagga.

2.               Các Tập Chú Giải Vi Diệu Pháp theo tuần tự.

3.               Các tập Chú Giải Giới Luật  theo tuần tự.

4.               Các tập Chú giải Kinh A-hàm theo thứ tự.

Tuy nhiên lại nữa cách sắp xếp theo hệ thống này có thể đem đến cho ta một số khó khăn khi thông tin ghi lại trong  lời ghi cuối sách của tập Samantapāsādikā liên quan đến ngày tháng hoàn tất tác phẩm đó và điều được đề cập đến trong Mhv. xxxvii. 246. liên quan đến sự kiện ngài Buddhaghosa rời khỏi Đảo quốc Tích lan (Ceylon) trở về Ấn Độ không thể hài hoà một cách trọn vẹn nếu xét tới tập tác phẩm có niên đại sau tập Samantapāsādikā. Sự kiện ngài Buddhaghosa rời khỏi Đảo quốc Tích lan (Ceylon) được  ghi trong đoạn kệ được đề cập đến ngay đoạn kệ kể về sự kiện nhà vua Mahānāma viên tịch và không có lý do gì khiến ta có thể nghi ngờ về sự kiện biên niên sử tiếp theo do chính ý định của tác giả liên quan đến phần này trong kinh Mahāvaṃsa. Quả thật, ta không thể chấp nhận một hoặc cả hai lời khẳng định trên xét theo số lượng các tập chú giải cần phải được xác định niên đại sau tập Samantapāsādikā. Trước tiên, tập Kaṅkhāvitaraṇī rất có thể theo như tập chú giải Giới luật đã khiến tác giả bận rộn trước khi ngài bắt tay thực hiện biên soạn các tập Chú Giải Kinh A-hàm, xét theo khối lượng công việc đòi hỏi ngài phải thực hiện ít nhất trong ba năm nếu như công việc biên soạn tập Samantapāsādikā đòi hỏi ngài phải bỏ ra một năm (hay nhiều hơn nữa) để thực hiện. Công việc duyệt lại các tập Chú Giải Vi Diệu Pháp cũng nên gán cho giai đoạn sau khi tập Samantapāsādika đã được  viết xong. Ngoài ra, nếu ta gán cho ngài Buddhaghosa bất kỳ tác  phẩm nào trong bốn tác phẩm khác[13], thời việc biên soạn các tác phẩm này cũng nên được  gán cho cho một giai đoạn sau tập Samantapāsādikā. Đây là điều khiến cho dự đoán của chúng ta gán toàn bộ những tác phẩm này cho một giai đoạn ngắn ngủi giữa năm thứ hai mươi mốt triều đại của Nhà Vua và cái chết của ngài diễn ra sau khi ngài đã trị quốc đựoc hai mươi hai năm. Nếu thông tin trong hai nguồn tư liệu này là chính xác, thời không còn kết luận nào khác hơn là cho rằng ngài Buddhaghosa đã thực hiện công việc biên soạn đồng thời rất nhiều tập chú gỉai khác nhau cùng một lúc. Điều sẽ dễ dàng giải thích những tham khảo chéo đối với các tập chú giải về các tác phẩm theo từng tập trong Tam Tạng được  biên soạn chính xác theo thứ tự các tác phẩm này đã xuất hiện trong Kinh Phật Pāli.

Các tập chú giải khác của tác giả Buddhaghosa

Cách sắp xếp này đã không chiếu cố đến những tập Chú Giải được  gán cho ngài Buddhaghosa làm tác giả, tức là tập Paramatthajotikā (KhA và SnA), tập Dhammapadaṭṭhakathā và tập Jātakaṭṭhakathā. Phần mở đầu kinh Paramatthajotikā khẳng định rằng tác giả đã bắt đầu bình luận các tập Khuddakas chính ngài đã phân tách ra khỏi tập Tiểu Bộ Kinh: Khuddakāni nāma Khuddakanikāyassa ekadeso, Khuddakanikāyo nāma pañcanikāyānaṃ ekadeso, “ Các tập Tiểu Bộ Kinh tạo thành một phần trong tập Tiểu Bộ Kinh Pāli. Và đến lượt mình tập Tiểu Bộ Kinh lại tạo nên một phần trong Ngũ Kinh.”  Tiếp theo sau đó ngài đề cập đến tập Tiểu Bộ Kinh “lớn hơn.”  Như đã được liệt kê trong tập Bāhiranidāna (Smp. 31). Rất có thể  từ Khuddakas dùng để ám chỉ tập Khuddakapāṭha và Sutta Nipāta là các tập Chú Giải về cả hai tác phẩm này  xét theo cùng một tên duy nhất là Paramatthajotikā, trong khi đó hai tập chú giải khác về các tác phẩm trích từ  Tīểu Bộ Kinh Pāli được gán cho ngài Buddhaghosa làm tác giả đã không tách ra chính tên đặt cho nó (Tiểu Bộ Kinh), song chỉ được gọi đơn giản là Dhammapadaṭṭhakathā và Jātakaṭṭhakathā.. Các lời ghi cuối sách cho các tập chú giải Khuddakapāṭha và Sutta Nipāta không cung cấp thêm bất kỳ thông tin nào chỉ trừ một thông tin như thông lệ là bị chú được viết thêm vào mà thôi. Adikaram (EHBC 7tt.) nghi ngờ tính xác thực của truyền thống gán quyền tác gỉa tập Paramatthajotikā cho ngài Buddhaghosa và nêu ra lý do về vấn đề này, khi cứu xét ngắn gọn hai tác phẩm bao gồm tập Paramatthajotikā trong đó. Ông còn nghi ngờ không hiểu hai tập chú giải trong đó chứa đựng tác phẩm của cùng một tác giả hay chăng và đề nghị rằng ngài Chú giải Buddhaghosa được gán cho làm tác giả hai tác phẩm rất có thể là vị trưởng lão có tên được đề cập đến trong  tập Bộ Pháp Tụ (DhsA. i. st. 8) và trong tập Sammohavinodanī (VibhA. 523) hai tác phẩm này được biên soạn theo lời yêu cầu của ông.

Trong  phần mở đầu tập Dhammapadaṭṭhakathā (Chú giải Pháp Cú Kinh) có khẳng định rằng tập chú giải tuyệt vời được biết bằng ngôn ngữ đảo quốc Tambapaṇṇi (Đảo quốc Tích lan - Ceylon) được truyền lại từ nhiều thế hệ trước không nhằm mục đích của các vị khác (có nghĩa là các tỳ khưu ngoại quốc.) và ngài Buddhaghosa đang chuyển dịch sang tiếng Pāli theo lời yêu cầu của Trưởng lão Kumārakassapa (DhA. i. các đk.. 5, 7), trong khi đó  lời ghi cuối sách  nói thêm rằng ngài sáng tác tập kinh này khi đang sống trong ngôi nhà cao tầng của nhà vua Sirikuḍḍa (có nghĩa là  Mahānāma) trong một thiền viện đã được xây dựng cho ngài do lòng biết ơn của ngài hoàng đế (DhA. iv. 235. đk. 2). Đoạn kệ không làm rõ liệu nhà vua Sirikuḍḍa và hoàng đế có phải là một hay không. Bất chấp điều này, quyền tác giả của tập Chú Giải này vẫn còn là điều đáng nghi ngờ (xin đọc PLC. 96tt. để biết thêm chi tiết về vấn đề tranh luận), cho dù vẫn còn một khả năng, bất chấp sự khác biệt trong ngôn ngữ và văn phong giữa tác phẩm này và các tập chú giải chính của ngài Buddhaghosa, thời tác phẩm này vẫn có thể do ngài biên soạn.

Jatākaṭṭhathā (Chú Giải Kinh Bản Sanh) cũng là một tác phẩm  tiếp theo được  gán cho Buddhaghosa làm tác giả. Nhưng điều này cũng rất đáng ngờ không hiểu có phải chính ngài Buddhaghosa đã biên soạn tác phẩm này  hay không (xin đọc PLC. 117tt.). Những  Phần mở đầu hình như gợi ý rằng ngài Buddhaghosa chính là tác giả của tập chú giải này và  tác phẩm được viết theo những mẫu thông thường những phần mở đầu cho các tác phẩm của ngài và vạch ra rằng tập chú giải sẽ được dựa trên truyền thống Đại Thiền Viện: Jātakassa atthavaṇṇanaṃ vācanāmagganissitaṃ bhāsissaṃ ( Jātaka. i. 1. đk. 10tt) . Nhưng gián tiếp tính chất cổ đại lại lớn hơn nhiều được công bố thuộc tác phẩm này so với bất kỳ tác phẩm nào khác của ngài Buddhaghosa tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon). Nếu như ngài Buddhamitta, là người đã được nhắc đến trong phần mở đầu, là một trưởng lão mà ngài Buddhaghosa đã nghiên cứu tập Chú giải tiếng Sinhale (Smp. PTS. 1415),  vì không còn tác phẩm nào khác có thể quay về quá khứ đã đề cập đến vị trưởng lão nào khác của ngài Buddhamitta. Không chắc chắn có một Buddhamitta nào khác,  là đồng hương của ngài tại Mayūrapaṭṭana (MA. v. 109) lại có  một thầy dạy tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon). Hai tỳ khưu Atthadassi và Buddhamitta (sống trong Đại Thiền Viện) và Buddhadeva “có kiến thức sâu tinh thông lại thuộc giáo phái Mahiṃsāsaka.” (đk. 7) đã cùng nhau yêu cầu tác giả biên soạn tác phẩm này. Điều này tạo ra một vấn đề khác đó là bằng cách nào một tỳ khưu thuộc trường phái đối nghịch lại với Đại Thiền Viện lại có thể tự mình hoà hợp được với truyền thống Đại Thiền Viện. Như vậy phải đối mặt với toàn bộ những mâu thuẫn này,  phần mở đầu  hình như không xác thực và giống như một cách thử của  một nhà văn sau này để có thể làm cho tác phẩm mang tính chất chính thống hơn là thực sự cần thiết để chứng tỏ rằng đó chính là tác phẩm của ngài Buddhaghosa. Lời ghi cuối sách cũng hơi khác so với những gì thường thấy trong các tác phẩm của ngài Buddhaghosa và lại gồm một patthanā dài dòng không theo nghĩa rộng tưởng tượng có thể xuất phát từ ngòi bút của ngài Buddhaghosa. Việc thiếu vắng phần viết thêm thông tin sau khi đã hoàn tất tác phẩm cũng mang ý nghĩa đáng chú ý. Phần tham khảo trong Chú Giải (Aṭṭhakathā) kinh Sutta-nipāta (Pj. ii. 357) liên quan đến kinh Nidānakathā trong tập Chú Giải  Kinh Bản Sanh (Jatākaṭṭhathā) có hoặc không cần đề cập đến trong phiên bản này, vì tập kinh này cũng đã có thể được đề cập đến trong tập chú giải tiếng Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā) dựa trên[14] tập đó có một tác phẩm khá dài dòng. Tập Kinh Manorathapūraṇī đã khép lại chương cuối cùng trong sự nghiệp văn chương của ngài Buddhaghosa, và khéo léo được đặt cho tên này để tưởng nhớ đến việc hoàn thành ước muốn tự thâm tâm của ngài là biên soạn các tập chú giải cho toàn bộ bốn Kinh A-hàm (xin đọc  lời ghi cuối sách, AA. v. 98tṭ). Cho dầu vẫn có những mối nghi ngờ nổi lên nơi những tác phẩm này liên quan đến quyền tác giả, nếu có một niên đại được gán cho chúng, thời phải là niên đại xẩy ra sau tập kinh Manorathapūraṇī. Không có bất kỳ một sắp xếp biên niên sử nào khả dĩ được thực hiện ngoại trừ nói rằng tập chú giải Khuddakapātha xuất hiện trước tập chú giải Kinh Tập (Suttanipāta Aṭṭhakathā)  và hai tác phẩm này lại xuất hiện trước tác phẩm Chú Giái Pháp Cú Kinh và Kinh Bản sanh (Dhammapadaṭṭhakathā và Jātakaṭṭhakatha). Geiger (tập Pāli Language and Literature, tṛ 32) khẳng định rằng tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapadaṭṭhakathā) xuất hiện sau tập Chú Giải Kinh Bản Sanh (Jātakaṭṭhakatha) nhưng không đưa ra lý do cho lời tuyên bố này.

Trong việc nghiên cứu thêm bằng chứng để làm chứng cứ vững chắc,  chúng ta phải quay lại với  những  lời ghi cuối sách của các tác phẩm đã được biết đến dứt khoát là của ngài Buddhaghosa, cho dù thông tin được ghi lại trong các lời cuối sách đó không thể giải quyết được câu hỏi về biên niên sử tương đối. Việc ghi thêm thông tin sau khi đã hoàn tất tác phẩm rập khuôn không có giá trị gì cả vì rất có thể chúng thuộc một người sao chép thuê sau này. Lời ghi cuối sách về tập Chú Giải  Kinh Bản Sanh (Jatākaṭṭhathā) chỉ là một ngoài đó tập Samantapāsādikā có thể cung cấp một số thông tin quan trọng, lại không thể tin cậy được. Lời ghi chép cuối sách của tập Thanh tịnh Đạo (Visudhimmaga) cho rằng tác phẩn này được biên soạn theo lời mời gọi của một tỳ khưu tên là Saṅghapāla,  ta không biết thêm điều gì về ngài cả. Những tên các Trưởng lão đã được nhắc đến trong các lời ghi cuối sách cho các tác phẩm khác (được tóm lược trong EHBS, 5tt) cũng không giúp gì được nhiều trừ phi ta biết được đôi điều gì chính xác về các vị đó. Ngay cả ở điểm này, lời yêu cầu chính thức để biên soạn các  tác phẩm này đã được  biết tới rất lâu trước khi việc khởi đầu thực sự các tác phẩm có liên quan được bắt đầu biên soạn. Như vậy, lời yêu cầu của ngài Buddhamitta để biên soạn tập chú giải cho Trung Bộ Kinh (Majjhima)  và của Jotipāla để biên soạn tập chú giải Tương Ung Bộ Kinh (Samyutta)  hình như đã được thực hiện tại Kañcī. Rất có thể chính ngài Jotipāla là người đồng hương với Trưởng lão Buddhaghosa, đã yêu cầu ngài cả trong Kāñci lẫn trong Đại Thiền viện (Mahavihāra) để viết tập chú giải về  Tăng Chi  Bộ Kinh (Anguttara) . Chính ngài Buddhamitta, dưới sự hướng dẫn của ngài Buddhaghosa đã nghiên cứu tập chú giải tiếng Sinhale lại là một nhân vật khác với người bạn thân của ngài mang cùng tên đó dưới những ngày ngài lưu lại tại Kāñci. Chính ngài Buddhamitta trước đó cũng đã được nhắc tới với tên là Buddhasiri trong tập Kinh Bāhiranidāna (xin đọc Smp. i. số 5). Nhà văn viết  phần mở đầu tập chú giải  Kinh Bản Sanh (Jatākaṭṭhathā) cũng được  đề cập đến với tư cách cùng một Đại Lão khi ngài nói tới tên kèm theo với tên của người thầy Atthadassi của ông.

Các nguồn Bāhiranidāna

Trở lại với tập kinh Bāhiranidāna, một ít từ liên quan đến văn phong và cách sắp xếp tưởng cũng cần thiết vào giai đoạn này, vì đây là một số góc độ được xác định do tính chất các nguồn tư liệu chúng ta phải trung thành trong khi thực hiện chuyển dịch các nguồn tư liệu này, một tham khảo ngắn gọn nên được thực hiện về các nguồn này, khi chúng ta lướt qua, cho dù hình như không còn gì phải được thêm vào những điều ngài Oldenberg đã đề cập tới  (Dīpavaṃsa, phiên bản và bản dịch,  tr. 2tt) Geiger (Dīpavaṃsa và Mahāvaṃsa, bản dịch tiếng Anh, tr. ix tt) điều đã được nhắc tới với tham khảo về những tác phẩm này cũng được áp dụng ở một số góc độ với tập Bāhiranidāna, vì toàn bộ các tác phẩm này thực tế được dựa trên cùng một nguồn tư liệu chỉ kèm theo một số chính lý và sửa  đổi khi xét thấy cần thiết cho mục tiêu nhắm tới và khẩu vị cá nhân của những tác giả tương ứng. Có ý kién khác nhau vì dưới góc độ nào nguồn tư liệu này được coi như những chi tiết  cho dù dầu cơ bản có một mức độ đồng ý nào đó. Oldenberg đã xác định tập Porāṇā, Porāṇaṭṭhakathā. Và Aṭṭhakathā Mahāvaṃsa có liên quan đến một và cùng một nguồn tư liệu duy nhất. Ngài cho rằng điều này tạo ra một giới thiệu lịch sử về tập Chú Giải viết bằng tiếng Sinhale của Đại Thiền Viện. Các tập Tiểu và Đaị Chú Giải (Mạhā hay Mūla Aṭṭhakathā) và điều đó là một phần yếu tố cấu tạo cơ bản của tập Chú giải (Aṭṭhakathā) sau này làm nền tảng lịch sử không thể thiếu.” Quan điểm của ngài Geiger chính là có tồn tại một tập biên niên sử độc lập cổ đại thuộc truyền thống Đại ThiềnViện, ghi lại những dữ liệu lịch sử xuống tới tận triều đại Mahāsena. Phiên bản tiếng Pāli được chép lại của tập biên niên sử này chính là tập Mahāvaṃsa hiện đại. Ngài so sánh điều này với những tập biên niên sử thời trung cổ tại Âu châu (như trên., tr. 64).  Ngài Malalasekera cũng đồng ý và xác định điều đó với tập chú giải Mahāvaṃsa viết bằng tiếng Sinhale và chỉ ra rằng lúc ban đầu tập biên niên sử này tạo ra một cách giới thiệu lịch sử cho tập chú giải Kinh Pāli và chỉ xử lý các chủ đề sau đây:

 

Dipāgamanaṃ Buddhassa dhātu ca bodhiyāgamaṃ

Saṅghācariyavādañ ca dīpaminhi Sāsanāgamaṃ

Narindāgamanaṃ vaṃsaṃ. . . .

“Cuộc viếng thăm của Đức Phật đến đảo quốc Tích Lan (Ceylon). Việc tập kết các Xá Lợi Phật đến đảo quốc và cả cây Bồ Đề được đem đến đây. Truyền thống tín lý của các vị Đại Lão lãnh đạo của Tăng đoàn, việc thiết lập Giáo Hội trên Đảo quốc Tích lan (Ceylon)  và việc xuất hiện các vị vua và gia phả hoàng tộc….” (Dpv. i. I.) Sau này Tăng đoàn còn sáp nhập thêm nhiều điều xa lạ và phát triển thành một tập biên soạn độc lập. Các vị canh giữ những tư liệu đó chính là các tỳ khưu trong Đại Thiền Viện (như trên., lix) tập chú giải Parāṇa đã hiện hữu chính là các tập chú giải về Kinh Pāli. Rất có thể phần giới thiệu các tập chú giải của ngài Buddhaghosa cho tập kinh đầu tiên của từng Tam Tạng (Samp.., DA. DhsA) sẽ rất có ích để xác định những chi tiết của tập chú giải Porāṇa nguyên thuỷ đó, vì những chi tiết lịch sử không cần thiết không liên quan gì tới mục đích của Buddhaghosa đã thiết lập tính chất xác thực nơi bản quyền bản văn và truyền thống chú giải tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon).

Thực vậy nhiều vấn đề liên quan đến tập Dīpavaṃsa và Mahāvaṃsa lại liên quan đến thông tin thêm vào sau này không thấy nơi những lời giới thiệu cũng không nổi lên như trong trường hợp tập Bāhiranidāna có mục tiêu giới hạn trước mắt. Hơn thế nữa lời giới thiệu lịch sử lại hoàn toàn xuất phát từ quan điểm truyền thống giới luật và không còn gì nữa, trong khi danh sách các nhà vua và những chi tiết biên niên sử cũng chỉ mang tính chất tình cờ mà thôi. Ở đây  tập kinh không xuất phát vượt quá thời đại Devānampiyatissa. Trong khi đó truyền thông giới luật được truy tích cho tới tận niên đại được chỉ định vào thời điểm yāva ajjatanā (và khoảng thế kỷ thứ nhất sau CN.) thông qua sự nối tiếp liên tục các bậc thầy Giới luật. Liệu có tồn tại một tập biên niên sử độc lập hay liệu tập chú giải tiếng Sinhale được gắn với một lời giới thiệu theo thời gian đã được tăng thêm nhiều biến cố cho lịch sử cho tới thời đại Mahāsena hay không? Ta có thể khẳng định không chút nghi ngờ rằng phần tư liệu kinh Bāhiranadāna đề cập đến chắc chắn thuộc tập chú giải Kinh Pāli viết bằng tiếng Sinhale được coi là “nền móng thiết yếu” Giới luật đã thảo luận trong đó. Bằng cách đưa ra nền móng lịch sử Giới luật, ngài Buddhaghosa đã khéo léo thêu dệt chung lại thành vào một bài tường trình liên quan đến những thông tin có liên hệ mật thiết với nhau. Td., cách phân loại các giáo lý, v.v… có thể hoặc không thể tìm thấy trong các nguồn tư liệu và rất có thể không nằm trong văn phong được trình bày trong tập Bāhiranidāna cũng như trong phần giới thiệu tập Sumaṅgalavilāsini và tập  Chú Giải Bộ Pháp Tụ. Bối cảnh lịch sử được mô tả sinh động liên tục tính Giới luật bao gồm có thể nguồn tư liệu đó có thế tiến tới. Toàn bộ những biến cố ghi lại trong các tập biên niên sử xuất hiện sau niên đại các nguồn tư liệu trong tập Bāhiranadāna, cũng như những dữ liệu lịch sử không liên quan gì trong việc xác định tính chất xác thực cả bản văn lẫn truyền thống chú giải tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon). Nên được xử lý như là “ngoại lai” đối với tập Chú Giải Kinh Pāli viết bằng tiếng Sinhale. (Sīhaḷa Aṭṭhakathā). Tuy nhiên những tư liệu đó lại rất thích hợp trong tập chú giải Mahāvaṃsa (hay Sīhaḷaṭṭhakathā Mahāvaṃsa) và các nguồn tư liệu Porāṇa ngoài tập Mahā-Aṭṭhakathā và việc xem xét lại các tập chú giải viết bằng tiếng Sinhale về Tam Tạng. Tự nhiên điều này dẫn ta tới kết luận các nguồn tư liệu trong các tập chú giải Kinh Pāli và trong các tập Biên Niên Sử khác cho dù không nhất thiết phải độc lập và các tập biên niên sử này ghi lại toàn bộ những gì cần thiết cho mục tiêu của chúng xuất phát từ những nguồn tư liệu trước đó.

  Vai trò của ngài Buddhaghosa cũng như của nhà vua Mahānāma, là tác giả của tập Mahāvaṃsa chính là chuyển dịch những tư liệu có thể tiếp cận được sang tiếng Pāli (xin đọc Mhv. tập chú giải phụ . i, 36, v.v… loc. cit, tr. lvi.). Vì tập  chú giải phụ khẳng định rằng tập Mahāvaṃsa là cách giải thích trung thành nhất đối với nguồn tư liệu Sinhale chỉ với một thay đổi cho rằng tập tư liệu đó đã được chuyển thành các đoạn kệ Pāli. So với cố gắng vụng về trước đó trong việc xác định tập Dīpavaṃsa, tập Mahāvaṃsa nổi bật lên như là các tác phẩm gồm những thành tựu kệ lớn lao cho dù tập kinh có thiếu nghệ thuật kệ tao nhã thuộc thể văn chương vận luật Kinh Pāli. Thực tế tập kinh là một cách giải thích vần luật có thể thấy một số hạn chế và một số giới hạn về phía tác giả liên quan đến cách trình bày một cách giải thích trung thực đối với tư liệu nguyên thuỷ.  Trong trường hợp tập Bāhirananidāna ta không thấy xuất hiện những hạn chế kiểu đó và rõ ràng chúng ta có thể cho rằng tập kinh này còn trung thành hơn với tư liệu tiếng Sinhale nguyên thuỷ hơn là tác phẩm văn chương tao nhã, là tập Mahāvaṃsa. Chính vì một phần dựa trên cơ sở này mà những khác biệt nơi một số tên riêng giữa các tập kinh Bāhiranidāna và các tập Biên Niên Sử cần phải được giải thích. Thí dụ như: Issaranimmāṇa, Kāliṅgakula, Pakuṇḍaka. Tavakka, v.v…. (xin đọc chú thích bản dịch) Tuy nhiên sự giống nhau từng từ một giữa toàn bộ các đoạn văn trong tập kinh Bāhiranidāna và các tập biên niên sử (xin đọc Geiger, Dīpavaṃsa và Mahāvaṃsa. tr . 106tt) cho thấy không có những bất đồng sâu rộng giữa các tác phẩm đó là bao. Sự tương đồng này không bao hàm sự kiện là tác phẩm biên niên sử sau này lại đặt cơ sở trên tác phẩm trước đó. Nhưng các tác phẩm đó chỉ trở lại một truyền thống chung mà thôi. Nơi nào các trích đoạn thực sự được thực hiện từ tập Dīpavaṃsa thời những trích đoạn đó được công nhận một cách đúng lúc trong Tập Bāhiranidāna, ngược lại những đoạn nào được đem nguyên văn từ tập Porāṇā[15] đều được công nhận như thế và sự thật là cả tập Dīpavaṃsa cũng được sát nhập chung song đã không được đề cập tới.

Văn Phong và cách sắp xếp tập Bāhiranidāna

Như ta đã khẳng định ở trên, văn phong và cách sắp xếp tập Bāhiranidāna đã được xác định ở một qui mô rất rộng do bản chất các nguồn tư liệu dữ kiện trong đó. Cho dù những tập chú giải của ngài Buddhaghosa chỉ là những bản dịch từ các tập chú giải viết bằng tiếng Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā) các tác phẩm của ngài cũng đã thể hiện một văn phong văn chương riêng trong các tác phẩm đó. Cho ngài đã làm việc dưới nhiều giới hạn nghiêm trọng liên quan đến những cách giải thích bản văn, hình như ngài vẫn có tự do cao độ để diễn tả những suy nghĩ của mình bằng những từ ngữ riêng. Văn phong trong văn xuôi rất sôi nổi và rõ ràng của ngài Buddhaghosa hình như rất khác so với văn xuôi nghiêm trang và rập khuôn của Kinh Phật Pāli. Thành ngữ cổ xưa đã trở nên cổ kính vào thời Buddhaghosa. Cho dù ngôn ngữ tạng Giới luật và tạng Vi Diệu Pháp cho thấy những khác biệt nhỏ so với văn xuôi Kinh Pāli, ta thấy về cơ bản mà nói không xuất hiện một rời bỏ cơ bản khỏi những thành ngữ cổ xưa. Những tác phẩm Hậu Kinh Pāli như Minlinda Pañha (những câu hỏi của nhà vua Mihinda, tập kinh Nettippakaraṇa, và Peṭakopadesa bộc lộ một mức độ linh hoạt có phần lớn hơn không thấy trong văn vần tiêu chuẩn nơi Kinh Pāli, đến nỗi phản bội lại mối tương quan với thành ngữ cổ điển. Buddhaghosa không cần cố gắng nhiều để thích ứng với những thành ngữ cổ điển đó khi chúng ngăn cản cách diễn đạt tự do ý tưởng của ngài. Những hạn chế các thành ngữ Kinh Pāli cổ xưa áp đặt, đã khiến cho nhiệm vụ của ngài thêm khó khăn hơn nhiều. Tuy nhiên nhất thiết phải biên tập lại những tập chú giải cổ xưa bằng một ngôn từ bản văn kinh phật mới – đó là Pāḷinayanurūpaṃ.(bản văn Pāli hoá). Ngài đã thực hiện điều này một cách điêu luỵên và được  sự đồng tình của các Trưởng lão không những liên quan đến nội dung nhưng còn cả văn phong, văn chương nữa: Theriyacariyā sabbe pāḷiṃ viya tam aggahuṃ - (Mhv. xxxvii. 245.) Để thực hiện mục tiêu của mình, ngài đã kiêu hãnh tạo ra  một văn phong của riêng mình đầy khí lực và diễn cảm hơn nhiều so với văn phong của tập Milinda Pañha, là tác phẩm tuyệt nhất trong số các tác phẩm hậu Kinh Pāli liên quan đến văn phong và cách diễn tả, tuy nhiên vẫn duy trì được những qui luật khắt khe của các thành ngữ bản văn cổ điển. - Tantikkamaṃ kañ ci avokkamitvā.  Điều này đã được khẳng định rõ ràng bằng ngôn từ trong Malalasekera: “Thay thế cho ngôn từ Sutta cổ kính, cứng nhắc và đôi khi còn ngập ngừng, hầu như qúa khắt khe do thiếu từ vựng để diễn tả ý tưởng và khái niệm để rồi làm tươi mát tâm trí của người sử dụng thổ ngữ này hay thổ ngữ kia. Buddhaghosa đã để lại trong rất nhiều tác phẩm của ngài một ngôn ngữ rất phong phú về từ ngữ, uyển chuyển trong cách sử dụng, tao nhã nơi cấu trúc, thường thường rất khó hiểu bằng những cấu trúc dài dòng  và có khả năng diễn đạt toàn bộ những ý tưởng con người có thể nhận thức được vào lúc đó. Những đoạn văn gây ấn tượng, dài dòng lê thê được thay thế bằng kết câu trực tiếp đơn giản nơi các Suttas” (PLC, 103).

Tuy nhiên tính khéo léo (tinh thông) văn chương này hình như không phát huy được lợi ích tối đa nơi một phần chú giải trong các tập chú giải của ngài Buddhaghosa, nhưng trong tác phẩm nguyên thuỷ Thanh Tịnh Đạo của ngài, là các chương giới thiệu cho các tập Chú Giải, và những nhận định bình luận tôn giáo dài dòng và những phần chuyện kể trong các tác phẩm của ngài. Lấy trường hợp tập kinh Bāhiranidāna, trung thành với nguồn Porāna cổ điển, phần chủ yếu những bài tường thuật đã không cho phép ngài Buddhaghosa có nhiều cơ hội chứng tỏ tài khéo văn chương tối đa của ngài. Tuy nhiên, nơi nào ngài đi trật khỏi những nguồn tư liệu nguyên thuỷ, thời thiên tài đích thực của một nhà văn Pāli tao nhã đã quá hiển nhiên. Những ví dụ điển hình của ngài Buddhaghosa đôi khi đã sử dụng quyền tự do khi phải tự tách khỏi nguồn chính được nhận thấy nơi một số đoạn mô tả rải rác trong tập chú giải Bāhiranidāna, td., như bài mô tả về sảnh đường nhà vua Ajātasattu cho xây dựng (Smp. 10), về những thần lực siêu nhân của nhà vua Asoka (Smp. 44), bài mô tả việc cải đạo cho vùng Kasmira-Gandhāra do ngài Majjhantika thực hiện (Smp. 65), việc cải đạo của Soṇa và Uttarā trong vùng đất Suvaṇṇabhūmi (Smp. 72) v.v… Một số bài mô tả này đã phản lại tính chất thanh tao đáng kinh ngạc với văn vần mô tả hoa mỹ nơi văn chương Phạn cổ điển vào thời bấy giờ. Bản chất các tư liệu cần phải được mô tả là như thế đó khiến cho ngài Buddhaghosa  có rất ít cơ hội để chứng tỏ khả năng của một nhà văn  đầy “sáng tạo”. Nhưng một số ít các ví dụ điển hình cũng biểu lộ đầy đủ khả năng của ngài theo hướng này. Hơn thế nữa một số ý tưởng nơi cách xử lý phân tích và tổng hợp những điểm giáo lý mang tính chất thâm thuý cao, cách lý luận lô gíc của ngài và tính chất thiên về trừu tượng thẳng thắn đã được thể hiện rất rõ trong Tập Thanh Tinh Đạo, những tính chất đó có thể được rút ra từ những nhận định về cách sắp xếp phân loại giáo lý của  Đức Phật đặc biệt những điểm trong tập Smp. 25tt .

Lối văn xuôi mô tả trong tập Bāhiranidāna có thể được xếp vào loại tuyệt nhất trong văn chương Pāli và so sánh rất thuận lợi với những áng văn xuôi tuyệt tác trong văn chương Ấn Độ ta có thể công bổ đặc tính này không những do tính sáng sủa, đơn giản và đầy sinh lực nhưng còn do tính chất trình bày vô cùng hiệu quả trong khi đó cùng một lúc lại gắn bó rất gần gũi với chủ đề chính, là tập Nguồn Gốc  Giới luật (Nidāna). Cho dù vai trò là một người chú giải, Buddhaghosa đã tự để lộ mình là một cây bút viết văn xuôi mô tả kiệt xuất. Điều này được chứng tỏ đầy đủ bằng phong cách trong đó các trích đoạn của Tissa (Smp. 39tt) Nigrodha (Smp. 47tt) Tissa, anh trai của nhà vua Asoka (56tt.) Việc truyền bá giáo pháp các thị trấn biên thuỳ (Smp. 65tt.), Cây Đại Bồ Đề (smp. 97tt.) v.v…đã được  trình bày.

Toàn bộ các tình tiết này đã được kết lại một cách rất tài tình trong bài mô tả chính thức với thoải mái tối đa và không thấy nơi bất kỳ giai đoạn nào các tình tiết này bị gò ép hay khó khăn cả. Ngài thực hiện tham khảo tiếp theo một lời công bố cổ xưa bằng cách đưa ra chi tiết để chứng minh điều đó, td như trong đoạn Smp. 18, Handa mayaṃ āvuso dhammañ ca vinayañ ca saṅgāyāma…trong đoạn Smp. 4; Smp. 48; Rājā sīhapañjare ṭhito… ngay trên đầu đoạn Smp. 47, v.v…ngài còn dùng đến thủ thuật đơn giản này thêm nữa bằng cách nại đến cái gọi là văn phong “đoạn dẫn” (flashback) để giải thích một biến cố hay giới thiệu một nhân vật mới trong đoạn mô tả, td như Smp. 47. 56, 97tt. v.v…ngài thực hiện như vậy để tránh một mục xen vào bài mô tả chính và thường nối kết với một tình tiết bằng một đoạn giới thiệu hiểu theo cách thông thường, Tatrāyaṃ ānupubbīkathā (Smp. 47. 64), Ko panāyaṃ Nigrodho nāma (Smp. 47), Tissatthero nāma ma yo vā so vā (Smp. 56) v.v… So với những chuỗi sự kiện trong đó các biến cố được ghi lại trong các tập Biên Niên Sử, cách mô tả một chuyện kể như vậy xem ra không bình thường, nhưng có điều đáng nghi không hiểu đó có phải là điều đặc biệt đối với ngài Buddhaghosa hay không, vì sự khác biệt giữa tập Samantapāsādikā và các tập biên niên sử có thể phản ánh một vài sự kiện mang đầy ý nghĩa liên quan đến nguồn gốc văn chương. Như đã khẳng định ở trên hai tập Samantapāsādikā và biên niên sử được rút ra từ hai nguồn hoàn toàn khác nhau (không nhất thiết phải độc lập lẫn nhau) và bài tường thuật chính trong tập Samantapāsādikā rất có thể đã phản ánh phần giới thiệu tập Chú Giải Giới luật (Vinayaṭṭhathā) trong tập chú giải viết bằng tiếng Sinhale (Sīhaḷa Aṭṭhakathā) trong khi đó tư liệu bổ xung rút ra từ nguồn Porāṇa, gồm cả những tư liệu các tập biên niên sử dựa trên đó, lại được ghi lại trong bài tường thuật như là thông tin thêm vào sự khác biệt về nguồn gốc rất có thể đã là một cách giải thích hợp lý thuộc văn phong “đoạn dẫn” trong tập Bāhiranidāna. Mặt khác, ta có thể nói tương tự như vậy rằng  không có gì mới trong kỹ thuật này và nếu quay trở lại đến tận Kinh Pāli. Td như  Bhūtapubbaṃ bhikkhave imissā yeva Sāvatthiyaā. . . .v.v… và cũng là quy luật trong văn chương Kinh Bản Sanh trong vịêc tường thuật lại các chuyện kể quá khứ, td như atītaṃ āhari. Cho dù có thuộc nguồn nào đi chăng nữa cách thuật lại một chuyện kể trong một chuỗi các sự kiện (sequence) không thể được coi như là yếu tố cơ bản trong tập Bāhiranidāna. Ngược lại các tập biên niên sử lại cố gắng duy trì nó càng nhiều càng tốt. Việc quan tâm hiếm hoi được tập trung vào đó trong tập Bāhiranidāna ngay cả khi còn có khuynh hướng khiến cho độc giả phải lúng túng. Thí dụ như, câu chuyện huyền thoại về Mãng xà vương Kāla xuất hiện rất sớm trong bài tường thuật (Smp. 45) và ta cũng thấy đề cập đến chi tiết nhà vua Asoka đảnh lễ tượng Phật chính ông đã đặt tạc. Trong khi đó việc cải đạo của ông được nói đến sau này. (Smp. 48)  Vịêc nhà vua Asoka nhắc đến Phật Pháp với từ “ovāda” trong cuộc đàm đạo với trưởng lão Nigrodha trước khi ông được quy ngưỡng phật giáo, mặt khác lại có ý gây ấn tượng cho đọc giả về tính chất chưa quen biết gì với Phật giáo cả. (xin đọc Smp. 81, số. 2 để biết những ví dụ cụ thể song hành. Tuy nhiên, liên quan đến cách sắp xếp theo niên đại tập Bāhiradāna lại tỏ ra rất phù hợp td. như xin đọc những chi tiết theo niên đại thuộc triều đại Asoka được ghi lại trong Smp. 52, 53, 56, 74. v.v…

Ta thấy tập Bāhiranidāna tuân thủ văn phong bình thường của các bài viết thuộc Kinh Pāli khi tác phẩm này đặt các đoạn kệ rải rác xen lẫn với  các đoạn văn vần, nhiều đoạn kệ này giống như các đoạn kệ xuất hiện trong Dīpavaṃsa và Mahāvaṃsa. Nhưng chỉ đồng nhất trong một ít trường hợp mà thôi. Những đoạn còn lại phải được truy tích từ những đoạn kệ Pāli trong tập Parāṇas. Như đã đề cập đến ở trên, trong đó những tác phẩm này đã được sát nhập vào hoặc dưới dạng các đoạn kệ đó đã xuất hiện trong nhiều phiên bản khác nhau trong tập chú giải (Aṭṭhakathā) hay với một chút thay đổi để thích hợp với văn chương.

Một khía cạnh khác nữa, tập Bāhiranidāna chia sẻ với toàn bộ các tác phẩm của ngài Buddhaghosa chính là cách ám chỉ thường xuyên  đến các  bản văn Kinh Phật Palī và những trích đoạn từ đó để chứng minh những khẳng định của ngài  đặc biệt trong các nhận định mang tính chất dẫn giải bình luận tôn giáo ., td như Smp. 28.

Trong những nội dung tập Bāhiranidāna có nhiều chủ để rất hấp dẫn trong đó chủ đề quan trọng nhất chính là những bài tường thuật về ba kỳ kết tập kinh điển và những truyền thống gắn liền với các kỳ đại hội đó. Do chủ đề này đã được xử lý một cách thấu đáo từ nhiều góc độ khác nhau, diễn đạt  những quan điểm mâu thuẫn với nhau. Ta không có ý đề cập đến ở đây, cũng không thực hiện bất kỳ nhận định nào mang tính chất gây tranh cãi như đã được thực hiện trong các chú thích cho cuốn nguồn gốc Tạng luật (Inception of Discipline).  Những thông tin tình cờ được ghi lại trong các bài tường thuật này đòi hỏi một cách nghiên cứu kỹ lữơng hơn là chỉ thực hiện điều khái quát về chính các Đại Hội này, lại là những chủ đề quá rộng để được bàn đến ở đây. Một ít nhận định đã được thực hiện trong các chú thích vẻ cách sắp xếp truyền thông các giáo lý (Smp. 16tt). Tính chất liên tiếp các trưởng lão tại ấn độ (Smp. 35) và tại Đảo quốc Tích lan (Ceylon) (Smp. 63) là một phước điền vô cùng hiệu quả cho việc trạch pháp, và  công việc các học giả đã thực hiện từ trước tới giờ trong lãnh vực này đòi hỏi phải đựợc tiếp tục thực hiện một cách kiên trì để cho Acariyaparamaparā có thể mang lại  một số ý nghĩa thay vì chỉ tồn tại như là một danh sách thuần tuý mà thôi. Những quan sát về những liên đới hữu hảo giữa nhà vua Asoka với Phật Giáo dưới ánh sáng những dữ liệu trong các nguồn tư liệu Pāli có thể giúp đọc giả định giá lại cái gọi là  những Chỉ Dụ “Phật Giáo” của nhà vua Asoka từ bấy lâu nay đã bị quên lãng; khuynh hướng cho đến nay phải xử lý những chỉ dụ và các nguồn Kinh Pāli như là những điều tách biệt khỏi chiếu rọi ánh sáng lẫn cho nhau. Một cuộc nghiên cứu tính chất lịch sự các sứ mệnh được sai đi sau Đại hội Kiết tập Kinh điển Phật giáo lần thứ ba và mối tương quan của nhà vua Asoka với các vương quốc mà “pháp giới” đã được mở rộng cũng là điều cần thiết. Những tương quan của nhà vua với Đảo quốc Tích lan (Ceylon) cũng đòi hỏi kháo sát tỷ mỷ, đặc biệt là Tissa đã sai  hai phái đoàn lên đường hoằng pháp, lần phong chức vua thứ hai. Đặc biệt là việc chấp nhận tước hiệu Mauryan Devāmpiya. Mà sau này nhiều vị vua Sinhale đều chấp nhận (xin đọc Epigraphia Zeylanica.  I, 142).  Đây không phải là  mục tiêu của một cuốn sách thuộc loại này có thể xử lý được đầy đủ bất kỳ một trong những vấn đề.

N.A. Jayawickrama

Phân khoa Pāli và Văn Minh Phật Giáo,

Đại Học Tích lan (Ceylon),

Peradeniya.

Tháng giêng,  1962


 

[1]. Những nét riêng biệt của thổ ngữ có thể được tìm thấy nhằm mục đích so sánh ngay cả trong tiếng Sinhale được  viết trong các  câu ghi khắc trên bia và trong tiếng Shinhale dùng trong văn chương cổ đại tượng trưng cho giai đoạn phát triển Apabhramsa trong tiếng Ấn Độ Arian.

[2] . Xin đọc như trên.,79, để biết được bản tóm lược những nguyên nhân dẫn đến việc ghi lại Kinh Pāli (Canon).

[3] . Theo lời ghi cuối sách Smp. đã được hoàn tất vào năm thứ hai mươi mốt triều đại của ngài và  kết thúc trong chính một năm đó. – Mhv. xxxii, 247.

[4] . Chú giải Jayasamvạcchare, Smp. PT, 1416.

[5] . Những giới hạn áp đặt lên ngài đã được  phân tích trong PLC. 93tt.

[6] . UCR, xvii. 1-2, tr. 2.

[7] . Xin đọc  bn chuù daãn dành cho phiên bản tiếng Sinhale viết về tập Smp. Simon Hewavitarne Bequest Series.

[8] . Đối chiếu đoạn kệ này với đoạn kệ tiếp theo sau đó và cũng đối chiếu với lời khẳng định trong Kinh Paramatthadīpanī (Pañcappakaranakathā)như sau:

                      Yathā rakkhimsu porānā surājāno that’ev’imam

                      Jājā rakkhatu dhammena attano va pajam pājam.

[9]  Xin đọc PLC. 96.

[10] . Xin đọc PlC. 87.d

[11] . Các trang, 50, 51, 54, 58, 62, 110, 159, 168, 193.

[12] . Xin đọc Vide PLC. 98.

[13] KhA.. SnA.. DhA.,  Jâtaka.

[14]. Ấn bản Smp. Sinh. Tr. 179. đề cập đến một kinh Bản sanh cũng với bốn kinh phật Pāli khác viết bằng văn vần.

[15] . Cả hai tạp Chú giải Mahāvasa và chú giải viết bằng tiếng Sinhale về tam Tạng đều được đặt rải rác với các đoạn kệ Pāli. Xin đọc Malalasekera, Mhv. ikā, I. lvi tt.

                                                       
 1  2  3  4  5 » Trang cuối Phần 1/6

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang