Bài kinh hộ trì Atānātiya

phatgiaonguyenthuy.com In trang

Làm sao để né ÁC PHI NHÂN? Trong Trường Bộ Kinh, bài Atānātiya được lấy làm kinh paritta được tụng đọc để có được sự hộ trì, tránh khỏi những ác phi nhân quấy phá. Trong phần chánh kinh, Đức Thế Tôn tuyên bố: Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.

Phần chánh kinh tiếng Việt:
Kinh A-sá-nang-chi
(Atānātiya sutta)

Như vậy tôi nghe.

  1. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nàga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.
  2. Sau khi ngồi xuống một bên, đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn, Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atànàtiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để học được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tại họa.

Thế Tôn im lặng chấp thuận.

  1. Rồi đại vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atànàtiya Hộ Kinh:

Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),

Sáng suốt và huy hoàng!

Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)

Có lòng thương muôn loài!

Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),

Thanh tịnh, tu khổ hạnh!

Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),

Vị nhiếp phục ma quân!

Ðảnh lễ Konàgamana, (Câu-na-hàm)

Bà-la-môn viên mãn!

Ðảnh lễ kassapa (Ca-diếp),

Vị giải thoát muôn mặt!

Ðảnh lễ Angirasa,

Vị Thích tử huy hoàng,

Ðã thuyết chơn diệu pháp,

Diệt trừ mọi khổ đau!

Ai yểm ly thế giới,

Nhìn đời đúng như chơn,

Vị ấy không hai lưỡi,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

Cùng đảnh lễ Gotama,

Lo an lạc Nhơn Thiên

Trì giới đức viên mãn!

Bậc vĩ đại thanh thoát!

4.

Mặt trời sáng mọc lên,

Vầng thái dương tròn lớn,

Khi mặt trời mọc lên,

Ðêm tối liền biến mất.

Khi mặt trời mọc lên

Liền được gọi là ngày.

Biển cả hải triều động,

Như hồ nước thâm sâu.

Ở đấy mọi người biết,

Chính biển cả hải triều,

Dân chúng gọi phương ấy

Là phương Purimà, (phương Đông).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương danh xưng,

Chư loài Càn-thát-bà,

Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương).

Càn-thát-bà hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

5.

Họ được gọi Peta,

Nói hai lưỡi, sau lưng,

Sát sanh và tham đắm,

Ðạo tặc và man trá,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Dakkhinà (phương Nam).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương, danh xưng,

Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)

Danh gọi Virùlhaka (Tỳ-lâu-lặc).

Kumbhanda hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

6.

Mặt trời sáng lặn xuống,

Vầng thái dương trong lớn.

Khi mặt trời lặn xuống.

Ban ngày liền biến mất.

Khi mặt trời lặn xuống,

Liền được gọi là đêm.

Biển cả hải triều động,

Như hồ nước thâm sâu,

Ở đây mọi người hết,

Chính biển cả hải triều,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Pacchimà (phương Tây).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương, danh xưng.

Chủ các loài Nàgà,

Danh Virùpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).

Loài Nàgà hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

7.

Bắc Lô Châu (Uttarakurù) an lạc

Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.

Tại đấy, mọi người sống

Không sở hữu, chấp trước.

Họ không gieo hột giống,

Không cần phải kéo cày.

Loài người được thọ hưởng

Lúa chín khỏi nhọc công.

Loại gạo không cám trấu,

Thanh tịnh có hương thơm,

Ðược nấu chín trên đá,

Và họ ăn gạo ấy.

Chỉ cỡi loài bò cái,

Ði phương này phương khác.

Chỉ dùng các loài thú

Ði phương này phương khác.

Dùng xe đàn bà kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe đàn ông kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe con gái kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe con trai kéo,

Ði phương này phương khác.

Họ lên trên các xe,

Ði khắp mọi phương hướng,

Ðể phục vụ vua mình.

Họ cỡi xe voi kéo,

Xe ngựa, xe chư Thiên,

Ðối với vua danh xưng,

Có lâu đài, có kiệu,

Nhiều thành phố của vua,

Ðược xây giữa hư không.

Các thành Atànàtà,

Kusinàtà, Parakusinàtà, Nàttapuriyà, Parakusitannàtà

Kapìvanta thuộc phía Bắc,

Và các thành phố khác,

Như Janogha, Navanavatiya,

Ambara, Ambaravatiya,

Alakamandà,

Là kinh đô của vua,

Chỗ Kuvera ở.

Vị vua đáng kính này,

Kinh đô tên Visànà.

Do vậy Kuvera,

Ðược danh Vessavana.

Các sứ quán được tên:

Tatolà, Tattalà, Tatotalà,

Ojasi, Tejasi, Tatojasi,

Vua Sùra, Arittha, Nemi.

Ðây có vùng nước lớn,

Từ đây mưa đổ xuống,

Ðược tên Dharanì.

Tại đây mưa đổ xuống,

Ðược tên Dharanì.

Tại đây có giảng đường,

Tên Bhagalavati,

Chỗ Dạ-xoa tập hội.

Tại đây nhiều cây trái,

Trên cây chim tụ họp,

Các loại công, loại cò,

Diệu âm chim Kokilà,

Ở đây, chim Jiva,

Kêu tiếng "Hãy sống đi",

Và tiếng chim kêu lên,

"Hãy khởi tâm thích thú".

Nhiều loại chim sai khác,

Ở rừng và ở hồ,

Với con vẹt ồn ào,

Và con chim Mynah,

Các loại chim thần thoại,

Gọi là Dandamànavakà.

Hồ sen Kuvera,

Chiếu sáng tất cả trời,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Uttarà (phương Bắc).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương danh xưng,

Chủ các loài Dạ-xoa,

Ðược gọi Kuvera.

Các Dạ-xoa hầu quanh,

Hưởng múa hát của chúng.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

  1. Tôn giả, Hộ Kinh Atànàtiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atanatiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nàga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả, vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng. Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.

  1. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha - cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
  2. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sự, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:

Inda, Soma, và Varuna,

Bhàradvaja, Pajàpati,

Candana, Kàmasettha,

Kinnughandu, Nighandu,

Panàda và Opamanna,

Devanita và Màtali,

Cittasena và Gandhabba.

Vua Nala, Janesabha,

Sàtàgira Hemavata,

Punnuaka, Karatiya, Gula,

Sivakat và Mucalinda

Vessàmitta, Yugandhara,

Gopàla và Suppagedha,

Hirì, Settì và Mandiya,

Pancàla Canda, Alavaka,

Pajjunna, Sumana, Sumukha,

Dadhimukha Mani Mànicara, Dìgha,

Atha và Serissaka.

Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".

  1. Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.

- Ðại vương, Ðại vương hãy làm điều gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

Rồi bốn vị đại vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.

Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.

  1. Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị đại vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa:

"Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi)

Sáng suốt và huy hoàng;

Ðảnh lễ đấng Sikhi, (Thi-khí)

Có lòng thương muôn loài...

Này Tôn giả, đó là hộ kinh Atānātiya che chở, hộ trì, ... (như trên) ... rồi biến mất tại chỗ".

  1. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiya này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiya này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chánh kinh Pāli:

 

Audio:

Có nhiều cách tụng. Khi tụng đọc hộ trì, chỉ lấy những đoạn kệ tụng trong bài chứ không tụng hết cả bài. Sau đây là các cách tụng được sưu tầm từ Miến , Thái, Việt Nam:

1. 

Vipasissa namatthu

Cakkhumantassa sirīmato

Sikkhissapi namatthu

Sabbabhūtānukampino

Vessabhussa namatthu

Nahātakassa tapassino

Namatthu kakusandhassa

Mārasenappamaddino

Konāgamanassa namatthu

Brāhmaṇassa vusīmato

Kassapassa namatthu

Vippamuttassa sabbadhi

Aṅgīrasassa namatthu

Sakyaputtassa sirīmato

Yo imaṃ dhammamadesesi

Sabbadukkhāpanūdanaṃ.

 

Ye cāpi nibbutā loke

Yathābhūtaṃ vipassisuṃ

Te janā apisuṇā

Mahantā vītasāradā

Hitaṃ devamanussānaṃ

Yaṃ namassanti gotamaṃ

Vijjācaraṇasampannaṃ

Mahantaṃ vītasāradaṃ

 

Ete caññe ca sambuddhā anekasatakotiyo sabbe buddhā asamasamā sabbe buddhā mahiddhikā

Sabbe dasabalūpetā vesārajjehupāgatā sabbe te paṭijānanti āsabhaṇṭhānamuttamaṃ.

 

Sīhanādaṃ nadantete parisāsu visāradā brahmacakkaṃ pavatteti loke appaṭivattiyaṃ

Upetā buddhadhammehi aṭṭhārasahi nāyakā

Dvattiṃsalakkhaṇūpetā sītyānubyañjanādharā.

 

Byāmappabhāya suppabhā sabbe te munikuñjarā buddhā sabbaññuno ete sabbe khīṇāsavā jinā mahappabhā mahātejā mahāpaññā mahabbalā mahākāruṇikā dhīrā sabbesānaṃ sukhāvahā.

 

Dīpā nāthā patiṭṭhā ca tāṇā leṇā ca pāṇinaṃ

Gati bandhū mahassāsā saraṇā ca hitesino.

Sadevakassa lokassa sabbe te parāyanā tesāhaṃ sirisā pāde vandāmi purisuttame.

Vacasā manasā ceva vandāmete tathāgate sayena āsane ṭhāne Gamane cāpi sabbadā sadā sukhena rakkhantu buddhā santikarā tuvaṃ tehi tvaṃ rakkhito santo Mutto sabbabhayena ca.

Sabbarogāvinīmutto sabbasantāpavajjito sabbaveramatikkanto nibbuto ca tuvaṃ bhava

Tesaṃ saccena sīlena khantimettābalena ca tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca

Dakkhiṇasmiṃ diābhāge santi nāgā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

Puratthimasmiṃ disābhāge santi bhūtā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca dakkhiṇasmiṃ diābhāge santi devā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

Pacchimasmiṃ disābhāge santi nāgā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca uttarasmiṃ disābhāge santi yakkhā mahiddhikā tepi yakkhā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

 Purimadisaṃ dhatarattho dakkhiṇena viruḷhako pacchimena virūpakkho kuvero uttaraṃ disaṃ.

 Cattāro te mahārājā lokapālā yasassino tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

 Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā devā nāgā mahiddhikā tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

 Iddhimanto ca ye devā vasantā idhi sāsane tepi tumhe anurakkhantu ārogyena sukhena ca.

 Sabbītiyo vivajjhantu sabbarogo vinassatu mā te bhavantvantarāyo sukhī dīghāyuko bhava

  Abhivādanasīlissa niccaṃ vuḍḍhāpacāyino cattāro dhammā vaḍḍhanti āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ.

Aṭānāṭiyasuttaṃ niṭthitaṃ.

2. ppasannehi nathassa,
sasane sadhusammate;
amanussehi candehi,
sada kibbisakaribhi.

Demons (in-human beings) and others who have no faith 
in the well-esteemed Dispensation of the Buddha always commit evil.

Parisanam catassannam,
ahimsaya ca guttiya;
yam desesi mahaviro,
parittam tam bhanama he.

The Great Courageous One preached this sutta 
so that it would protect them from dangers and no harm would fall 
on the four social classes of people. 
Oh, noble ones! Let us recite the sutta.

Vipassissa ca namatthu,
cakkhumantassa sirimato;
sikkhissapi ca namatthu,
sabbabhuta-nukampino.

Homage to the Vipassi Buddha, 
possessed of the eye of wisdom and glory; 
homage to Sikhi Buddha, 
the great compassionate towards all beings.

Vessabhussa ca namatthu,
nhatakassa tapassino;
namatthu kakusandhassa,
marasena-pamaddinno.

Homage to Vessabhu Buddha who has washed away all the defilements 
and who possesses good ascetic practices. 
Homage to Kakusandha Buddha 
who defeated the army of Mara (evil one).

Konagamanassa namatthu,
brahmanassa vusimato;
kassapassa ca namatthu,
vippamuttassa sabbadhi.

Homage to Konagamana Buddha 
who had eradicated all evil and lived the noble life. 
Homage to Kassapa Buddha 
who was freed from all defilements.

Angirasassa namatthu,
sakyaputtassa sirimato;
yo imam dhammam desesi,
sabbadukkha-panudanam.

Gotama the Buddha preached this Dhamma 
which removed all suffering. 
Homage to this son of Sakyas (Gotama Buddha) 
from whose body issued rays of light and who was glorious.

Ye capi nibbuta loke,
yathabhutam vipassisum;
te jana apisunatha,
mahanta vitasarada.

In this world, those who have extinguished 
all the flames of passions and have thoroughly seen things as they really are –
these persons being Arahants never slander. 
They are great and free from fear.

Hitam deva manussanam,
yam namassanti gotamam;
vijjacaranasampannam,
mahantam vitasaradam.

They pay homage to Gotama Buddha 
who works for the benefit of gods and men, 
who is endowed with wisdom and good conduct, 
who is great and free from fear.

Ete canne ca sambuddha,
Aneka satakotiyo;
sabbe buddha samasama,
sabbe buddha mahiddhika.

Those seven Buddhas and the other hundreds of crores of Buddha- 
all these Buddhas are equal only to the Former Ones, 
all these Buddhas have great power.

Sabbe dasa balupeta,
vesarajjeh-upagata;
sabbe te patijananti,
asabham thana muttamam.

All these Buddhas are endowed 
with ten kinds of strength and wisdom of fearlessness. 
All these Buddhas proclaim that 
they possess the state of Omniscience.

Sihanadam nadante-te,
parisasu visarada;
brahma cakkam pavattenti,
loke appativattiyam.

These Buddhas, being fearless among the eight kinds of audience, 
roar the lion’s roar, and they set in motion the Wheel of Dhamma 
in the world without turning back.

Upeta buddha dhammehi,
attharasahi nayaka;
battimsa lakkhanupeta,
sita nubyanjana dhara.

These leaders of the world are endowed 
with eighteen special qualities of virtues in the Buddhas. 
They possess thirty-two major marks 
and eighty minor marks of ‘a great man’.

Byama ppabhaya suppabha,
sabbe te muni kunjara;
buddha sabbannuno ete,
sabbe khinasava jina.

All these Supreme Sages shine with surrounding halos; 
all these Buddhas are Omniscient. 
All these Buddhas have extinguished 
the defilements and they are conquerors.

Mahapabha mahateja,
mahapanna mahabbala;
mahakarunika dhira,
sabbesanam sukhavaha.

These Buddhas possess a radiant light, great power, 
great wisdom and great strength, 
great compassion and steadfast concentration. 
They fulfill the happiness of all beings.

Dipa natha patittha ca,
tana lena ca paninam;
gati bandhu mahessasa,
sarana ca hitesino.

They are the islands for beings, the lords, 
the supporting ground, the protectors, 
the shelters, the havens, the friends, 
the glorious saviours, the refuges, 
and they seek the welfare of all beings.

Sadevakassa lokassa,
sabbe ete parayana;
tesa'ham sirasa pade,
vandami purisuttame.

All these Buddhas are the gracious refuges for the world of gods and men. 
I respectfully bow my head at the feet of these Supreme Ones.

Vacasa manasa ceva,
vandam-ete tathagate;
sayane asane thane,
gamane capi sabbada.

I pay homage to these Accomplished Ones 
by words and by thoughts, 
whenever I am lying down 
or sitting or standing or walking.

Sada sukkhena rakkhantu,
buddha santikara tuvam;
tehi tvam rakkhito santo,
mutto sabbabhayehi ca.

May the Buddhas who are peacemakers 
protect you always so that you are happy. 
Being protected by them, 
may you be free from all dangers.

Sabbaroga vinimutto,
sabbasantapa vajjito;
sabbaveram-atikkanto,
nibbuto ca tuvam bhava.

May you be free from all diseases, 
may you be free from worry and anxiety. 
May you overcome all enemies and 
may you be peaceful.

Tesam saccena silena,
khanti metta balena ca;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

By the power of their truthfulness, 
virtue, patience and loving-kindness, 
may those Buddhas protect us 
so that we are free from all diseases and be happy.

Puratthimasmim disabhage,
santi bhuta mahiddhika;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

There are in the eastern direction divine beings called Gandhabbas 
who have great power. 
May they also protect us 
so that we are free from all diseases and be happy.

Dakkhinasamim disabhage,
santi deva mahiddhika;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

There are in the southern direction divine beings called Kumbhandas
who have great power. 
May they also protect us so that 
we are free from all diseases and be happy.

Pacchimasmim disabhage,
santi naga mahiddhika;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

There are in the western direction Nagas (divine dragons) who have great power. 
May they also protect us so that we are free from all diseases and be happy.

Uttarasmim disabhage,
santi yakkha mahiddhika;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukkhena ca.

There are in the northern direction divine beings called Yakkhas who have great power. 
May they also protect us so that we are free from all diseases and be happy.

Puratthimena dhatarattho,
dakkhinena virulhako;
pacchimena virupakkho,
kuvero uttaram disam.

There is Dhatarattha in the east, Virulhaka in the south, 
Virupakkha in the west, and Kuvera in the north.

Cattaro te maharaja,
lokapala yasassino;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

These four divine Kings are the guardians of the world with the large retinues. 
May they also protect us so that we are free from all diseases and to be happy.

Akasattha ca bhumattha,
deva naga mahiddhika;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

There are mighty deities and dragons, 
residing in the sky and on the earth. 
May they also protect us so that we are free from all diseases and be happy.

Iddhimanto ca ye deva,
vasanta idha sasane;
tepi amhe-nurakkhantu,
arogena sukhena ca.

There are deities of great power who live within the range of the Buddha’s Dispensation. 
May they also protect us so that we are free from all diseases and be happy.

Sabbitiyo vivajjantu,
soko rogo vinassatu;
ma te bhavantv-antaraya,
sukhi dighayuko bhava.

May all calamities be away from you. 
May sorrow and disease be destroyed. 
May you never face any dangers. 
May you have happiness and a long life.

Abhivadana silissa,
niccam vuddhapacayino;
cattaro dhamma vaddhanti,
ayu vanno sukham balam.

For those, who are endowed with a pious culture 
and are always respecting the elders, 
these four gifted things grow: 
longevity, beauty, happiness and strength.

Atanatiya Suttam Nitthitam.
Here ends the Discourse on the Protection at the Divine City of Atanata.



for protection against evil spirits, and
gaining health and happiness.
[eat merely vegetable and atthasila is recommended].

3.

4. Chanting by the Bhikkhus (Monks) of the Abhayagiri Buddhist Monastery. - Redwood Valley, California, US.