Ba năm nhập thất

Bài thơ Đường Luật “thất ngôn bát thập cú” này, dành để trân tặng, quý tặng chư vị đạo hữu, thân hữu, thi hữu, văn hữu, bằng hữu… như một lời tri tạ, bỏ bút trước khi ẩn tích – từ ngày 16, tháng giêng, Đinh Dậu, 2017 đến ngày 16, tháng giêng, Canh Tý, 2020

Ba năm nhập thất

Hai lần “nhập thất” ở hai nơi

Một ở làng quê, một núi đồi

Đúng hẹn lại lên, ba tuế nữa

Đến kỳ phải ẩn, bảy tư rồi

Bệnh, già, thần chết không tha mạng!

Danh, lợi, ông câu chẳng chán mồi?

Bao tủ sách, kinh, không đọc nữa

Mấy gùi bút, giấy, quẳng đi thôi

Nhục vinh, chèo quẫy, tay run mỏi

Phải trái, nghĩ lung, óc rối bời

Lá trúc qua sông, câu chữ đắm!

Bè lau vượt biển, tứ từ trôi!

Cửa mây, khoá mãi, mây ngăn chướng

Động đá, khép hoài, đá hoá vôi!

Gắng đọc con tâm, không luỵ nghĩa

Cố tìm cái thực, chẳng mê lời

Năm canh, niệm giác, xem dê, khỉ

Sáu khắc, tỉnh không, ngắm tiết, thời

Thiền toạ tê chân, đau chớ ráng!

Kinh hành mỏi cẳng, mệt bèn ngơi!

Tự do chốc lát, miền trong trẻo

Giải thoát khắc giây, cõi rạng ngời

Cho chú lằn nâu, ti kẹo, bánh

Tặng đàn kiến đỏ, chút cơm, xôi

Mắt nghe, rõ rệt, làn mi động

Tai thấy, mơ hồ, hạt móc rơi

Tham vọng trong ngoài, đều lặng tiếng

Mê cuồng đây đó, thảy im hơi

Rừng “tư”, khám phá, “lòi” ma, quỷ

Núi “hoặc”, điều nghiên, “chộ” ngợm, người

Luống thẹn tròn đầu, dây tóc bẩn

Ngùi thương vuông áo, lấm thân hôi

Xênh xang xe ngựa, tham càng đắm

Hý hửng sang giàu, dục chẳng vơi

Đã sợ gieo nhân, ươm giống loại?

Còn lo thọ quả, cấy mầm phôi?

Vài giây thả rỗng, nhàn thơ thới

Bao kiếp bíu vin, mỏi rã rời

Ngọ nguậy kiến tri, “đùn mối gặm!”

Lắc lư trí tưởng, “gãy dầm bơi!”

Non sâu, ví lạm, tình sâu ẩn

Mắt trắng, như dường, nghĩa trắng phơi

Đá sỏi, chông gai – tâm cấy hạt

Khổ đau, phiền chướng – tuệ vươn chồi

Ngu nhân, cam chịu thân nhồng, sẻ

Hiền giả, ngùi thương kiếp kiến, ruồi

Mịt mịt, “si” um, mờ thế địa

Rần rần, “hận” cháy, nóng trần khơi

Suy lòng, hạnh nguyện, gìn y bát

Nghĩ bụng, công phu, giữ giống nòi

Nhân lý, chân cùm, đau cổ cẳng

Nghĩa tình, lệ chảy, xót con ngươi

Đâu vui, đâu khổ nên rành rẽ

Chỗ nợ, chỗ duyên phải rạch ròi

Chân dẫm than hồng, ghê lửa bỏng

Tay thò chão nóng, khiếp dầu sôi

Dẫu hay, thế sự luôn thay đổi

Vẫn biết, nhân tâm mãi chuyển dời

Được mất, lo âu, còn thấm thía?

Hơn thua, sợ hãi, đã ngoai nguôi?

Hang mây, gió vẹt lời huyên sáo

Vách đá, trăng dòm miệng đãi bôi

Nên nhớ, xuất gia, thuyền lướt ngược

Chớ quên, tại thế, nước về xuôi

Tháng ngày, ăn uống, mùi chay lạt

Hôm sớm, xả buông, vị mặn mòi

Ác dục chích châm, tiêm mấy nẻo

Độc sân cắn mổ, nhiễm bao đời

Ranh ma, xảo quyệt – tinh chồn cáo

Dõng lực, kiêu hùng – tính hổ voi

Bậc trí nhẹ vui, duyên dứt áo

Kẻ ngu, nặng khổ, nghiệp nằm nôi

Khung xanh, vén khói, trăng cười mỉm

Nước đục, tháo lừ, cá giỡn chơi!

Lưới nhện dày, thưa, trùm đã chặt?

Sợi hồng tơ, mảnh, buộc còn lơi?

Thênh thang giải thoát, lìa tham giận

Bát ngát tự do, đọ biển trời

“Đọc sách” ba năm, ta “diện bích”

Sát-na, mỗi mới, mới tinh khôi!

Tỳ-khưu Giới Đức
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Bình luận
| Mới nhất
Bài viết khác