KHÁI NIỆM TẬP ĐẾ QUA KINH TRUNG BỘ VÀ ABHIDHAMMA

              Vị Bác Sĩ khi không biết bệnh nhân bị bệnh gì thì dù có giỏi như thế nào cũng không thể điều trị khỏi bệnh được nếu không có được trong tay những xét nghiệm Cận Lâm Sàng. Cũng vậy, người bị phiền muộn, lo âu, sợ hãi và đau khổ nhưng không biết lý do tại sao mình bị như vậy thì người ấy không thể nào xóa bỏ phiền não được.

            Tập đế (samudayasacca) là chân lý thứ hai trong bốn chân lý, trình bày về nguyên nhân làm cho chúng ta bị đau khổ, đã được đức Phật khám phá và truyền dạy cho chư thiên, cho Tăng chúng đệ tử cùng nhân loại biết để thực hành theo, nhằm mục đích đoạn trừ khổ đau do chấp thủ đối với năm uẩn bởi sự chi phối của phiền não tham, sân, si và đạt được sự giải thoát . 

           Trình bày khái quát về nguyên nhân sanh đau khổ (tập đế) để mọi người hiểu biết được và tìm ra phương pháp giải quyết thích hợp nhằm mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mình, người thân, bạn bè và rộng hơn nữa là cho tất cả mọi người là điều rất cần thiết.

KHÁI NIỆM TẬP ĐẾ QUA KINH TRUNG BỘ VÀ ABHIDHAMMA

Biên soạn Luận văn : ĐĐ Thích Tinh Tuệ
Học viện PGVN.Tp-HCM
(Chơn Minh sưu tầm & Trình bày lại)
  1. Mở đầu:

             Vị Bác Sĩ khi không biết bệnh nhân bị bệnh gì thì dù có giỏi như thế nào cũng không thể điều trị khỏi bệnh được nếu không có được trong tay những xét nghiệm Cận Lâm Sàng. Cũng vậy, người bị phiền muộn, lo âu, sợ hãi và đau khổ nhưng không biết lý do tại sao mình bị như vậy thì người ấy không thể nào xóa bỏ phiền não được.
            Tập đế (samudayasacca) là chân lý thứ hai trong bốn chân lý, trình bày về nguyên nhân làm cho chúng ta bị đau khổ, đã được đức Phật khám phá và truyền dạy cho chư thiên, cho Tăng chúng đệ tử cùng nhân loại biết để thực hành theo, nhằm mục đích đoạn trừ khổ đau do chấp thủ đối với năm uẩn bởi sự chi phối của phiền não tham, sân, si và đạt được sự giải thoát . 
           Trình bày khái quát về nguyên nhân sanh đau khổ (tập đế) để mọi người hiểu biết được và tìm ra phương pháp giải quyết thích hợp nhằm mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mình, người thân, bạn bè và rộng hơn nữa là cho tất cả mọi người là điều rất cần thiết.
2. Nội Dung:
    1. Định nghĩa tập đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma

Trung-bo 1.jpg (78 KB)
ĐỨC TỪ PHỤ MÙA HẠ THỨ 7 TẠI CUNG TRỜI ĐẠO LỢI

Theo Đế Phân Biệt Tâm Kinh (saccavibhaṅgacittasutta) - số 141, có định nghĩa về tập đế (samudayasacca) hay khổ tập thánh đế (dukkhasamudaya-arisacca) như sau: “Này chư Hiền, thế nào là khổ tập Thánh Đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này chư Hiền, như vậy gọi là khổ tập Thánh Đế.” [6, 3, tr.472].Định nghĩa này cho thấy rằng, ái hay tham ái (taṇhā) là tập đế (samudayasacca), trong đó có ba loại: dục ái (kāmataṇhā), hữu ái (bhavataṇhā) và vô hữu ái (vibhavataṇhā).

Trong Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) - bộ thứ hai của Tạng Abhidhamma có khá nhiều định nghĩa về tập đế, người viết chỉ trích dẫn một trường hợp tiêu biểu:“Ái, các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba căn thiện cảnh lậu, các pháp thiện cảnh lậu. Đây gọi là khổ tập.” [14, 1, tr.175-176]. Như vậy theo Tạng Abhidhamma, không phải chỉ có ái (taṇhā) là tập đế (samudayasacca) mà các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba căn thiện cảnh lậu và các pháp thiện cảnh lậu cũng được gọi là tập đế (samudayasacca).

  1. Phân tích tập đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma:
    2.1. Phân tích tập đế theo Kinh Trung Bộ
    Theo định nghĩa của Đế Phân Biệt Tâm Kinh (saccavibhaṅgacittasutta) - số 141, tập đế (samudayasacca) là ba loại ái: dục ái (kāmataṇhā), hữu ái (bhavataṇhā) và vô hữu ái (vibhavataṇhā). Tuy nhiên trong một số bài kinh khác của Kinh Trung Bộ, ái được trình bày có nhiều loại khác nhau như:
    - Kinh Chánh Tri Kiến (Sammādiṭṭhisutta) - số 9 trình bày có sáu loại ái: “Chư Hiền, có sáu loại ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái…” [4, 1, tr.51]
    - Kinh Sáu Sáu (Chachakkasutta) - số 148 cũng trình bày về sáu loại ái với tên gọi là sáu ái thân, như có đoạn đề cập: “Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái…”.[6, 3, tr. 525] Ở trường hợp tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và các xúc, ý và các pháp cũng được trình bày tương tự.
    Ngoài Kinh Trung Bộ, ái còn được các bộ kinh và các chú giải khác trình bày nhiều loại khác như:
    1. Kinh Phúng Tụng (Saṅgītisutta) - số 33, thuộc Kinh Trường Bộ, có đề cập đến nhiều nhóm ái và mỗi nhóm gồm có ba loại: nhóm một có ba loại là dục ái, hữu ái, vô hữu ái; nhóm hai có ba loại là dục ái, sắc ái, vô sắc ái; nhóm ba cũng có ba loại là sắc ái, vô sắc ái, diệt ái [8, 2, tr. 577-578].
    2. Trong phần Pháp Cú, thuộc Kinh Tiểu Bộ, một bài kệ cho biết rằng ái có đến ba mươi sáu loại như: “Ba mươi sáu dòng ái, Trôi người đến khả ái, Các tư tưởng tham ái, Cuốn trôi người tà kiến.”[7, 1, tr.98]. Ba mươi sáu loại ái trong trường hợp này được Chú giải trình bày y cứ theo đặc tính của ái, tức là y cứ theo mười tám nội xứ ( sáu nội xứ tính theo ba thời là quá khứ, hiện tại, vị lai) và mười tám ngoại xứ (sáu ngoại xứ tính theo ba thời) khiến ái sanh khởi [12, 5, tr178].
    Cách liệt kê ái (taṇhā) ở nhiều hình thức khác nhau cho thấy rằng, Kinh Trung Bộ nói riêng và Tạng Kinh nói chung trình bày tập đế bằng cách phân loại ái nhằm chứng minh cho các học giả, các nhà nghiên cứu thấy được sự phức tạp của nó và chúng ta không dễ dàng nhận ra ái ở mọi góc độ. 
    Để hiểu rõ thêm về ái (tập đế), người viết xin phân tích về ba loại ái tiêu biểu được đề cập trong Đế Phân Biệt Tâm Kinh (Saccavibhaṅgacittasutta) - số 141 như sau:
  1. Dục ái (Kāmataṇhā) sự ham muốn vốn có nguồn gốc từ lòng tham trong việc hưởng thụ ngũ dục gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc, là nguyên nhân làm cho chúng sanh bị đau khổ, sợ hãi và đưa đến sanh y, như trong kinh có bài kệ ngôn: “Dục ái sinh sầu ưu, Dục ái sinh sợ hãi, Ai thoát khỏi dục ái, Không sầu, đâu sợ hãi?.” [10, tr.170]

         Thí dụ:
       + Khi người nam nhìn thấy người nữ có thân hình xinh đẹp liền sanh tâm luyến ái và muốn người nữ này thuộc                quyền sở hữu của mình. Bên cạnh đó, tâm sợ hãi cũng sanh lên vì lo lắng rằng: “Không biết người nữ này đã thuộc
       về quyền sở hữu của ai chưa?” hoặc sợ một người nam khác tranh giành người nữ ấy làm quyền sở hữu riêng, từ đó
        tìm cách triệt hạ đối phương.
      + Trong Tích Trai Nghèo Có Vợ Đẹp, có kể lại câu chuyện vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xứ Kiều-tát-la (Kosala), khi ông           ngự du vòng quanh kinh thành vào ngày quốc khánh và nhìn thấy người vợ đẹp của một chàng trai nghèo. Ông liền         sanh tâm luyến ái rồi tìm cách hại người chồng của cô ta. Chính vì lý do này đã làm cho nhà vua vừa đau khổ, vừa           lo sợ và mệt mỏi, cả đêm suy nghĩ chờ trời sáng để xử tội người chồng của cô gái theo kế hoạch đã bày ra, rồi                chiếm đoạt cô ấy để thỏa mãn tâm ái dục của mình, điều này đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ được sự nguy              hiểm của dục ái [12, 2 tr.256].
     + Trong Kinh Xà Dụ (Alaggadūpamasutta) - số 22 cho biết rằng, việc hưởng thụ ngũ dục mà người phàm phu cho         rằng là niềm vui, là hạnh phúc thực chất chỉ có thoáng qua còn phần lớn là sự đau khổ, phiền muộn, lo âu và nguy           hiểm qua nhiều thí dụ cụ thể, như có đoạn kinh đề cập: “Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như hài cốt..., ví           như một đống thịt..., ví như bó đuốc cỏ khô..., ví như hố than hừng..., ví như cơn mộng … vui ít khổ nhiều, não nhiều       và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn.” [4, 1, tr.130A-130B]

  1. Hữu ái (Bhavataṇhā) là sự luyến ái đối với cảnh giới tái sanh trong tam giới, gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới, vốn cũng xuất phát từ lòng tham. Đặc biệt là sự luyến ái đối với các cõi thiền của những người chứng đắc thiền định, rồi sanh về các cõi thiền tương xứng, có tuổi thọ rất dài và họ nghĩ rằng đây là cảnh giới thường hằng, vĩnh cửu. Chính vì có quan điểm thuộc về tà kiến này, nên các tu sĩ ngoại đạo thời đó khi gặp đức Phật thường chất vấn Ngài bằng những câu hỏi như: “Thế giới là thường trú, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?”, “Thế giới là vô thường, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?”, “Thế giới là hữu biên, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?”, “Thế giới là vô biên, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?...”[5, 2, 483-484].
    Thậm chí một số Tỳ-kheo đệ tử của đức Phật cũng đi đến hỏi Ngài về điều này, như trong Mālunkyā Tiểu Kinh (Cūḷamāluṅkyasutta) - số 63 có đoạn nói về Tỳ-kheo Mālunkya đi đến hỏi Ngài: “Nếu Thế Tôn biết: “Thế giới là thường còn”, Thế Tôn hãy trả lời cho con: “Thế giới là thường còn”. Nếu Thế Tôn biết: “Thế giới là vô thường”. Thế Tôn hãy trả lời cho con: “Thế giới là vô thường”. Nếu Thế Tôn không biết: “Thế giới là thường còn hay Thế giới là vô thường”, thời không biết, không thấy, hãy thẳng thắn trả lời: “Ta không biết, Ta không thấy.””[25, 2, tr.427B].
    Lại nữa, hữu ái (bhavataṇhā) là một trong bảy loại phiền não tùy miên  và được gọi là hữu ái tùy miên. Hữu ái tùy miên này luôn tồn tại ở những chúng sanh phàm phu và khi có điều kiện thích hợp thì nó cùng với những phiền não tùy miên khác - là dục ái tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, vô minh tùy miên - sẽ sanh khởi làm cho chúng sanh bị luân hồi không có điểm dừng, giống như bánh xe đang quay không thể xác định được chỗ nào là điểm khởi đầu hay chỗ nào là điểm kết thúc. Ngược lại, khi hữu ái tùy miên cùng với những phiền não tùy miên này được đoạn trừ tận gốc thì lập tức sự luân hồi của chúng sanh sẽ dừng lại, như có đoạn kinh đề cập: “Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, cắt đứt bảy tùy miên này, phạm hạnh được sống. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nào đoạn tận dục tham tùy miên... vô minh tùy miên, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây sàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai…” [10, 3, tr.286] Chính vì thế nên mới nói rằng hữu ái là một trong những nguyên nhân sanh khổ.
    3. Vô hữu ái (Vibhavataṇhā) là sự khát vọng có liên quan đến đoạn kiến; và cho rằng chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung là hết. Hoặc cho rằng không có quả báu của thiện nghiệp hay ác nghiệp đưa đến tái sanh. Thí dụ như trong Kinh Sandaka (Sandakasutta) - số 76 có đoạn đề cập: “Ở đây, này Sandaka, có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha…”” [5, 2, 515].
    Do bị tà kiến này chi phối, họ thường sống hưởng thụ ngũ dục một cách tham đắm, dễ duôi, dẫn đến việc tạo các ác nghiệp, sanh vào khổ cảnh và không có cơ hội thoát khỏi quyền lực của ác ma. Như Kinh Bẫy Mồi (Nivāpasutta) - số 25 [4, 1, tr.551-559] nói về bốn đàn nai để thí dụ về bốn hạng Sa-môn, Bà-la-môn. Trong đó, đàn nai đầu tiên ăn bẫy mồi một cách mê say nên đã bị người thợ săn bắt. Cũng như hạng Sa-môn, Bà-la-môn - những người có quan điểm sống chỉ để hưởng thụ ngũ dục và cho rằng sau khi chết là hết thì họ sẽ bị ác ma hay thần chết nhấn chìm trong biển khổ trầm luân. Nên mới nói rằng, vô hữu ái cũng là một trong những nguyên nhân sanh khổ.

             2.2. Phân tích tập đế theo Abhidhamma

Dựa theo định nghĩa về tập đế trong Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) của Tạng Abhidhamma, người viết xin chia sẻ phần phân tích bằng cách chia ra thành các ý nhỏ như sau:
- Ái gọi là tập đế. Theo Abhidhamma, ái (taṇhā) là tâm sở tham (lobhacetasika), là một trong 14 tâm sở bất thiện (akusalacetasika), thuộc nhóm tham phần (lotika) gồm: tâm sở tham (lobhacetasika), tâm sở tà kiến (diṭṭhicetasika), tâm sở ngã mạn (mānacetasika). Tâm sở tham (lobhacetasika) khi sanh khởi sẽ sanh cùng với 8 tâm tham (lobhacitta) và những tâm sở đồng sanh với nó, gồm tâm sở tà kiến (diṭṭhicetasika), tâm sở ngã mạn (mānacetasika), 4 tâm sở bất thiện biến hành (akusalasādhāraṇacetasika), 2 tâm sở hôn phần (thīduka), 13 tâm sở tợ tha (aññasamānacetasika) [3, 1, tr.94-95] và tạo ra 7 tâm quả bất thiện vô nhân, trong đó có tâm quan sát thọ xả quả bất thiện vô nhân làm việc tục sinh cho chúng sanh ở cõi khổ, là nhân chính tạo ra nguyên nhân sanh khổ [2, tr.149],.
- Các phiền não còn lại gọi là tập đế. Theo Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), các pháp phiền não là 10 loại phiền não gồm: Tham (lobha), sân (dosa), si (moha), mạn (māna), kiến (diṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā), hôn trầm (thīna), trạo cử (uddhacca), vô tàm (ahirika), vô quý (anottappa) [47, tr.319].
Trong 10 loại phiền não, nếu kể theo pháp thực tính thì tham (lobha) là tâm sở tham, mạn (māna) là tâm sở ngã mạn, kiến (diṭṭhi) là tâm sở tà kiến, thuộc nhóm tâm sở tham phần và chỉ sanh khởi trong 8 tâm tham; sân (dosa) là tâm sở sân, thuộc nhóm tâm sở sân phần và chỉ sanh khởi trong 2 tâm sân; hoài nghi (vicikicchā) là tâm sở hoài nghi và chỉ sanh khởi trong tâm si câu hành xả tương ưng hoài nghi; hôn trầm (thīna) là tâm sở hôn trầm, thuộc nhóm tâm sở hôn phần và chỉ sanh khởi trong các tâm bất thiện hữu trợ, như 4 tâm tham hữu trợ và 1 tâm sân hữu trợ; si (moha) là tâm sở si, trạo cử (uddhacca) là tâm sở trạo cử, vô tàm (hiri) là tâm sở vô tàm, vô quý (anottappa) là tâm sở vô quý, thuộc nhóm tâm sở si phần và cũng là nhóm tâm sở bất thiện biến hành, sanh khởi trong tất cả 12 tâm bất thiện.
Do 10 phiền não này sanh khởi cùng với các tâm bất thiện và tạo ra 7 tâm quả bất thiện vô nhân, trong đó có tâm quan sát thọ xả quả bất thiện vô nhân làm việc tục sinh, tạo sự luân hồi nên chúng mới được gọi là tập đế.Lại nữa, trong 10 phiền não, khi hành giả tu tập chứng đắc được ba thánh quả bậc thấp thì chúng sẽ bị đoạn trừ tận gốc từng phần và cho đến khi chứng đắc được A-la-hán quả (Arahattaphala), 10 phiền não được đoạn trừ hoàn toàn. Vì những phiền não này có khả năng tạo ra quả thức tái sanh và bị đoạn trừ từng phần theo các bậc thánh, nên mới có định nghĩa Các phiền não còn lại gọi là tập đế.
Thí dụ: Bậc thánh Dự lưu chỉ đoạn trừ được phiền não kiến (diṭṭhi) là tâm sở tà kiến và phiền não hoài nghi (vicikicchā) là tâm sở hoài, riêng các phiền não còn lại thuộc tập đế mà hành giả cần phải tiếp tục đoạn trừ là tám loại phiền não chưa được đoạn trừ.
- Các pháp bất thiện còn lại là tập đế. Theo Bộ Pháp Tụ (dhammasaṅgaṇī) cho biết rằng, các pháp bất thiện là 12 tâm bất thiện (8 tâm tham, 2 tâm sân, 2 tâm si) cùng với 27 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 14 tâm sở bất thiện) [13, tr.121-139]. Các pháp bất thiện này khi sanh khởi sẽ tạo ra 7 tâm quả bất thiện vô nhân, trong đó có tâm quan sát thọ xả quả bất thiện làm việc tục sinh, tạo ra nhân luân hồi nên chúng mới được gọi là tập đế. Trong các pháp bất thiện này, khi hành giả tu tập đoạn trừ được hoàn toàn sẽ trở thành bậc thánh A-la-hán. Tuy nhiên trong quá trình tu tập, hành giả sẽ đoạn trừ chúng theo từng phần khi chứng được tuần tự ba Thánh quả bậc thấp.Do 12 tâm bất thiện cùng với 27 tâm sở phối hợp có khả năng tạo ra quả thức tái sanh và bị đoạn trừ theo từng phần của các bậc thánh, nên mới có định nghĩa Các pháp bất thiện còn lại là tập đế.
Thí dụ: Bậc thánh Bất lai chỉ đoạn trừ được 4 tâm tham tương ưng tà kiến, 2 tâm sân và tâm si câu hữu với xả tương ưng hoài nghi cùng với các tâm sở phối hợp. Riêng các pháp bất thiện còn lại thuộc tập đế mà hành giả cần phải tiếp tục đoạn trừ là 5 tâm bất thiện còn lại.
- Ba căn thiện cảnh lậu các pháp thiện cảnh lậu còn lại là tập đế. Theo Tụ nhân (hetugocchaka), ở Nhị đề nhân cho biết, có ba căn thiện (kusalamūla) là căn vô tham, căn vô sân, căn vô si; hay ba nhân thiện (kusalahetu) là nhân vô tham, nhân vô sân và nhân vô si. Cũng trong Tụ nhân, trong Nhị đề hữu nhân (sahetukaduka) có câu pháp “Các pháp hữu nhân” cho biết rằng, ba căn thiện hay ba nhân thiện khi sanh khởi sẽ đồng sanh với 17 tâm thiện hiệp thế (8 tâm thiện dục giới, 5 tâm thiện sắc giới, 4 tâm thiện vô sắc giới) cùng với 38 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 25 tâm sở tịnh hảo) và 20 tâm thiện siêu thế (tâm đạo) cùng với 36 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 23 tâm sở tịnh hảo) (trừ 2 tâm sở vô lượng phần là tâm sở bi và tâm sở tùy hỷ, vì tâm thiện siêu thế lấy Niết-bàn làm cảnh) [13, tr.277-283].Trong Tam đề thiện (tikamātikā) lại cho biết rằng, các pháp thiện là 17 tâm thiện hiệp thế cùng với 38 tâm sở phối hợp và 20 tâm thiện siêu thế (tâm đạo) cùng với 36 tâm sở phối hợp [13, tr.24-120].Tuy nhiên nếu dựa theo định nghĩa: “Ba căn thiện cảnh lậu và các pháp thiện cảnh lậu còn lại là tập đế. thì ba căn thiện và các pháp thiện trong trường hợp này chỉ là 17 tâm thiện hiệp thế và 38 tâm sở phối hợp đồng sanh với ba căn thiện hay ba nhân thiện.Vì theo Tụ lậu (āsavagocchaka), ở Nhị đề lậu và Nhị đề cảnh lậu cho biết rằng, các pháp lậu là tham (dục lậu và hữu lậu), tà kiến (kiến lậu) và si (vô minh lậu) chỉ biết được 17 tâm thiện hiệp thế cùng với các tâm sở phối hợp đồng sanh với ba căn thiện hay ba nhân thiện, do vậy các căn thiện và các pháp thiện này mới trở thành cảnh lậu [13, tr.287-291].
Thí dụ: Khi các pháp thiện đồng sanh với ba căn thiện trong tâm thiện dục giới thúc đẩy người A làm phước bố thí, giúp đỡ những người nghèo khó, nhưng khi tâm tham có tà kiến kết hợp với si sanh khởi, biết được việc này thì chấp thủ cho rằng: “Ta đã làm phước bố thí, giúp đỡ những người nghèo khó, phước này là của ta, ta sẽ được sanh về thiện thú, thiên giới.”
Lại nữa, trong Tam đề nhân tích tập (ācayagāmitika) có câu pháp “Các pháp nhân tích tập” cho biết rằng, các pháp nhân tích tập là 17 tâm thiện hiệp thế cùng với 38 tâm sở phối hợp đồng sanh với ba căn thiện thuộc về cảnh lậu này, là nhân đưa đến luân hồi và chính là tập đế [47, tr.269-270]. Bởi vì các pháp thiện tương ưng với ba căn thiện khi sanh khởi sẽ tạo ra 25 tâm quả hiệp thế, trong đó có tâm quan sát thọ xả quả thiện vô nhân, 8 tâm quả dục giới hữu nhân, 5 tâm quả sắc giới, 4 tâm quả vô sắc giới, làm việc tục sinh cho chúng sanh ở nhiều cảnh giới khác nhau [10, 2, tr.199-213].

  1. Ứng dụng tu tập tập đế theo Kinh Trung Bộ và Abhidhamma

3.1. Tu tập tập đế theo Kinh Trung Bộ

Vì tập đế (samudayasacca) chính là ái (taṇhā) được phân loại rất đa dạng và phức tạp, nên Kinh Trung Bộ cũng đưa ra nhiều phương pháp tu tập khác nhau. Điển hình như Kinh Nhứt Thiết Lậu Hoặc (Sabbāsavasutta) - số 2, có đề cập bảy phương pháp tu tập để đoạn trừ ái và các phiền não: Phương pháp tu tập bằng tri kiến, phương pháp tu tập bằng sự phòng hộ, phương pháp tu tập bằng sự thọ dụng, phương pháp tu tập bằng sự kham nhẫn, phương pháp tu tập bằng sự tránh né và phương pháp tu tập bằng sự trừ diệt và phương pháp tu tập bằng sự hành trì bảy giác chi [4, 1, tr.7].
Do vậy muốn đoạn trừ được ái, hành giả phải có trí tuệ để lựa chọn phương pháp tu tập thích hợp với căn cơ của mình:
- Nếu ái sanh khởi do không thu thúc các căn, như khi mắt thấy cảnh sắc hài lòng, tai nghe âm thanh dễ chịu, mũi ngửi mùi thơm, lưỡi nếm vị thích hợp, thân xúc chạm êm ái…, hành giả phải tu tập để đoạn trừ chúng bằng phương pháp thu thúc hay phòng hộ các căn như quán rằng “Đây chỉ là cảnh sắc, là âm thanh, là hương, là vị, là sự xúc chạm…”.  
- Nếu ái sanh khởi do dục tư duy, như suy nghĩ về việc tìm kiếm ngũ dục, về sự hưởng thụ ngũ dục, nhớ lại cảnh mà mình đã hưởng thụ dục lạc…, hành giả phải tu tập để đoạn trừ chúng bằng phương pháp trừ diệt. Nghĩa là hành giả dùng chánh tư duy để dẹp bỏ chúng, như trong Kinh Song Tưởng [Kinh Song Tầm] (Dvedhāvitakkasutta) – số 19 có đề cập: “Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Níp-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại", dục tầm được biến mất,…” [4, 1, tr.114-115) v.v…
- Nếu ái sanh khởi do sự chấp thủ năm uẩn, như cho rằng: “Sắc này là của ta, sắc này là ta, sắc này là tự ngã của ta”, hành giả dùng phương pháp tu tập chánh kiến để đoạn trừ chúng, bằng cách suy xét về sắc uẩn cũng như các uẩn còn lại rằng: “Cái này không phải của ta, ta không phải là cái này, cái này không phải tự ngã của ta” [5, 2, tr.420], để thấy được năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã và do duyên sanh.

3.2. Tu tập tập đế theo Abhidhamma

Theo Abhidhamma, hành giả tu tập tập đế bằng cách dùng trí tuệ quán về sự sanh diệt của các pháp để thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã và do duyên sanh như sau:

- Về phần ái: Hành giả nỗ lực tu tập để quán thấy sự sanh diệt của ái là tâm sở tham, sanh khởi trong 8 tâm tham cùng với 21 tâm sở đồng sanh (13 tâm sở tợ tha, 4 tâm sở si phần, 2 tâm sở tham phần (trừ tâm sở tham), 2 tâm sở hôn phần).

- Về phần các phiền não còn lại: Hành giả nỗ lực tu tập để quán thấy được sự sanh diệt của mười loại phiền não gồm: tham (lobha) là tâm sở tham, sân (dosa) là tâm sở sân, si (moha) là tâm sở si, mạn (māna) là tâm sở ngã mạn, kiến (diṭṭhi) là tâm sở tà kiến, hoài nghi (vicikicchā) là tâm sở hoài nghi, hôn trầm (thīna) là tâm sở hôn trầm, trạo cử (uddhacca) là tâm sở trạo cử, vô tàm (ahirika) là tâm sở vô tàm và vô quý (anottappa) là tâm sở vô quý.

- Về phần các pháp bất thiện còn lại: Hành giả nỗ lực tu tập để quán thấy được sự sanh diệt của 12 tâm bất thiện (8 tâm tham, 2 tâm sân, 2 tâm si) cùng với 27 tâm sở đồng sanh (13 tâm sở tợ tha, 14 tâm sở bất thiện).

- Về phần ba căn thiện cảnh lậu và các pháp thiện cảnh lậu còn lại: Hành giả nỗ lực tu tập để quán thấy được sự sanh diệt của 17 tâm thiện hiệp thế (8 tâm thiện dục giới, 5 tâm thiện sắc giới, 4 tâm thiện vô sắc giới) cùng với 38 tâm sở phối hợp (13 tâm sở tợ tha, 25 tâm sở tịnh hảo) đồng sanh với ba căn thiện.

  1. KẾT LUẬN

Qua đề tài: KHÁI NIỆM TẬP ĐẾ TRONG KINH TRUNG BỘ VÀ ABHIDHAMMA, với ba vấn đề được trình bày: Định nghĩa, Phân tíchỨng dụng tu tập tập đế trong Kinh Trung Bộ và Abhidhamma, chúng ta thấy rằng cách trình bày của hai Tạng giáo lý có đôi chút khác biệt:

-   Về Định nghĩa: Trong Kinh Trung Bộ cho rằng, tập đế chính là ái, là nguyên nhân chính dẫn đến sự luân hồi sanh tử. Đối với Abhidhamma lại cho rằng, tập đế không phải chỉ có ái mà còn có: các phiền não còn lại, các pháp bất thiện còn lại, ba căn thiện cảnh lậu và các pháp thiện cảnh lậu.

- Trong phần Phân tích: Kinh Trung Bộ phân tích ái (tập đế) bằng cách chia ra thành nhiều loại ái khác nhau, như ái có ba loại là dục ái, hữu ái và vô hữu ái; ái có sáu loại là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái .v.v… Sau đó diễn đạt các loại ái này theo khái niệm tục đế như là dục ái sẽ sanh khởi khi người nam nhìn thấy người nữ xinh đẹp; hữu ái sẽ sanh khởi khi chấp rằng có những cảnh giới tái sanh thường hằng, vĩnh cửu; vô hữu ái sẽ sanh khởi khi cho rằng một người tạo thiện nghiệp hoặc ác nghiệp không có quả báu…

Còn Abhidhamma, khi phân tích thì dựa trên định nghĩa về tập đế và sử dụng thuần túy các khái niệm chân đế để diễn đạt. Như khi nói đến ái là tập đế thì Abhidhamma cho biết rằng, ái là tâm sở tham, là một trong 14 tâm sở bất thiện, thuộc nhóm tham phần, sanh khởi trong 8 tâm tham, và tạo ra 7 tâm quả bất thiện vô nhân, trong đó có tâm quan sát thọ xả quả bất thiện làm nhiệm vụ tục sinh…

- Trong phần Ứng dụng tu tập: Theo Kinh Trung Bộ, vì ái sanh khởi rất đa dạng nên hành giả phải lựa chọn những phương tu tập thích hợp để ngăn ngừa, dẹp bỏ hoặc đoạn trừ chúng. Tuy nhiên, phương pháp tu tập rốt ráo nhất để đoạn trừ tập đế hoàn toàn thì hành giả vẫn phải có trí tuệ thấy được các pháp là vô thường, khổ, vô ngã và do duyên sanh.

Riêng Abhidhamma, hành giả nỗ lực phát triển tuệ quán để thấy được sự sanh diệt của các pháp do duyên sanh, chúng là vô thường, khổ và vô ngã, từ đó nỗ lực tu tập để đạt được sự giải thoát.

Bên cạnh những khác biệt đôi chút của hai Tạng giáo lý, qua bài viết này, chúng ta cũng thấy được mối quan hệ mật thiết với nhau giữa Tạng Kinh và Tạng Abhidhamma, đó là sự hỗ trợ qua lại nhằm giúp các học giả, các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về lời Phật dạy. Đặc biệt, cả hai Tạng đều có cùng chung một mục đích là giúp người tu học nhận ra được tập đế là nguyên nhân sanh khổ và khuyên chúng ta nỗ lực tu tập để đoạn trừ tập đế và đạt được sự giải thoát.

Do vậy, việc cho ra đời những bài viết, những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về Kinh Tạng và Abhidhamma vốn còn đang khan hiếm là điều rất cần thiết.

Tác giả: ĐĐ. Thích Tinh Tuệ

Bình luận
| Mới nhất