A.
LỊCH SỬ
Chùa Giác Quang được xây dựng năm 1945, do ḥa
thượng Giác Quang chủ quản. Trước khi xuất gia, ḥa thượng là một người rất
có uy tín với xă hội, ngài từng đảm nhận những chức vụ Chánh Lục Bộ, Hương
Hào, Hương Quản và Xă Trưởng. Mặc dù thành danh trên đường đời và có một mái
ấm gia đ́nh vô cùng hạnh phúc, nhưng ngài vẫn quyết định xuất gia kể từ khi
Phật giáo Nguyên thủy du nhập Việt Nam năm 1939, Lúc đó, tiếng chuông chánh
pháp đánh vang dội bốn phương trời phía nam, thấu tai thiện nam Dương Văn
Thêm.
Thế rồi những ngày cuối tuần thiện nam đến chùa
Bửu Quang học đạo do lời giới thiệu một người bạn. Lần đầu tiên trong cuộc
đời của thiện nam mới gặp một người xuất gia theo Phật giáo Nguyên thủy,
phong thái sung sướng và hoan hỷ, tướng mạo trang nghiêm, y phục chỉnh tề,
lời nói hiền dịu. Tuy những vị Sa môn này chưa nói một lời nào về đạo pháp
nhưng ông cảm thấy một bài pháp vô ngôn có giá trị luân lư rất cao. Những vị
Sa môn đầu tiên mà thiện nam Dương Văn Thêm gặp là các vị Ḥa thượng Hộ Tông
và Ḥa thượng Thiện Luật. Nhờ nhân duyên hạnh ngộ hai vị cao tăng của Phật
giáo Nguyên thủy Việt Nam và đức tu của hai vị này, ông phát tâm tu học đạo
pháp.
Để phát triển thêm đạo tâm của ḿnh, sau cuộc
hạnh ngộ hai vị Sa môn của Phật giáo Nguyên thủy, thiện nam quyết chí về
B́nh Đông lập thất tu tập. Ở đây thiện nam vừa tu vừa giới thiệu bạn bè đồng
nghiệp và những thân hữu, bạn hữu để biết Phật giáo Nguyên thủy. Trong số
những người đó sau này cũng có vị xuất gia theo Phật giáo Nguyên Thủy như
Ḥa thượng Tinh Tuệ, Pháp Tâm, Giác Nhân, v.v. Sau nhiều đêm đắn đo, suy tư,
Thiện nam họp bạn đạo để giao tịnh thất cho cư sĩ Tinh Tuệ trông nom và
hướng dẫn bạn đạo tu hành. Để rồi một ngày nọ, năm 1940, thiện nam Dương văn
Thêm được sự cho phép của hiền thê rời bỏ gia đ́nh, quê hương yêu dấu và
cuộc đời phú quư để sang Nam Vang t́m thầy học đạo và xuất gia. Ḥa thượng
tế độ đặt cho pháp danh là Giác Quang.
Trải qua 5 năm tầm sư học đạo và xuất gia ở đất
nước chùa tháp, ngài Giác Quang nh́n thấy đất nước Campuchia Phật giáo
Nguyên thủy quá thạnh hành, nh́n về quê hương biết các vị tiền bối đang
chuẩn bị thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Ngài quyết định
xin phép Thầy tế độ để về Việt Nam kết hợp các vị ḥa thượng trong phái đoàn
truyền giáo của Ḥa thượng Hộ Tông để đóng góp phát huy Phật giáo Nguyên
thủy.
V́ Phật giáo Nguyên thủy mới truyền về Việt Nam
không được bao lâu nên chùa chiền rất hiếm. Muốn đào tạo tăng tài th́ phải
có chùa. Để góp phần kiến tạo chùa cho Giáo hội, Ḥa thượng không màn cực
nhọc cùng các bạn đạo ngày xưa vận động tịnh tài mua đất thêm xung quanh
tịnh thất của Ḥa thượng và dần dần xây dựng một ngôi chùa khang trang cho
chư Tăng cư ngụ. Chùa do Ḥa thượng có công sáng lập nên tất cả mọi người đề
nghị đặt tên chùa là Giác Quang Tự và nó tồn tại cho đến bây giờ. Năm 1959,
Ḥa thượng và các Phật tử trùng tu lại ngôi chùa, xây dựng thêm cốc liêu,
tạo thêm Phật cảnh để cho chư Tăng có đầy đủ chỗ cư ngụ và Phật tử có thêm
Phật cảnh lễ bái cúng dường.
Về kiến trúc, từ năm 1959, chùa Giác Quang
tương đối có một kiểu kiến trúc đặc biệt tiêu biểu cho kiến trúc của Phật
giáo Nam tông thời đó.V́ ḥa thượng xuất gia ở Campuchia nên h́nh thức ngôi
chùa đôi nét cũng bị ảnh hưởng nhưng không mất đi tính dân tộc, chẳng hạn
như mặt tiền chùa xoay về hướng tây nhưng chánh điện xoay hướng về phương
đông, tượng Phật trong chánh điện đúc theo kiểu Campuchia. Chánh điện tuy
nhỏ nhưng trang trí rất trang nghiêm. Chùa nằm trên khu đất khoảng một mẫu,
nay tọa lạc tại số 47 đường Lương Văn Can, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa chia làm hai khu, khu mặt tiền là Chánh điện, giảng đường, Tăng xá, Nhà
trù và trường học; khu mặt hậu là những liêu thất của chư Ni. Du khách từ
cổng chánh bước vào bên tay phải là một trường Phật học, xây dựng ngay từ
khi thành lập chùa với ư định dạy chữ Pàli và giáo lư cho chư Tăng và Phật
tử, bề ngang khoảng 3m chiều dài khoảng 10m, phía trên trường có ghi ba ḍng
chữ bằng ba ngữ văn: Pàli-Miên, chữ Hán và chữ việt, nội dung đề là Trường
Phật Học.
Đi vào 10 m nữa, bên tay trái là chánh điện.
Chánh điện theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy là nơi chư Tăng công phu
sáng và tối, cử hành các nghi lễ lớn và nhỏ như lễ xuất gia, trai tăng,
thuyết pháp, lễ Phát Lồ v.v. Bên trong chánh điện thờ duy nhất một tượng
Phật tổ, trang trí theo dạng tam cấp, tầng cao nhất là tôn trí Xá lợi Phật
tổ, tầng thứ nh́ tôn trí tượng Phật tổ, tầng thứ ba là đặt bát nhang để dâng
hương cúng Phật hằng ngày. Trước tam cấp này là một bộ ghế sơn son, thếp
vàng do quân đội Hoàng gia Thái Lan hiến cúng, sử dụng cho việc tôn trí
những tượng Phật Thích Ca loại nhỏ bằng đồng, tư thế đứng, nằm, ngồi. Hai
bên tam cấp là hai tủ kinh Tam Tạng, một tủ chứa đựng Tam Tạng bằng tiếng
Anh, c̣n tủ khác đựng Tam Tạng bằng Pàli-Miên.
Sau chánh điện có một cửa hậu, cửa này thường
chư Tăng vào hành lễ khi có những cuộc lễ lớn. Bức tường hậu chánh điện đồng
thời là mặt tiền chùa Giác Quang có vẽ tượng Phật Thích Ca nhập Níp-bàn rất
đẹp, khi chúng ta đi ngoài đưỡng Lương Văn Can là nh́n thấy tượng Phật, v́
thế nên người ở đây thường gọi chùa này là chùa Phật Nằm. Hai bức tường hai
bên của chánh điện treo nhiều bức ảnh về cuộc đời Đức Phật Thích Ca. Trước
sân chánh điện có tạo ba Phật cảnh để cho Phật tử lễ bái, một tượng Bồ tát
khổ hạnh, tượng thứ hai Phật nhập Níp bàn, tượng thứ ba đức Phật an cư trong
rừng một ḿnh, xung quanh có chú khỉ và bạch tượng. Sau ba Phật cảnh này là
Bảo tháp tôn trí Xá lợi tầng trên và tầng dưới thờ cốt của chư Tăng và Phật
tử. Giữa khu đất là nhà giảng dành cho chư Tăng Ni và Phật tử dùng cơm hằng
ngay đồng thời là nơi tiếp khách. Bên phía phải của nhà giảng có những liêu
thất của chư Tăng cư ngụ. Khu vực cuối cùng của khu đất chùa Giác Quang th́
có nhiều liêu thất của quư bà tu Nữ, quư bà tu học biệt lập ở khu đất này,
hằng ngày chỉ vào giờ công phu chiều quư bà mới lên chánh lễ bái điện, hoặc
những ngày lễ Trai tăng lớn.
Tóm lại chánh điện, giảng đường, bảo tháp đều
có đường nét, nghệ thuật kiến trúc độc đáo của nó, nhẹ nhàng uyển chuyển,
đơn giản, mộc mạc nhưng đa dụng và không kém phần quan trọng về mặt tâm
linh. Thậm chí ngay cả chiếc lá Bồ đề đúc bằng xi măng đặt giữa giảng đường
trên máy ngói cũng đă thể hiện phong cách rất sống động của giảng đường chùa
Giác Quang.
Từ ngày thành lập đến nay chùa Giác Quang trải
qua các đời trụ tŕ:
-Ḥa thượng Giác Quang
-Ḥa thượng Tinh Tuệ
-Thượng tọa Giác Nhân
-Thượng tọa Giác Nhẫn
-Thượng tọa Bửu Trí
- Đại đức Thiện Đạt
Trong giai đoạn đầu, thời trụ tŕ của Ḥa
thượng Giác Quang, chùa rất thạnh hành. Lúc bấy giờ ngài thường xuyên liên
lạc với Tăng đoàn Campuchia, giữ mối quan hệ Việt Miên chặt chẽ để mỗi khi
có những cuộc lễ lớn như Tăng sự xuất gia, kết giới Sima th́ ngài phải mời
Tăng già Campuchia tham dự để cố vấn thêm, v́ ngài mới xuất gia. Đôi khi có
những giới tử phát tâm xuất gia, ngài phải thỉnh sư từ Nam Vang về làm thầy
tế độ. Theo luật Phật giáo Nam Tông, thầy tế độ cho giới tử xuất gia Tỳ kheo
phải đủ 20 tuổi đạo và thông thạo kinh luật. V́ thế nên lúc đầu chư Tăng
chùa Giác Quang rất vắng nhưng nhờ có chư Tăng Campuchia trú trụ nên đông
đảo thiện nam tín nữ rất hoan hỷ.
Bên cạnh đó, ngài thường xuyên thuyết pháp
giảng đạo vào những ngày lễ cho chư thiện nam tín nữ thông hiểu thêm về Phật
pháp. Nhờ nghe pháp, Phật tử xin quy y rất đông và trở thành thiện tín chùa
Giác quang. Trong số các thiện tín này có những người về sau xuất gia thành
nhà sư như Ḥa thượng Tinh Tuệ, ngài Cả Giác Nhân, Thượng tọa Pháp Tâm. Mặc
dù bận rộn Phật sự của chùa như vậy nhưng ngài vẫn tích cựa đóng góp cùng
với quư ngài trong phái đoàn truyền giáo của Ḥa thượng Hộ Tông vận động và
đệ đơn xin thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Khi được chấp
thuận thành lập, với Ban Trưởng Quản GHTGNTVN, ngài được tập thể Tăng đoàn
suy tôn vào chức vụ cố vấn GHTGNTVN.
Đến thời trụ tŕ của Ḥa thượng Tinh Tuệ và
Thượng tọa Giác Nhân, chư Tăng rất đông đảo, khoảng 15 -20 vị trú ngụ tu
học. Có thể nói có rất nhiều vị tăng tài của Giáo hội đă xuất thân từ chùa
Giác Quang như Thượng Tọa Giác Minh, thượng tọa Tịnh Giác, v.v. Chùa Giác
Quang đặc biệt có Đại đức Giác Chơn, mặc dù không phải là trụ tŕ nhưng Đại
đức đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi chùa này trong ba đời trụ tŕ. Đúng
ra sau khi Ngài Giác Nhân viên tịch, Đại đức là người tiếp nối chức trụ tŕ
nhưng có lẽ Đại đức khiêm tốn nhường cho vị khác, và chỉ nhận giữ chức phó
trụ tŕ. Đại đức là người có công mua thêm phần đất bên phía trái của chùa,
bề ngang khoảng 3 m, chiều dài khoảng 80 m, bây giờ nơi này làm tăng xá cho
chư Tăng trú ngụ.
Đời trụ tŕ của ngài Giác Nhẫn và ngài Bửu Trí
không có ǵ nổi bật lắm v́ tuổi tác quư ngài quá cao, chỉ làm bóng mát cho
chư Tăng và Phật tử noi theo tu niệm, chứ không có phát huy thêm việc ǵ mới
lạ, ngoại trừ duy tŕ những ǵ chùa hiện có.Tuy nhiên đến đời trụ tŕ của
đại đức Thiện Đạt có những bước đổi mới, mặc dù Đại đức tuổi c̣n trẻ nhưng
lănh đạo ngôi chùa có nhiều điều tiến triển tốt đẹp. Chẳng hạn như các công
tác đào tạo thêm giới tử cho xuất gia, cho chư Tăng trẻ học văn hóa, mởi
khóa học Vi Diệu Pháp, giáo lư, kinh tụng cho chư Tăng và Phật tử, phát huy
và ǵn giữ những ngày sám hội lệ. Những kỳ sám hối đều có thỉnh nhiều vị
pháp sư giảng đạo cho Phật tử, tổ chức những ngày đại lễ như Rằm tháng
Giêng, rằm tháng Tư , tổ chức đầu đà sáng đêm để thiện nam tín nữ có cơ hội
học pháp, và rằm tháng chín tổ chức dâng y Ka-thi-na đến chư Tăng và Phật tử
tham dự rất đông. Đặc biệt những khi đồng bào bị thiên tai băo lụt, Đại đức
thường tích cực tổ chức cứu trợ đến đồng bào.
Tóm lại, sau ngôi tổ đ́nh Bửu Quang, chùa Giác
Quang là ngôi chùa thứ hai của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Từ
ngày thành lập đến nay, chùa là một địa điểm hoằng pháp rất mạnh mẽ và thu
hút nhiều tín đồ cho Phật giáo Nam tông, và là nơi đào tạo chư Tăng có cả
tài lẫn đức.
B. ĐỊA CHỈ
Chùa Giác Quang
47 Lương Văn Cang, Phường 15,
Quận 8, TP. HCM
Điện thoại: (084) - (08)
8.549.247
Trụ tŕ: Tỳ khưu Thiện
Đạt
C. H̀NH ẢNH
