|
BÀI 9: TÂM SIÊU THẾ NHIẾP (LOKUTTARA CITTA SAṄGAHA) (Phụ trách: Đại Đức Siêu Minh - Cư sĩ Đức Tài )
I. ĐỊNH NGHĨA: * Tâm: là biết, biết cảnh, những ǵ bị biết đều đặng kêu là cảnh, cảnh có 6: sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp. Cảnh phân rộng có 21 cảnh, 6 cảnh nêu trên kể thêm các cảnh nữa là: cảng ngũ, cảnh siêu lư (chơn đế), chế định, dục giới, đáo đại, níp bàn, danh pháp, sắc pháp, quá khứ, hiện tại, vị lai, ngoại thời, nội phần, ngoại phần và nội ngoại phần. * Siêu thế: vượt ngoài thế gian, thoát ra thế tục, siêu xuất tam giới......... * Vậy tâm siêu thế là: cách biết cảnh níp bàn, với trạng thái thể tịnh, siêu xuất tam giới luân hồi, vượt thoát khỏi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Hoặc: loke uttarantīti = lokuttaro: Trong đời mà siêu xuất tam giới luân hồi, nên gọi là tâm siêu thế; nghĩa là cũng đời bản thể (tâm + sở hữu + sắc pháp) mà chẳng liên quan với luân hồi, v́ chẳng phải cho quả tái tục và cũng chẳng phải quả để nương vào tam giới. Nói cách khác, tâm siêu thế của là đời bản chất, nhưng khác hơn tâm hiệp thế, do bởi chẳng hợp với sanh tử luân hồi, đồng thời không bị phiền năo bắt làm cảnh. Xin tŕnh bày thêm Đời (loka) có 3: 1. Đời bản thể: tức là tâm, sở hữu tâm, sắc pháp. (lokadhātu) 2. Đời chúng sanh: tức là 12 hạng người (lokasatta) 3. Đời vũ trụ (lokabhūmi): tức là 31 cơi TÂM SIÊU THẾ: Tính hẹp có 8 thứ là 4 đạo và 4 quả siêu thế Tính rộng là nhân theo bậc thiền chứng đắc trước đó, hoặc sau khi đắc đạo đắc quả. Bậc thiền có 5: sơ, nhị, tam, tứ và ngũ thiền. Mỗi bậc đạo (sơ, nhị, tam và tứ đạo) nhân cho 5 chi thiền là 5 (chi thiền) x 4 (đạo) = 20 thứ tâm. Tâm quả cách tính như tâm đạo là 20 thứ tâm quả cộng lại thành 40 (8 thứ tâm x 5 chi thiền = 40 thứ tâm). II. CHI PHÁP: Trong bài học này là: tâm siêu thế nhiếp, tức tính lúc mỗi thứ tâm siêu thế sinh khởi gom đặng bao nhiêu pháp đồng sinh (sở hữu). Ở đây được tính theo bậc thiền: sơ thiền siêu thế đến tứ và ngũ thiền siêu thế, cho nên có 4 phần nhiếp như sau (hoặc gọi 4 phần yếu hiệp): 1. Sơ thiền siêu thế nhiếp đặng: SH tợ tha (13) + SH tịnh hảo (23) đă trừ vô lượng phần (2) -> 13 + 23 = 36SH 2. Nhị thiền siêu thế nhiếp đặng: Như sơ thiền siêu thế, bớt SH tầm = 35 SH 3. Tam thiền siêu thế nhiếp đặng: Như nhị thiền, bớt tứ = 34 SH 4. Tứ và ngũ thiền siêu thế nhiếp đặng: Như tam thiền, bớt SH hỷ = 33 SH CHI PHÁP VIẾT TẮT: - S1s: sơ thiền siêu thế, S2s: nhị thiền siêu thế, S3s: tam thiền siêu thế, S4s: tứ và ngũ thiền siêu thế S1s = B1 +B2 + SHTH (-B12) : 36 SH S2s = S1s - B2/1 : 35 SH S3s = S2s - B2/2 : 34 SH S4s = S3s - B2/5 : 33SH III. PHÂN TÍCH: 1. Sơ thiền siêu thế: Có 8 thứ tâm là: 4 đạo sơ thiền, 4 quả sơ thiền đều đặng 36 sở hữu; trong đó không có sở hữu vô lượng phần v́ không cần mượn cảnh chế định vô lượng chúng sanh là bi và tuỳ hỷ tu tập, mà có ngăn trừ phần (giới phần) để sát tuyệt sự sai khiến phá giới (pháp ác hay bất thiện) và tượng trưng kết quả thành tựu. Nói cách khác, do đang cùng bát chi đạo làm đạo đế tương ưng để sát trừ phiền năo (từng phần), nên chỉ cần ngăn trừ phần, chớ không mượn vô lượng phần; v́ ngăn trừ phần là 3 chi đạo trong bát chánh đạo (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) nên chỉ có 36 sở hữu đồng sanh. 2. Nhị thiền siêu thế: Có 8 thứ tâm là: 4 đạo nhị thiền, 4 quả nhị thiền. Do phần định mạnh hơn sơ thiền, nên bớt tầm, tức trừ sở hữu tầm, c̣n 35 sở hữu (36 - 1 = 35) 3. Tam thiền siêu thế: Có 8 thứ tâm là: 4 đạo tam thiền, 4 quả tam thiền. Bậc thiền nâng cao, bởi thế định càng mạnh hơn nữa, nên bớt sở hữu tứ, đặng 34 sở hữu (35 - 1 = 34) 4. Tứ và ngũ thiền siêu thế: Có 16 thứ tâm là: 4 đạo + 4 quả tứ thiền và 4 đạo + 4 quả ngũ thiền. Do có đồng số sở hữu nhiếp, nên gom tứ và ngũ thiền siêu thế chung lại. Về phần nhiếp bớt thêm sở hữu hỷ (do định càng vi tế hơn, tăng cao tỉnh trụ tâm hơn, c̣n 33 sở hữu đồng sinh (34 - 1 = 33). Trên đây là cách tŕnh bày về chi pháp, tức lúc phát sanh tâm siêu thế có những sở hữu nào cùng yếu hiệp, cùng đồng sinh, cùng biết cảnh níp bàn và cùng tận diệt phiền năo (thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân, sắc ái, vô sắc ái, ngă mạn, điệu cử và vô minh). * TÂM SIÊU THẾ là những thứ tâm mà các Bậc Thánh đang và đă sử dụng, tuỳ theo từng bậc Thánh, tức 4 thánh đạo và 4 thánh quả * Thánh đạo có 4 là: a. Thánh sơ đạo: Là gọi theo thứ tự, bậc đang đắc đạo lần đầu, hay dự lưu đạo (bước vào ḍng Thánh, dự vào ḍng thoát tục tam giới)........Nhập lưu đạo (nhập vào ḍng dơi thánh); Thất lai đạo là ngụ ư vị thánh này tái sanh lại cơi vui dục giới không quá 7 lần (cơi nhân loại, 6 cơi trời) hoặc đọc theo âm là tu đà hườn đạo. C̣n về nghĩa lư, th́ bậc này đang sát trừ 3 phiền năo là thân kiến (thấy sai, chấp sai về bản ngă - chi pháp là sở hữu tà kiến); Hoài nghi (hoài nghi tam bao, tam học, quá khứ, hiện tại, vị lai, và hoài nghi về liên quan tương sanh - chi pháp là sở hữu hoài nghi); Giới cấm thủ (chấp giữ, chấp cứng tập tục, cúng tế như thờ thần lửa, thờ thần, thờ ḅ.......tức là đi ngược lại pháp đúng, chánh pháp, mà cố giữ lấy những điều tà vạy, vô bổ, vô ích...) b. Thánh nhị đạo: Bậc đang đắc, đang làm giảm nhẹ 2 phiền năo là dục ái và sân. Gọi theo thứ tự chứng đắc là thánh nhị đạo. Gọi theo phiên âm là tư đà hàm đạo. Gọi nhất lai đạo là trở lại cơi vui dục giới chỉ một lần. c. Thánh tam đạo: Là tâm tam đạo đang sanh c̣n, đang đắc, đang diệt trừ hẳn 2 phiền năo mà nhị đạo làm giảm nhẹ là dục ái và sân. Nói cách khác đạo đế (Bát chi đạo) hiệp với tâm này (tâm tam đạo) đang sát trừ tuyệt sân, dục ái và những pháp hợp chung. Gọi Thánh tam đạo. Gọi bất lai đạo: dù không đắc thiền, cũng tái tục về cơi sơ thiền, chớ không trở lại cơi vui dục giới nữa, nên gọi Thánh bất lai. Trường hợp này do đă tận diệt phiền năo sân tức không c̣n xử dụng tâm sân và sở hữu hợp, đồng thời đoạn tận luôn dục ái (tham ái cơi dục giới). Gọi theo phiên âm là thánh Anahàm đạo. d. Thánh tứ đạo: Nói theo tiến tŕnh của tâm, th́ Bậc mà có tâm đạo thứ tư, đang hiện c̣n (sát na tứ đạo đang sanh) tức tâm tứ đạo đang c̣n sanh, đang tỏ ngộ, đang đắc chứng, đang diệt trừ 5 phiền năo: sắc ái, vô sắc ái, ngă mạn, điệu cử, vô minh. Bậc đó gọi là Thánh tứ đạo. - Rūparāga -> sắc ái: tức sở hữu tham hợp với tâm tham bất tương ưng, sanh cho người sắc giới hoặc người dục giới đắc thiền sắc giới. - Arūparāga -> vô sắc ái: tức sở hữu tham hợp với tham bất tương ưng, sanh cho người vô sắc giới hay người dục giới đắc thiền vô sắc giới. - Māna -> ngă mạn: tức sở hữu ngă mạn. - Uddhacca -> điệu cử (phóng dật): tức sở hữu điệu cử - Avijjā -> vô minh: tức sở hữu si. * Gọi thánh tứ đạo là theo thứ tự (sơ đạo, nhị đạo, tam đạo, tứ đạo) * Gọi theo âm là Alahán đạo. * Gọi theo nghĩa lư là: - Vô sanh đạo: (thánh không c̣n tái sanh, không c̣n tái tục luân hồi) - sát tặc (ư nói tận diệt, trừ tuyệt giặc (tặc) phiền năo) - Ưng cúng: Bậc đáng để cho người khác cúng dường. Tóm lại: bốn thứ tâm vừa nêu trên: "thánh sơ đạo, thánh nhị đạo, thánh tam đạo và thánh tứ đạo" tức là tâm đạo siêu thế, và xử dụng các thứ tâm này gọi là người đạo hoặc người thánh đạo, có nghĩa là tâm đạo đang sanh c̣n, bậc nào th́ kể theo bậc nấy trong 4 đạo (đang khi đắc sơ, nhị, tam, tứ) * Thánh quả có 4 là: Tâm thánh quả là tâm thành tựu (dị thục) của tâm thánh đạo. Nói cách khác, do sắp xếp theo tŕnh tự, hết các tâm thánh đạo (sơ, nhị, tam, tứ đạo) rồi mới nói đến tâm thánh quả (sơ, nhị, tam, tứ quả) chuẩn xác là: - Đắc sơ đạo th́ đắc sơ quả liền - Đắc nhị đạo th́ đắc nhị quả liền - Đắc tam đạo th́ đắc tam quả liền - Đắc tứ đạo th́ đắc tứ quả liền. * Đạo - quả: cách diễn ra chớp nhoáng, tính bằng sát na liền kề (sanh, trụ, diệt), không đan xen, xen kẽ thời gian dù một sát na tiểu (Akāliko). Như vậy: Tâm thánh quả tức tâm quả siêu thế là trạng thái tâm đă thành tựu từ tâm đạo siêu thế. Nói theo lộ tŕnh tâm th́ tâm quả là nối kề sau sát na diệt của tâm đạo (không gián đoạn). Phân ra từng thánh quả ta thấy: - Thánh sơ quả là từ khi tâm sơ quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của tâm dũ tịnh (tiến bậc) của lộ đắc nhị đạo. - Thánh nhị quả là từ khi tâm nhị quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của tâm dũ tịnh (tiến bậc) sanh trong lộ đắc tam đạo. - Thánh tam quả là từ khi tâm tam quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của tâm dũ tịnh (tiến bậc) sanh trong lộ đắc tứ đạo. - Thánh tứ quả là từ khi tâm tứ quả phát sanh lần thứ nhất cho đến tâm tử - Níp bàn. * LƯU Ư: Để nhận thấy sự chớp nhoáng và liền kề đắc đạo, đắc quả, (đạo rồi quả) không bị gián đoạn, xin xem lộ tŕnh "Đắc sơ đạo (quả) " và lộ "Đắc 3 đạo cao" (3 đạo quả sau): * LỘ ĐẮC SƠ ĐẠO (QUẢ): A. Lộ đắc sơ đạo của người huệ yếu (độn căn):
ẩ: Chuẩn bị (Parikamma) ậ: Cận hành (upacāra) ở đây là cận đạo. u: Thuận tùng (Anuloma) hay thuận thứ. b: Chuyển tộc (Gotrabhū) chuyển tánh, bỏ bậc. ế: Dũ tịnh (vodāna) tiến bậc, tịnh hoá ạ: Đạo (Magga) ở đây là sơ đạo tâm. ả: Quả (Phala) ở đây là sơ quả tâm.
* Lộ tŕnh đắc sơ đạo trên là của người huệ yếu (tức độn căn) có: - 5 lộ: tính theo bậc thiền, sơ đạo sơ thiền..............đến sơ đạo ngũ thiền - 8 cái: tính theo khai ư môn...........đến ả thứ hai. - 15 thứ: khai ư (1) + đại thiện tương ưng (4) + sơ đạo (5) + sơ quả (5) - 17 cơi: cơi phàm vui ngũ uẩn (1 + 6 + 3 + 3 + 3 + 1 = 17 cơi) - 2 chặn: khai ư môn 1 chặn, đổng tốc 1 chặn (ẩ, ậ, u, b, ạ, ả, ả). - 3 người: phàm tam nhân, người sơ đạo, người sơ quả.
B. Lộ đắc sơ đạo của ngưởi huệ mạnh (lợi căn):
* Lộ tŕnh đắc sơ đạo (quả) trên là của người huệ mạnh (tức lợi căn) có: - 5 lộ, 8 cái, 15 thứ, 17 cơi vui phàm ngũ uẩn, 2 chặn và 3 người (như lộ đắc sơ đạo của người huệ yếu, chỉ khác là bớt thứ tâm chuẩn bị, và thêm một cái tâm quả).
* LỘ ĐẮC BA ĐẠO CAO (đắc 3 đạo sau: nhị, tam, tứ đạo. Do cách diễn biến giống nhau, nên kể chung. Tuy nhiên mỗi bậc đạo khi đắc phải tính theo bậc đắc đạo đó).
A. Lộ đắc ba đạo cao của người huệ yếu (độn căn):
- 15 lộ: mỗi đạo x 5 chi thiền x 3 đạo = 15 lộ - 8 cái: từ khai ư môn............. đến ả thứ 2 = 8 cái - 35 thứ: khai ư (1) + đại thiện tương ưng (4) + 3 đạo (15) + 3 quả (15) = 35 thứ - 2 chặn: khai ư môn 1 chặn + đổng tốc 1 chặn = 2 chặn - 7 người: 4 người quả + 3 người đạo (nhị, tam, tứ đạo) - 26 cơi: cơi vui hữu tâm (26), (31 cơi trừ vô tưởng (1) + cơi khổ (4) )
B. Lộ đắc ba đạo cao của người huệ mạnh (lợi căn):
Có: 15 lộ, 8 cái, 35 thứ tâm, 2 chặn, 7 người và 26 cơi Lộ này không có thứ tâm ẩ (chuẩn bị) do có lợi căn, huệ mạnh và thêm 1 cái tâm ả (quả), c̣n lộ, cái, thứ, chặn, người, cơi giống như lộ đắc 3 đạo cao của người huệ yếu.
|