NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 BÀI 8: TÂM ĐÁO ĐẠI NHIẾP  (Māhaggatācittasaṅgaha)

 

(Phụ trách:  Đại Đức Siêu Minh - Cư sĩ Đức Tài )

    

 

         I- ĐỊNH NGHĨA:

       - Tâm: đă định nghĩa.

       - Đáo đại:  Đáo là đến, đi đến, như đáo ngạn là đến bờ, đáo cảnh là đến đối tượng........

                       Đại là lớn, to, rất lớn..........

       Như vậy:

   Ở đây, tâm đáo đại là các thứ tâm hướng đến cảnh có tính chất khắn khít mạnh mẽ, lâu, rất lâu, trụ tâm trong cảnh bền vững; hay trạng thái tâm trụ tỉnh trong cảnh lâu dài, tức bắt cảnh trên đề mục rất bền lâu. Nên gọi là tâm đáo đại.

    Hoặc nói cách khác, đây là loại tâm thuộc về tâm thiền

    Tâm thiền là những tâm đ́nh trụ trong một cảnh rất nhiều cái cũng đặng, có pāli chú giải như vầy: ārammaṇūpanijjhānato = jhāṇaṃ: khắn khít vào cảnh (đề mục đến thiền) nên đây gọi là thiền

     có chú giải nữa như vầy: jhā sampayuttaṃ cittanti = Jhānacittaṃ: tâm mà hợp với chi thiền (khắn khít đề mục) nên gọi là tâm thiền (có chỗ dịch là đẳng tŕ, nghĩa là kiềm giữ một cảnh được nhiều cái (thứ) tâm đồng đều như nhau)

     Xin giải lư thêm, tâm đáo đại tức là tâm thiền, mà tâm thiền ở đây là thiền hiệp thế.

    Theo pāli có chú giải về thiền hiệp thế như vầy: lokeniyuttāni = lokiyā: thường hợp trong đời, hay hoà hợp tam giới, nên gọi là hiếp thế, tức là tâm sắc giới và vô sắc giới.

    Tóm lại:

    * Những pháp thiêu đốt Pháp nghịch là pháp cái, nên gọi là thiền, mà tâm thiền cũng mượn chi thiền để kêu là thiền.

 

Chi thiền     Đối nghịch (năm pháp cái)
     

1. Chi Tầm (vitakka)

-> Hôn trầm, thụy miên

2. Chi Tứ (vicāra)

-> Hoài nghi

3. Chi Hỷ (Pīti)

-> Sân (ưu)

4. Chi Lạc (sukhā)

-> Điệu cữ (phóng dật)

5. Chi Định (ekaggatā)

-> Tham dục (ái)

 

    * Nhiếp đă định nghĩa.

    II - CHI PHÁP:

        Tâm đáo đại nhiếp, là tính mỗi thứ tâm trong phần tâm đáo đại khi sinh khởi gom đặng bao nhiêu sở hữu, hay những tâm này lúc khởi sanh lên có những sở hữu nào cùng đồng sinh.

        Do tính chất là tâm thiền nên cách tính nhiếp dựa vào bậc thiền: sơ, nhị, tam, tứ và ngũ thiền. V́ vậy phần tâm đáo đại nhiếp được phân ra 5 phần như sau: (bao gồm tâm sắc giới và vô sắc giới, tức: sơ thiền đến tứ thiền thuộc về sắc giới, c̣n ngũ thiền gồm: 3 thứ tâm ngũ thiền sắc giới và 12 thứ tâm vô sắc giới.)

        1. Sơ thiền sắc giới (3 thứ tâm) nhiếp đặng:

            SH tợ tha (13) + SH tịnh hảo (22 đă trừ ngăn trừ phần 3) = 35 SH

        2. Nhị thiền sắc giới (3 thứ tâm) nhiếp đặng:

            Như sơ thiền sắc giới, chỉ bớt SH tầm (35 - 1) = 34 SH

        3. Tam thiền sắc giới (3 thứ tâm) nhiếp đặng:

            Như nhị thiền sắc giới, chỉ bớt thêm SH tứ (34 - 1) = 33SH

        4. Tứ thiền sắc giới (3 thứ tâm) nhiếp đặng:

            Như tam thiền sắc giới, bớt tiếp SH hỷ (33 - 1) = 32 SH

        5. Ngũ thiền hiệp thế (15 thứ tâm) nhiếp đặng:

           Như tứ thiền sắc giới, bớt SH vô lượng phần 2 (32 - 2) = 30 SH

        * CHI PHÁP - VIẾT TẮT:

        * Sở hữu tịnh hảo (25 thứ):

         1. S1H: Tâm sơ thiền sắc giới hay sơ thiền hiệp thế

         2. S2H: Tâm  nhị thiền sắc giới hay nhị thiền hiệp thế

         3. S3H: Tâm  tam thiền sắc giới hay tam thiền hiệp thế

         4. S4H: Tâm tứ thiền sắc giới hay tứ thiền hiệp thế

         5. S5H: Tâm ngũ thiền hiệp thế

             Vậy ta có chi pháp viết tắt như sau:

         1. S1H = B1 + B2 + SHTH (- B11) = 35 SH

         2. S2H = S1H - B2/1 = 34 SH

         3. S3H = S2H - B2/2 = 33 SH

         4. S4H = S3H - B2/5 = 32 SH

         5. S5H = S4H - B12 = 30SH

      III- PHÂN TÍCH

          Trước khi phân giải về tính chất nhiếp hay yếu hiệp, chúng ta t́m hiểu về chi thiền.

Nói theo bậc đắc chứng thiền hay thường gọi là thiền định, được tính chi thiền như là: (ở đây, là thiền chỉ hay thiền chỉ tịnh)

         - Tầm, tứ, hỷ, lạc, định: gọi sơ thiền

         - Tứ, hỷ, lạc, định: gọi nhị thiền

         - Hỷ, lạc, định: gọi tam thiền

         - Lạc, định: gọi tứ thiền

         - Định, xả: gọi ngũ thiền

       Vậy ư nghĩa các chi thiền ấy ra sao?

       1. Chi tầm: "t́m ṭi cảnh cho tâm"(thiền). Ư nói: hướng tâm đến đề mục (đối tượng) tu tập và nhận bắt gom về (cảnh) cho tâm. Do trạng thái t́m ṭi, kiếm đối tượng, năng động bắt đề mục (tu tập), cho nên phá vỡ sự tŕ trệ, dă dượi, buồn ngũ của  tâm. Bởi thế tầm là pháp đối trị với hôn phần cái (hôn trầm và thụy miên)

      2. Chi tứ: "chăm nom cảnh gọi là tứ". Ư nói: cách ḱm giữ, quan sát trên đề mục (đối tượng) tu tập. Do tính chất tâm đang hoạt động mạnh tập trung trong cảnh, nên đẩy lùi cùng khống chế và diệt trừ hoài nghi cái.

      3. Chi hỷ: "no nê với cảnh gọi là hỷ". Ư nói: sự mừng no vui (hớn hở, phơi phới) của thân tâm trong đề mục tu tập, cách vui hay pháp hỷ có 5, gọi là ngũ hỷ:

       a. Tiểu hỷ (khuddikīpīti) là cách mừng (vui) như rởn óc (tiểu đản hỷ)

       b. Đản hỷ (khanikāpīti) là cách vui như chớp nhoáng, diễn ra trong một sát na nên cũng gọi là sát na hỷ

       c. Ba hỷ hay hải triều hỷ (okkantikāpīti) là cách vui như sóng dội vào bờ

       d. Khinh hỷ hoặc khinh thăng hỷ (ubbegapīti) là cách mừng vui như thân nhẹ, cũng có thể bay bổng lên

      đ. Sẫm hỷ c̣n gọi sung măn hỷ (dharanapīti) là cách mừng vui, làm như ăn uống vật chi rất bổ khoẻ đượm nhuần cả thân thể (toàn thân).

      Do tính chất no vui, hoan hỷ trong cảnh (đề mục) tu tập cho nên chi hỷ khống trị pháp cái là sân độc cái

       4. Chi lạc:  khác với chi hỷ ở chỗ là trạng thái hưởng cảnh vui một cách vi tế hơn, kín đáo hơn; tức như người đang khát nước, thấy được nước th́ mừng (trạng thái này là chi hỷ) rồi đặng uống nước (uống nước vào miệng) cảm nhận lan toả chất nước thấm trong thân thể như thế nào, th́ đây ví như chi lạc. Bởi do cách mạnh mẽ sâu sắc hưởng cảnh an lạc của tâm trong đề mục tu tập, nên chi lạc chế ngự và đối nghịch với điệu cữ tức trạo cữ cái.

       5. Chi định: là "đ́nh - trụ vào cảnh". Ư nói: sự chứng và trú (tứ thiền phân theo kinh - Nikāya) ngũ thiền (theo Abhidhammabhājanīyaṃ) do đoạn trừ lạc, câu hành xả. Trong khi ấy có sự trụ tỉnh, định trú tâm trên đề mục với cách mănh lực kiên cố, cùng có sự thản nhiên, sự b́nh thản, xả tâm, tức câu hành với xả. Nên thường gọi là chi định và xả. Do tác năng chi thiền cao, và mănh lực tâm đ́nh trụ vào đề mục kiên cố, nên chi định hay định và xả thiêu đốt được tham dục cái.

* PHẦN T̀M HIỂU CÁCH TÍNH SỐ SỞ HỮU NHIẾP ĐẶNG CỦA TÂM ĐÁO ĐẠI NHIẾP:

      1. Ba thứ tâm sơ thiền sắc giới: gồm thiện, quả, tố, sơ thiền, phải đủ 5 chi thiền (tạm ví dụ: như học bậc tiểu học có lớp 1 đến lớp 5, mà học sinh phải biết và học hành qua 5 lớp đó): tầm, tứ, hỷ, lạc, định.

       - Về số sở hữu nhiếp được là 35 sở hữu, trong đó có sở hữu tợ tha (13) + sở hữu tịnh hảo (22 đă trừ ngăn trừ phần 3); do các vị này đang chứng và trú vào các bậc thiền, khỏi cần dùng chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

       - C̣n vô lượng phần nên thêm là: nếu tu với đề mục bi mới có sở hữu bi hợp, hoặc tu theo đề mục tuỳ hỷ, mới có sở hữu tuỳ hỷ hợp.

      2. Ba thứ tâm nhị thiền sắc giới: về định mạnh hơn sơ thiền nên bớt sở hữu tầm, c̣n lại 34 sở hữu hợp. Sở hữu vô lượng phần có hoặc không như đă giải (ở sơ thiền)

       Xin tŕnh bày thêm, theo chánh Tạng Bộ phân tích - vibhaṅga thuộc Tạng Abhidhammapitaka, th́ thiền phân theo tầng tức từng bậc, th́ có 5 là: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và ngũ thiền sắc giới - vô sắc giới (gọi chung ngũ thiền hiệp thế hoặc ngũ thiền đáo đại). Ở đây định hữu tầm, hữu tứ là định cho sơ thiền; định vô tầm hữu tứ là chỉ cho định nhị thiền; định vô tầm, vô tứ là loại định từ tam thiền trở lên. Cho nên phần phân tích này có dùng chữ định mạnh hơn là từ nghĩa lư đó.

       3. Ba thứ tâm tam thiền sắc giới: đạt đến trạng thái vô tầm, vô tứ, nên bớt cả sở hữu tầm và sở hữu tứ; do sức định mạnh hơn nhiều, tức là bắt buộc cảnh phải đến và khắn khít hay nói cách khác sức hút mạnh v́ năng lực tâm lúc bấy giờ an trụ vững vàng, kiên vững trong cảnh. Về sở hữu bớt thêm sở hữu tứ, c̣n 33 sở hữu

      4. Ba thứ tâm tứ thiền sắc giới: tiếp tục rời bỏ luôn chi hỷ, c̣n lạc, định, tức cũng hỷ thọ nhưng tế nhị hơn, vi tế hơn những tâm hỷ thọ khác. Nói theo cách khác là "vui chớ không mừng" so sánh như sau:

       - Mừng: ví như đang khát nước, mà gặp được nước uống là mừng

       - Vui: ví như được uống nước, hưởng được cảm giác đă khát là vui

         Do rời bỏ chi hỷ, nên bớt thêm sở hữu hỷ, phần nhiếp sở hữu là 32

      5. Mười lăm thứ tâm ngũ thiền hiệp thế: gồm 3 thứ tâm ngũ thiền sắc giới (thiện, quả, tố) và 12 thứ tâm vô sắc giới, gom chung lại v́ đồng chi pháp, tức đồng số sở hữu nhiếp = tợ tha (13) + sở hữu tịnh hảo biến hành (19) + SH trí tuệ (1) = 30 SH

         Tầng thiền này hay bậc ngũ thiền hiệp thế, do không bắt cảnh bi và tuỳ hỷ (đă vượt qua) chỉ c̣n phần sở hữu nhất định là 30. Dù tu đề mục xả là cảnh của hành xả tức sở hữu trung b́nh (c̣n gọi là sở hữu hành xả) - TATRAMAJJHATTATA cetasika, mà sở hữu này đă có trong sở hữu tịnh hảo biến hành rồi.

         Sau tŕnh bày về tính chất nhiếp của các loại tâm thiền, tức tâm đáo đại nhiếp; nhận thấy có vài vấn đề liên quan đến thứ tâm này như: tánh nết, đề mục tu tập, mà chú giải có đề cập đến, nay nêu ra để cùng suy xét đặng áp dụng vào thực hành cho đúng và trúng

       * TÁNH NẾT: người tu tập thiền định, nên t́m hiểu ḿnh thuộc tánh nết ǵ sau đây:

        1. Tánh (tính) tín (đức tin, niềm tin, tín ngưỡng.....)

        2. Tánh tầm (trạng thái ưa t́m ṭi, t́m kiếm.........)

        3. Tánh giác (nói nôm na là trực giác tỏ ngộ nhanh.........)

        4. Tánh tham (tính ái hay đắm nhiễm cảnh)

        5. Tánh sân (tính nóng nảy, hay sầu muộn dễ bắt cảnh nghịch)

        6. Tánh si (tính không sáng suốt, hay nghi ngờ, chao đảo...........)

          Để có một phần nào nhận ra các tính nết ấy, phải nhờ các vị thầy kinh nghiệm (thông hiểu pháp học và đă từng trải qua pháp hành đúng và trúng); c̣n bằng không, theo chúng tôi nên học pháp học cho thông suốt, học cho rơ nghĩa lư về chiều rộng lẫn chiều sâu, và sau đó có thể tự trắc nghiệm bản thân ḿnh.

          Như trong cuốn "NỘI DUNG VÔ TỶ PHÁP" của ngài Hoà thượng Tịnh Sự, phần lời tựa ngài có viết "Chúng ta muốn hiểu thấu, chứng đắc chắc phải học hành đầy đủ, hầu tránh sai lầm, mê tín"

 

BẢNG TOÁT YẾU

 

         I. TÁNH VÀ ĐỀ MỤC

         * Phổ cập các tánh (tham, sân, si, tầm, tín, giác) có 10 đề mục

           Tứ đại (4) + hư không (1) + ánh sáng (1) + vô sắc (4)

         * Tánh tham ái có 11 đề mục

           Thập bất hỷ (10) + niệm thân thể trược (1)

         * Tánh sân có 8 đề mục:

           Xanh, vàng, đỏ, trắng + tứ vô lượng tâm (4)

         * Tánh tầm và si có 1 đề mục:

            Niệm số tức quan (1) (ở đây là đếm số)

         * Tánh tín có 6 đề mục:

            Niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên

         * Tánh giác có 4 đề mục:

            Niệm níp bàn, tử, quan sát 4 chất (tứ đại), quan sát vật thực.

       II. BẬC THIỀN VÀ ĐỀ MỤC

         * Sơ thiền có 25 đề mục:

          Thập hoàn tịnh (10) + thập bất hỷ (10) + phụ niệm thể trược (1) + niệm số tức quan (1) +    từ + bi + hỷ

         * Nhị thiền, tam thiền, tứ thiền có đồng số đề mục là 14:

           Thập hoàn tịnh (10) + niệm số tức quan (1) + từ + bi + hỷ

         * Ngũ thiền có 12 đề mục:

           Thập hoàn tịnh (10) + niệm số tức quan (1) + xả

         * Bậc ngũ thiền vô sắc:

            Mượn 4 cảnh vô sắc làm đề mục (mỗi bậc lấy một cảnh là đề mục như: không vô biên xứ, có đề mục không vô biên xứ; thức vô biên xứ, có đề mục thức vô biên.............)

 

 

 

 

  [Bài 1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8]