NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

I. ĐỊNH NGHĨA:

 

* Tâm: đă định nghĩa

* Vô nhân: không nhân, phi nhân, không có nhân........

* Nhiếp: đă định nghĩa

 

Như vậy:

Tâm vô nhân nhiếp là tính mỗi thứ tâm thuộc về không có nhân tương ưng (vô tham, vô sân, vô si, tham, sân, si) gom được bao nhiêu sở hữu khi sanh khởi

 

Hay là:

Tính mỗi thứ tâm vô nhân sanh lên nhiếp đặng sở hữu nào, tức đồng sinh với sở hữu hợp để bắt cảnh.

 

Điều lưu ư: khi nói về tâm vô nhân, ta cần phải suy xét hiểu là "không có nhân tương ưng"chớ chẳng phải không nhân sanh đâu.

 

II. CHI PHÁP:

 

- Tâm ngũ song thức nhiếp đặng: sở hữu biến hành = 7 sở hữu

- Tâm tiếp thâu, thẩm tấn xả thọ, khai ngũ môn nhiếp đặng: sở hữu tợ tha (trừ cần, hỷ, dục) = 10 sở hữu

- Tâm thẩm tấn hỷ thọ nhiếp đặng: tợ tha (trừ cần, cộng dục) = 11 sở hữu

- Tâm khai ư môn nhiếp đặng: tợ tha (trừ hỷ, cộng dục) = 11 sở hữu

- Tâm tiếu sinh nhiếp đặng: tợ tha (trừ dục) = 12 sở hữu

 

CHI PHÁP VIẾT TẮT

 

10 (NST) = B1 : 7 SH

A4/6 + A5/6 + A4/7 + A5/7 + A6/1 = B1 + B2 (- B2/4, B2/5, B2/6) : 10 SH

A5/8 = B1 + B2 (- B2/4, B2/6) : 11 SH

A6/2 = B1 + B2 (- B2/5, B2/6) : 11 SH 

A6/3 = B1 + B2 (- B2/6) : 12 SH

 

III. PHÂN TÍCH:

 

a. Tâm ngũ song thức:

Ở đây là 10 thứ tâm gom lại gồm có: tâm nhăn thức 2 thứ, nhĩ thức 2 thứ, tỷ thức 2 thứ, thiệt thức 2 thứ và thân thức 2 thứ. V́ có chung phần nhiếp sở hữu là sở hữu biến hành (7 loại sở hữu) nên sắp chung, và đồng thời 10 thứ tâm này thường yếu hiệp đồng sinh, sinh khởi từng cặp (tách riêng) có đồng chi pháp giống nhau, v́ thế hay gộp chung, tính chung; do vậy thường gọi là ngũ song thức (ngũ là 5, song là 2, hai cái 5 là 10)

 

Chúng ta thắc mắc hoặc đặt lên vấn đề là: tại sao ngũ song thức lại nhiếp ít sở hữu thế? Hay không đặng nhiều sở hữu hợp?

- V́ đặt tính của các thứ tâm này (ngũ song thức) làm việc nhỏ nhoi, hạn hẹp trong phạm vi biết cảnh; như nhăn thức chỉ biết màu, nhĩ thức chỉ biết âm thanh (tiếng).......... c̣n phần phân biệt màu ǵ xanh, vàng, đỏ, tím......âm thanh ra sao trầm, bổng.......là do chức năng của các thứ tâm khác tiếp tục làm việc; đồng thời những thứ tâm thuộc về ngũ song thức lại bị dưới quyền của sắc thanh triệt (tâm nương vào căn, vật, môn......) để thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng mà thôi. Ví như cái máy xài (sử dụng) một cách rất ít bộ phận (tâm này tạm ví dụ như: xe đạp ít bộ phận hơn xe gắn máy, xe gắn máy ít bộ phận hơn xe ô tô.......)

 

b. Tâm tiếp thâu (2), thẩm tấn thọ xả (2), khai ngũ môn (1): Năm thứ tâm nêu trên có thêm 3 sở hữu là

- tầm (vitakka): v́ cảnh của những tâm này chẳng phải kề cận, mới có vói t́m, kiếm cảnh, đem tâm xề đến cảnh là sở hữu tầm (khác với ngũ song thức - cảnh chong ngay mới bắt)

- Tứ (vicāra): cảnh đối với 5 tâm này có cách dang ra, tâm phải kềm lại, giữ lại để quan sát, đó là sở hữu tứ

- Thắng giải (Adhimokkha): kềm cảnh rồi (sở hữu tứ) phải thâu cảnh, mà thâu được cảnh phải đoán quyết, như quan toà phân định theo luật; đây là sở hữu thắng giải.

 

Hay hiểu rỏ hơn về thắng giải là: do làm phận sự (làm việc) lớn lao hơn (không thích hợp với loại tâm ngũ song thức - làm việc nhỏ nhoi), không có hoài nghi pháp tiến hoá và có cảnh đáng giải quyết, giải quyết đặng tức là sở hữu thắng giải

 

c. Tâm thẩm tấn thọ hỷ:

Tâm nhiếp sở hữu hỷ là tâm thẩm tấn thọ hỷ, dù chưa quá vi tế, vẫn có sự mừng hay cho là mừng ít, vui ít cũng là sở hữu hỷ

 

d. Tâm khai ư môn:

Do đặc tính tâm khai ư môn về thọ là: thọ xả nên bớt hỷ, thêm vào đó là cần. Về việc làm: cách làm việc nặng nề hơn, có ráng lên đó là sở hữu cần

 

đ. tâm tiếu sinh:

Tâm thực hiện việc cười của bậc thinh văn Alahán, lại làm việc (sự) đổng tốc (Javana), nên tính năng phải nhai nghiền cảnh và ráng điều khiển mĩm cười hở răng mới có sở hữu cần và sở hữu hỷ

 

Trạng thái tâm tiếu sinh là cách gượng cười của Bậc thinh văn, nên không có cách muốn, mà muốn là dục cho nên không nhiếp đặng sở hữu dục (cười gượng buột phải cười ḷng không muốn).

 

Câu hỏi 1: Tâm vô nhân nhiếp có thay đổi số lượng sở hữu hợp, vậy do đặc tính của tâm hay tính năng của sở hữu tâm? Tại sao?

 

Câu hỏi 2: Tâm tiếu sinh là tâm tạo sự cười cho bậc thinh văn, dù là gượng cười, nhưng theo cách nhận định tính trên cảnh (biềt 1 cảnh) có sở hữu tác ư (trong sở hữu biến hành) là tác ư thành lộ, tác ư thành cảnh (đổng tốc), chúng ta thấy vẫn có cố ư tạo sự cười, mà đă cố ư tạo sự cười tất có mĩm cười (dù đó là cười gượng đi chăng) muốn cười tại sao? v́ muốn là sở hữu dục tâm tiếu sinh không nhiếp sở hữu dục?

 

 

 

 

 

[Bài 1]  [2]  [3]  [4]  [5]  [6] [7] [8]

 

 

 

  Text Box: I. ĐỊNH NGHĨA:
 
* Tâm: đă định nghĩa
* Vô nhân: không nhân, phi nhân, không có nhân........
* Nhiếp: đă định nghĩa
 
Như vậy: 
Tâm vô nhân nhiếp là tính mỗi thứ tâm thuộc về không có nhân tương ưng (vô tham, vô sân, vô si, tham, sân, si) gom được bao nhiêu sở hữu khi sanh khởi
 
Hay là:
Tính mỗi thứ tâm vô nhân sanh lên nhiếp đặng sở hữu nào, tức đồng sinh với sở hữu hợp để bắt cảnh.
 
Điều lưu ư: khi nói về tâm vô nhân, ta cần phải suy xét hiểu là "không có nhân tương ưng"chớ chẳng phải không nhân sanh đâu.
 
II. CHI PHÁP:
 
- Tâm ngũ song thức nhiếp đặng: sở hữu biến hành = 7 sở hữu
- Tâm tiếp thâu, thẩm tấn xả thọ, khai ngũ môn nhiếp đặng: sở hữu tợ tha (trừ cần, hỷ, dục) = 10 sở hữu
- Tâm thẩm tấn hỷ thọ nhiếp đặng: tợ tha (trừ cần, cộng dục) = 11 sở hữu
- Tâm khai ư môn nhiếp đặng: tợ tha (trừ hỷ, cộng dục) = 11 sở hữu
- Tâm tiếu sinh nhiếp đặng: tợ tha (trừ dục) = 12 sở hữu
 
CHI PHÁP VIẾT TẮT
 
10 (NST) = B1 : 7 SH
A4/6 + A5/6 + A4/7 + A5/7 + A6/1 = B1 + B2 (- B2/4, B2/5, B2/6) : 10 SH
A5/8 = B1 + B2 (- B2/4, B2/6) : 11 SH
A6/2 = B1 + B2 (- B2/5, B2/6) : 11 SH 
A6/3 = B1 + B2 (- B2/6) : 12 SH
 
III. PHÂN TÍCH:
 
a. Tâm ngũ song thức: 
Ở đây là 10 thứ tâm gom lại gồm có: tâm nhăn thức 2 thứ, nhĩ thức 2 thứ, tỷ thức 2 thứ, thiệt thức 2 thứ và thân thức 2 thứ. V́ có chung phần nhiếp sở hữu là sở hữu biến hành (7 loại sở hữu) nên sắp chung, và đồng thời 10 thứ tâm này thường yếu hiệp đồng sinh, sinh khởi từng cặp (tách riêng) có đồng chi pháp giống nhau, v́ thế hay gộp chung, tính chung; do vậy thường gọi là ngũ song thức (ngũ là 5, song là 2, hai cái 5 là 10)
 
Chúng ta thắc mắc hoặc đặt lên vấn đề là: tại sao ngũ song thức lại nhiếp ít sở hữu thế? Hay không đặng nhiều sở hữu hợp?
- V́ đặt tính của các thứ tâm này (ngũ song thức) làm việc nhỏ nhoi, hạn hẹp trong phạm vi biết cảnh; như nhăn thức chỉ biết màu, nhĩ thức chỉ biết âm thanh (tiếng).......... c̣n phần phân biệt màu ǵ xanh, vàng, đỏ, tím......âm thanh ra sao trầm, bổng.......là do chức năng của các thứ tâm khác tiếp tục làm việc; đồng thời những thứ tâm thuộc về ngũ song thức lại bị dưới quyền của sắc thanh triệt (tâm nương vào căn, vật, môn......) để thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng mà thôi. Ví như cái máy xài (sử dụng) một cách rất ít bộ phận (tâm này tạm ví dụ như: xe đạp ít bộ phận hơn xe gắn máy, xe gắn máy ít bộ phận hơn xe ô tô.......)
 
b. Tâm tiếp thâu (2), thẩm tấn thọ xả (2), khai ngũ môn (1): Năm thứ tâm nêu trên có thêm 3 sở hữu là
- tầm (vitakka): v́ cảnh của những tâm này chẳng phải kề cận, mới có vói t́m, kiếm cảnh, đem tâm xề đến cảnh là sở hữu tầm (khác với ngũ song thức - cảnh chong ngay mới bắt)
- Tứ (vicāra): cảnh đối với 5 tâm này có cách dang ra, tâm phải kềm lại, giữ lại để quan sát, đó là sở hữu tứ
- Thắng giải (Adhimokkha): kềm cảnh rồi (sở hữu tứ) phải thâu cảnh, mà thâu được cảnh phải đoán quyết, như quan toà phân định theo luật; đây là sở hữu thắng giải.
 
Hay hiểu rỏ hơn về thắng giải là: do làm phận sự (làm việc) lớn lao hơn (không thích hợp với loại tâm ngũ song thức - làm việc nhỏ nhoi), không có hoài nghi pháp tiến hoá và có cảnh đáng giải quyết, giải quyết đặng tức là sở hữu thắng giải
 
c. Tâm thẩm tấn thọ hỷ:
Tâm nhiếp sở hữu hỷ là tâm thẩm tấn thọ hỷ, dù chưa quá vi tế, vẫn có sự mừng hay cho là mừng ít, vui ít cũng là sở hữu hỷ
 
d. Tâm khai ư môn:
Do đặc tính tâm khai ư môn về thọ là: thọ xả nên bớt hỷ, thêm vào đó là cần. Về việc làm: cách làm việc nặng nề hơn, có ráng lên đó là sở hữu cần
 
đ. tâm tiếu sinh:
Tâm thực hiện việc cười của bậc thinh văn Alahán, lại làm việc (sự) đổng tốc (Javana), nên tính năng phải nhai nghiền cảnh và ráng điều khiển mĩm cười hở răng mới có sở hữu cần và sở hữu hỷ
 
Trạng thái tâm tiếu sinh là cách gượng cười của Bậc thinh văn, nên không có cách muốn, mà muốn là dục cho nên không nhiếp đặng sở hữu dục (cười gượng buột phải cười ḷng không muốn).
 
Câu hỏi 1: Tâm vô nhân nhiếp có thay đổi số lượng sở hữu hợp, vậy do đặc tính của tâm hay tính năng của sở hữu tâm? Tại sao?
 
Câu hỏi 2: Tâm tiếu sinh là tâm tạo sự cười cho bậc thinh văn, dù là gượng cười, nhưng theo cách nhận định tính trên cảnh (biềt 1 cảnh) có sở hữu tác ư (trong sở hữu biến hành) là tác ư thành lộ, tác ư thành cảnh (đổng tốc), chúng ta thấy vẫn có cố ư tạo sự cười, mà đă cố ư tạo sự cười tất có mĩm cười (dù đó là cười gượng đi chăng) muốn cười tại sao? v́ muốn là sở hữu dục tâm tiếu sinh không nhiếp sở hữu dục?
 
 
 
 
 
[Bài 1]  [2]  [3]  [4]  [5]  [6] [7] [8]
 
 
 
 
Text Box: BÀI 6: TÂM VÔ NHÂN NHIẾP 
(AHETUKA  CITTA SAṄGAHA)
Phụ trách:  Đại Đức Siêu Minh - Cư sĩ Đức Tài