|
TÂM NHIẾP SỞ HỮU BÀI 5: TÂM BẤT THIỆN NHIẾP (Phụ trách: Đại Đức Siêu Minh - Cư sĩ Đức Tài )
Trước tiên t́m hiểu đôi nét về tâm (citta) và nhiếp saṅgaha có nghĩa lư như thế nào. Sau đó, là đi vào bài học thứ 5: TÂM BẤT THIỆN NHIẾP A. TÂM
Chữ tâm ở đây được dịch từ phạn ngữ pāli "citta". Đồng thời có chú giải: Tâm theo pāli như sau: - Cittī karotīti = cittaṃ (nồng cốt) làm cho chúng sanh đặc biệt sai khác, gọi là tâm; hoặc căn nguyên làm cho chúng sanh khác biệt gọi là tâm - Arammanaṃ cintetīti = cittaṃ: biết cảnh gọi là tâm (có chỗ dịch: tư duy đến cảnh gọi là tâm) - Cintanamattaṃ = cittaṃ: biết gọi là tâm - Cinteti sapayutta dhammā etenāti = cittaṃ: nhờ pháp tương ưng yếu hiệp (phối hợp) là các sở hữu câu sanh, mà đặng biết cảnh (nhiều cảnh) ấy gọi là tâm.
Nghĩa rút gọn: TÂM LÀ BIẾT CẢNH
Cảnh nói hẹp có 6: cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp
Cảnh nói rộng có 21: từ cảnh sắc đến cảnh xúc là 5 cảnh (cảnh ngũ), cảnh pháp, cảnh chân đế, cảnh tục đế, cảnh dục giới, cảnh đáo đại, cảnh níp bàn, cảnh danh pháp, cảnh sắc pháp, cảnh quá khứ, cảnh hiện tại, cảnh vị lai, cảnh ngoại thời, cảnh nội phần, cảnh ngoại phần và cảnh nội và ngoại phần (xem bài học về cảnh nhiếp)
* Để rộng đường hiểu biết khi nói về tâm (citta), ngài Mahāthero Saṅtakicco (HT Tịnh Sự) có phân giải và soạn dịch như sau:
Tâm có 5 nghĩa: THEO KHO TÀNG PHÁP HỌC CỦA THÁI a. Thâu bắt biết cảnh rỏ rệt gọi là TÂM b. Do có tâm lộ đổng tốc, tốc lực bằng thiện, bất thiện, quả và tố nên gọi là TÂM c. Chủ trương phiền năo quến tụ tạo quả nên gọi là TÂM d. Chủ trương khéo léo bằng lối suy xét, t́m, sắp đặt trong đời nhiều cách đặc biệt, nên gọi là TÂM đ. Do thành trùng dụng duyên tích tụ và bị nghiệp tạo, nên gọi là TÂM (trùng dụng duyên hay cố hưởng duyên, có chỗ dịch là tập hành duyên; chi pháp: đổng tốc hiệp thế cộng sở hữu hợp trừ đổng tốc chót)
Tâm có 6 nghĩa: THEO BÀ GIÁO SƯ NEP. a. Tâm chủ trương có nghĩa đặc biệt làm ra các nghệ thuật. Ư nói: bao nhiêu kỹ nghệ trong đời, do tâm chủ trương, tạo sửa thành đồ sai khác, tuỳ theo ư muốn, ví như kỹ sư và thợ b. Tâm chủ trương làm cho tâm có phần khác khác. Ư nói: tạo nghiệp có sai khác nhau, tánh nết có khác nhau; thành 4 giống thiện, bất thiện, quả và vô kư c. Tâm chủ trương quến tụ nghiệp và phiền năo. Ư nói: lẽ thường mỗi chúng sanh c̣n nhiều phiền năo, đâu phải chỉ sanh một, hai kiếp hoặc một hai lần, mà nghiệp c̣n lưu tồn vô số kể; nếu không có tâm (vĩnh viễn - Níp bàn) th́ chẳng có phiền năo và nghiệp chi cả d. Tâm chủ trương bảo tŕ quả - do nghiệp và phiền năo quến tụ. Ư nói: quả ở đây là do nghiệp biệt thời (sở hữu tư hiệp với tâm thiện hay bất thiện để làm thành tựu) tạo ra. Ngài hoà thượng Tịnh Sự có đưa ra thí dụ về vấn đề này như sau: - NGHIỆP BIỆT THỜI (dị thời) như tiếng thu trong băng, tuy không thấy và nghe người nói, mà khi phát ra vẫn có tiếng (nói). Phiền năo như người thu băng (đĩa, dĩa); tâm như máy và cuộn băng; nếu không có máy th́ tiếng nương đâu mà c̣n lại phát ra. đ. Tâm chủ trương tự duy tŕ cơ tánh. Ư nói: là bộ máy tâm, mỗi cái - mỗi thứ sanh với nhau liên tiếp, như nước phóng c̣n giọt. V́ có bất đoạn duyên, liên tiếp duyên........ e. Tâm chủ trương biệt tài bắt cảnh. Ư nói: là không có cảnh nào gặp mà tâm bắt không đặng; dù cho sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp cho đến níp bàn; hễ gặp đều bị tâm biết cảnh.
PHẦN PHÂN GIẢI TÓM TẮT VỀ TÂM: NGÀI JOTIKA (Sương Minh) gom lại có 3: 1. Tâm vẫn biết cảnh luôn luôn 2. Tâm làm nhân cho sở hữu biết cảnh, tương tợ như người dẫn dắt. 3. Tâm (chứng minh) làm cho động vật và bất động vật trong đời thành ra rất nhiều cái khác nhau (nhiều cái sai khác)
TÂM (CITTA): về nhân tạo hay nhân sanh, có 4: a. Nghiệp quá khứ (biệt thời nghiệp duyên) b. Cảnh (ārammana) c. Sở hữu (cetasika) d. Vật (sắc thanh triệt hay căn)
TÂM (CITTA) về đặc tính có 4 ư nghĩa: a. Trạng thái (của tâm): là biết cảnh b. Phận sự (của tâm): là dẫn dắt sở hữu c. Thành tựu (của tâm): là nối nhau (nối liền nhau) d. Nhân cần thiết (của tâm): là danh (sở hữu), sắc (và cảnh)
KẾT LUẬN: TÂM - CITTA: BIẾT CẢNH
B. NHIẾP
Chữ nhiếp ở đây được dịch từ phạn ngữ pāli SAṄGAHA chiết tự ra tta thấy: - SAṄ: là dón gọn - GAHA: là gom góp hợp lại, gom hiệp lại
Vậy: Saṅgaha nghĩa là nhiều mà hợp lại, hiệp lại, kêu chung hoặc những pháp chung hợp với nhau, do có phần đồng kêu chung lại gọi là nhiếp (gom gọn)
Hay là: khi nói về nghĩa - lư th́ các pháp có phần đông gom lại đặng kêu tên chung cho dón gọn, nên dịch là nhiếp (gom dón, gọn) tức cho ít chữ mà gồm nhiều pháp hoặc chữ ít mà nghĩa và lư đầy đủ.
Saṅgaha: dịch theo Hán Việt có nhiều cách như là: chiếu cố, chu tế, tư trợ, tán pḥ, pḥ trợ hoặc tập yếu, yếu hợp, yếu hiệp và nhiếp.
Như vậy: Tâm nhiếp - cittasaṅgaha là khi một tâm sinh khởi hay thứ tâm nào phát sinh sẽ có bao nhiêu sở hữu cùng đồng sinh, tức thứ tâm đó gom được loại sở hữu nào và sở hữu không yếu hiệp được.
Ở đây, phải được hiểu khi danh pháp khởi sinh, không phải đơn lẻ mà phải có sự đồng sanh, đồng phối hợp, đồng yếu hiệp và đồng tương tác. Do đó, tâm nhiếp là tính mỗi thứ tâm (121 thứ tâm) khi sinh lên sẽ nhiếp (gom đặng) bao nhiêu pháp đồng sanh (sở hữu tâm) thuộc về tính năng thứ tâm đó (bao gồm tợ tha, hay sở hữu bất thiện, hoặc sở hữu tịnh hảo).
Tâm có phân ra 121 thứ tâm và chia thành 5 phần như sau: - Tâm bất thiện (12 thứ) - Tâm vô nhân (18 thứ)
- Tâm đáo đại (27 thứ) - Tâm siêu thế (40 thứ)
Các phần phân Tâm sẽ phân giải trong các bài học sau; tính từ bài thứ 5: Tâm bất thiện nhiếp....
(Bài 5) TÂM BẤT THIỆN NHIẾP - AKUSALA CITTASAṄGAHA
I. ĐỊNH NGHIĂ:
Cách chiết tự đă định nghĩa
II. CHI PHÁP:
Phân ra 12 thứ tâm, thuộc về tâm tham (8), tâm sân (2) và tâm si (2) như sau:
1. Tâm tham thứ 1 nhiếp đặng: sở hữu tợ tha (13) + SH si phần (4) + SH tham + SH tà kiến = 19 SH 2. Tâm tham thứ 2 nhiếp đặng: Như tâm tham thứ 1 cộng SH hôn phần (2) = 21 SH 3. Tâm tham thứ 3 nhiếp đặng: SH tợ tha (13) + SH si phần (4) + SH tham + SH ngă mạn = 19 SH 4. Tâm tham thứ 4 nhiếp đặng:
TÂM THAM 5. Tâm tham thứ 5 nhiếp đặng: SH tợ tha trừ hỷ (12) + SH si phần (4) + tham + tà kiến = 18 SH 6. Tâm tham thứ 6 nhiếp đặng: Như tâm tham thứ 5 cộng SH hôn phần (2) = 20 SH 7. Tâm tham thứ 7 nhiếp đặng: SH tợ tha trừ hỷ (12) + SH si phần (4) + tham + ngă mạn = 18 SH 8. Tâm tham thứ 8 nhiếp đặng: Như tâm tham thứ 7 cộng SH hôn phần (2) = 20 SH
9. Tâm sân thứ 1 nhiếp đặng: SH tợ tha trừ hỷ (12) + SH si phần (4) + sân phần (4) = 20 SH TÂM SÂN 10. Tâm sân thứ 2 nhiếp đặng: Như tâm sân thứ 1 cộng SH hôn phần (2) = 22 SH
SH tợ tha trừ thắng giải, hỷ, dục (10) + si phần (4) + SH hoài nghi = 15 SH
SH tợ tha trừ hỷ, dục (11) + SH si phần (4) = 15 SH
CHI PHÁP VIẾT TẮT
A1/1 = B1 + B2 +B3 + B4/1 + B4/2 = 19 SH A1/2 = A1/1 + B6 = 21 SH A1/3 = B1 + B2 + B3 + B4/1 + B4/3 = 19 SH A1 A1/4 = A1/3 + B6 = 21 SH
A1/6 = A1/5 + B6 = 20 SH A1/7 = A1/3 - B2/5 = 18 SH A1/8 = A1/7 + B6 = 20 SH
A2/1 = B1 + B2 (- B2/5) + B3 + B5 = 20 SH A2 A2/2 = A2/1 + B6 = 22 SH
A3/1 = B1 + B2/1 +B2/2 + B2/4 + B3 + B7 = 15 SH
III. PHÂN TÍCH:
Tâm sinh khởi nhiếp đặng số sở hữu (gom gọn sở hữu đồng sinh) tuỳ theo đặc tính chung và tính chất riêng củ từng loại sở hữu đó.
Như: - Sở hữu biến hành có đặc tính chung v́ có mặt ở tất cả tâm (121 thứ tâm) - Sở hữu biệt cảnh có tính chất riêng, v́ có khi được nhiếp, khi không gom đặng. - Sở hữu bất thiện cũng có đặc tính chung và riêng: si phần (chung), tham phần (riêng), sân phần (riêng)........ - Sở hữu tịnh hảo cũng vậy: sở hữu tịnh hảo biến hành đặc tính chung tâm tịnh hảo nhiếp hết, c̣n lại có tính chất khác nhau nhiếp đặng và không.
* Nay tŕnh tự giải thích nhiều khía cạnh mà tâm nhiếp đặng:
a. Sở hữu biến hành có 7 thứ: - Xúc: tâm + cảnh + môn có sự chạm nhau (sở hữu xúc) - Thọ: khi tâm sinh ra phải bắt hay hứng chịu cảnh (sở hữu thọ) - Tưởng: cách bị tâm sau này nhớ, kiềm nhớ sự vật đă qua (sở hữu tưởng) - Tư: sự tạo tác, cố quyết để bắt cảnh, để lại ảnh hưởng việc làm (sở hữu tư) - Nhất hành: tâm bắt trúng ngay cảnh, như vuốt mối chỉ gom lại nhọn, xỏ lọt vào lỗ kim (sở hữu nhất hành) - Mạng quyền: sự c̣n (tồn tại) của tâm và sở hữu đặng đủ 3 sát na, gọi là danh mạng quyền (sở hữu mạng quyền) - Tác ư: cách làm thành cảnh cho tâm (thâu biết) (sở hữu tác ư) Như vậy: do các đặc tính thiết yếu vừa giải tŕnh, cho nên bất cứ một thứ tâm nào khi khởi sanh, không thể thiếu 7 loại sở hữu vừa kể, bởi v́ 7 sở hữu này lúc nào cũng đồng có mặt đồng sanh cho một thứ tâm sanh khởi
b. Sở hữu biệt cảnh có 6 thứ: - Tầm: có cách kiếm cảnh, hay đưa tâm đến cảnh (SH tầm) - Tứ: cảnh phải kiếm chăm nom, ǵn giữ (SH tứ) - Thắng giải: quyết đoán cho là cảnh đáng muốn (SH thắng giải) - Cần: phải có sự ráng sức (cố gắng) để bắt cảnh (SH cần) - Hỷ: mừng với cảnh, vui thích đối tượng (SH hỷ) - Dục: những sự vật bị biết và tâm biết đặng sự vật ấy, hai phần này ăn khớp, vững vàng như vật để vào khuôn, v́ có cách này mới gọi là dục(SH dục)
Như vậy: với 6 tính năng trên, các loại sở hữu này sẽ tuỳ thuộc vào đặc tính của ḿnh, mà được tâm giống tính năng đó nhiếp đặng; nên gọi đây là biệt cảnh
c. Sở hữu bất thiện có 14 thứ: Đây là phần chánh yếu trong tâm bất thiện nhiếp, bởi có đầy đủ phần phụ thuộc (sở hữu) mang đặc tính pháp ác xấu như: si, vô tàm, vô uư, điệu cử (sở hữu bất thiện biến hành - làm căn gốc cho tâm tham, tâm sân, tâm si), tham, tà kiến, ngă mạn (tham phần) có mặt trong 8 thứ tâm thuộc tham (tuỳ theo loại tương ưng kiến (tà kiến) hay bất tương ưng kiến (ngă mạn), sân, tật, lận, hối, th́ được tâm sân gom gọn; riêng hôn trầm thụy miên chỉ có mặt ở những tâm bất thiện hữu dẫn (hữu trợ) v́ tính chất ngập ngừng, chậm chạp.............và cuối cùng trong sở hữu bất thiện là hoài nghi chỉ được tâm si tương ưng hoài nghi chiếu cố (phần giải nghĩa rộng đă nói ở phần sở hữu phối hợp SAMPAYOGA)
SO SÁNH VÀ NHẤN MẠNH MỘT SỐ SỞ HỮU ĐẶNG TÂM BẤT THIỆN NHIẾP
- Sở hữu si: đối với cảnh bị tối mờ như chui vào trong hang hố (ám chỉ vô minh) - Sở hữu vô tàm: không chi thoái thoát - Sở hữu vô uư: chẳng ghê sợ lỗi - nhiễm - Điệu cử: vẫn có sự rung động - Tà kiến: nhận thức cảnh bằng cách thái quá, bất cập, bằng lối vô (không) hay hữu (có).... tham tương ưng kiến
Lư do không nhiếp đặng: Sân phần trong đó có lận (bỏn xẻn) dù sở hữu này có ngắm nghé tham, nhưng cả bốn thứ thuộc sân phần đều bắt cảnh nghịch, tức là cảnh trái với tâm, c̣n tâm tham luôn luôn bắt cảnh thuận vừa ḷng, mới ham muốn và nhiễm đắm nên tâm tham không hiệp lận (lận sắt) - Tham là nhiễm đắm cảnh, cột cứng cảnh - Hoài nghi: ngăn chặn lợi ích sáng suốt che cảnh như: vầng mây che khuất nhật nguyệt.
So sánh: không ăn với cảnh ưa thích = hoài nghi, làm ǵ mà tới nhiễm đắm..... (tham + hoài nghi = ?) không đặng Tại sao sở hữu tà kiến và sở hữu ngă mạn không đi chung nhau được? ư nói cùng đồng sinh với nhau không? - Ngă mạn: thuộc về so sánh ta với người, mới có ỷ chấp hơn thua - Tà kiến: kiến thức rọi ra dù là thấy sai, nhận định lệch lạc...........
Ở đây, chỉ đề cập về tính chất của hai sở hữu trên, một đằng chấp thủ so đọ, một đằng dùng cách thấy biết soi ra; thế nên chẳng ăn khớp với nhau, ví như lấy thuốc trị bệnh làm đồ ăn cơm.........những cách dùng nhiều mà sai, chẳng khác nhân kiến thức sai lệch, xẹo sọ đó là tà kiến, th́ ngă mạn phải tránh xa, nên không chung nhau đặng (không cùng đồng sanh).
- Sở hữu sân: luôn luôn phải có với hai thứ tâm là tâm sân (nhất định) c̣n 3 sở hữu: tật, lận và hối th́ mỗi thứ đều bắt cảnh khác nhau (bất định - đi riêng) Cảnh của tật đố: thân + tâm + tài sản của kẻ khác hơn ta không chịu (ganh tỵ) Cảnh của lận sắc: là tài sản nơi ta Cảnh của hối: những việc đă qua
Hai vấn đề về: sở hữu dục và tâm sân nhiếp, SH thắng giải, SH nhất hành - tâm si nhiếp.
1. Tại sao sở hữu dục lại được tâm sân nhiếp? Sở hữu dục là muốn cảnh, mong mỏi cảnh, thích cảnh. Tâm sân thời bắt cảnh nghịch, không vừa ḷng với cảnh, làm sao nhiếp đặng?
2. Tại sao nhất hành và thắng giải lại được tâm si điệu cử nhiếp?
Câu 1: chúng ta xét trên phương diện tỷ dụ, sẽ thấy rỏ về tính hợp lư, khi tâm sân nhiếp đặng sở hữu này - Uống thuốc trị bệnh (vị đắng), lẻ đương nhiên là không ngon, v́ vị thuốc không thích hợp với thiệt thanh triệt; nhưng phải trị bệnh buộc ḷng phải uống. Khi thuốc để vào miệng vẫn cho vô, đặt vào thích hợp; lưỡi đối với thuốc không thích hợp, c̣n miệng đối với thuốc vẫn thích hợp...........(lưỡi đối với thuốc: là tâm sân; miệng đối với thuốc là sở hữu dục)
Câu 2: xét về tính chất tâm si điệu cử (hay c̣n gọi là si phóng dật) khác với các thứ tâm bất thiện khác, do sức mạnh điệu cử (rung động với cảnh trội mạnh) mới mượn ư nghĩa đặc tính đó mà đặt tên cho thứ tâm này.
* Khi xét về tâm si điệu cử nhiếp SH thắng giải là: dù đổi cảnh luôn luôn nhưng không có cách "đánh dấu hỏi - hồ nghi" với những pháp cao siêu tiến hoá, nên si điệu cử nhiếp được thắng giải, hay hoài nghi không hợp th́ thắng giải mới có đặng. Tức vẫn có quyết đoán cảnh, dù cho đối tượng thay đổi liên tục. Ví như con khỉ ít khi ở yên một chỗ, thường chuyền (nhảy) từ cành cây này sang cành cây khác
Xét thấy: Chuyền đến cành cây: quyết đoán bắt một cảnh Chuyền sang những cành khác: điệu cử (sự thay đổi, cách rung động) nhiều cảnh
* Khi xét về tâm si điệu cử nhiếp - SH nhất hành là: Gần như tương tự sở hữu thắng giải, sở hữu nhất hành với tính năng bắt trúng ngay cảnh, dù khoảng thời gian rất ngắn (tính một sát na: sanh, trụ, diệt) chăng đi nữa, vẫn có sự gom tâm trên cảnh Ví như: vuốt mối chỉ gom lại nhọn, xỏ lọt vào kim
Tóm lại: dù nhất hành hay thắng giải là tính trên một cảnh (sát na: sanh, trụ, diệt) dù yếu tố thời gian là cực ngắn. Thế nên điệu cử vẫn có trên một cảnh để hợp được, và sau đó cho dù có thay đổi luôn luôn đối tượng (cảnh) là nói về góc độ khác của đặc tính thứ tâm này (si điệu cử).
[Bài 1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8]
|