|
BÀI 17: THỌ NHIẾP (VEDANĀSAṄGAHA) (HAY THỌ YẾU HIỆP) (Phụ trách: Đại Đức Siêu Minh - Cư sĩ Đức Tài ) |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
I. ĐỊNH NGHĨA II. CHIA PHÁP III. BẢN ĐỒ IV. PHÂN TÍCH I. ĐỊNH NGHĨA Vedanā dịch là Thọ, có nghĩa hưởng cảnh, cảm nhận đối tượng, tiếp nhận hay sự hứng chịu hoặc dụng nạp hưởng cảnh, gọi đây là Thọ. * Sự hưởng cảnh dựa trên 5 cách hứng chịu - dụng nạp là: 1. Hưởng cảnh xúc không tốt, thân đau đớn gọi là khổ thọ 2. Hưởng cảnh xúc thích hợp, thân sướng gọi là lạc thọ 3. Hưởng cảnh không ưa thích, không vừa ư gọi là ưu thọ 4. Hưởng cảnh đáng mong mỏi, vừa ḷng phơi phới gọi là hỷ thọ 5. Hưởng cảnh trung b́nh, ly pháp hỷ, điều hoà gọi là xả thọ. Saṅgaha dịch là nhiếp hay yếu hiệp, có nghĩa gom, tóm, thâu, tức là gom tóm thâu gọn lại (các pháp đồng sinh với nhau). Vậy: Vedanāsaṅgaha dịch là thọ nhiếp hay thọ yếu hiệp. Đây là phần đề cập danh pháp khi phát sanh câu hành với ngũ thọ (khổ, lạc, ưu, hỷ và xả thọ); hay là lúc thọ khởi sanh (tuỳ trường hợp thọ nào) có đặng bao nhiêu thứ tâm và sở hữu cùng đồng sanh, nên gọi là thọ nhiếp
II. CHI PHÁP:
III. BẢN ĐỒ:
* Chữ A là thay thế các thứ tâm. Chữ B là kư tự sở hữu * CÁCH ĐỌC BẢN ĐỒ THEO KƯ TỰ: - Chữ A là: Thọ đặng mấy tâm (như Khổ thọ = chữ A ghi vào ô "Tâm thân thức khổ thọ"...........) - Chữ B là: Sở hữu có mấy thọ (Như Xúc, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ư = chữ B ghi vào ô "Khổ, lạc, ưu, hỷ và xả thọ". Vậy mỗi SH này có 5 thọ - Dùng kư hiệu B+ (tuỳ thuôc vào ô nào th́ tính số sở hữu ở ô đó, như ở ô xúc, tưởng .........là 6 sở hữu, c̣n ở ô tầm, tứ.........là 4 sở hữu .v.v.v.........) rồi cộng từ trên xuống là thọ đặng mấy sở hữu. IV. PHÂN TÍCH: Thọ được phân ra theo tam thọ hoặc ngũ thọ là tuỳ theo cách tính gom hay phân ra, như khi đề cập đến tam thọ là: * Gồm có: Khổ thọ, lạc thọ và xả thọ; hay ưu thọ, hỷ thọ và xả thọ. * Và khi phân ngũ thọ th́ tách: khổ ra thành khổ và ưu thọ, lạc ra thành lạc và hỷ thọ, xả thọ giữ y. Sắp xếp ngũ thọ như sau: 1. Khổ thọ: tức sở hữu thọ hiệp với thân thức câu hành khổ và pháp đồng sanh. 2. Lạc thọ: tức sở hữu thọ hiệp với thân thức câu hành lạc và pháp đồng sanh. 3. Ưu thọ: tức sở hữu thọ hiệp với tâm sân câu hành khuể và pháp đồng sanh. 4. Hỷ thọ: tức sở hữu thọ hiệp với các thứ tâm câu hành hỷ và pháp đồng sanh. 5. Xả thọ: tức sở hữu thọ hiệp với các thứ tâm câu hành xả và pháp đồng sanh. * Về mặt pháp đồng sanh ta thấy: - Khổ thọ hay Lạc thọ đều đồng sở hữu và đồng thứ. Đồng sở hữu là 6: xúc, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ư. Đồng thứ: có 1 thứ tâm, nhưng khi phối hợp với thân thức thọ khổ th́ gặp khổ thọ, c̣n khi phối hợp với tâm thân thức thọ lạc th́ gặp lạc thọ. - Ưu thọ: là nói đến sở hữu gặp thọ ưu đều là những sở hữu phối hợp với tâm sân, mà tâm sân nhiếp đặng 22 sở hữu, c̣n ở thọ nhiếp, lấy sở hữu thọ làm pháp chánh (tức là v́ gặp ưu thọ), nên không đặng kể thọ vô, mới c̣n 21 sở hữu. - Hỷ thọ: đề cập sở hữu gặp thọ hỷ rất nhiều chỗ (nhiều thứ tâm) như: tâm tham (4), vô nhân (2), dục giới tịnh hảo (12) và sơ, nhị, tam, tứ thiền. Nhiều khi không cần kể nêu ra hết, ở đây chỉ nói lư do những sở hữu nào không gặp hỷ thọ như là: sân phần và hoài nghi không phối hợp với tâm hỷ thọ hay tâm lạc thọ (v́ các loại tâm này thuộc về ưu thọ và xả thọ), c̣n sở hữu thọ tất nhiên không được tính vào, nên c̣n 46 sở hữu, ngoài ra hợp đặng hỷ thọ. - Xả thọ: khi sở hữu gặp xả thọ cũng phối hợp rất nhiều tâm, chỉ trừ ra sở hữu hỷ phối hợp với tâm hỷ thọ, và sân phần phối hợp với tâm sân (ưu thọ). V́ vậy đây là lư do mà những sở hữu không hợp với xả thọ; ngoài ra, 46 sở hữu khác đều có hợp với xả thọ. Riêng về sở hữu thọ không tính vào v́ là phần nêu danh (thọ nhiếp tức đă kể) là phần chánh, nên khi phối hợp nhớ trừ ra. Tóm lại: Thọ nhiếp Vedanāsaṅgaha hay gọi thọ yếu hiệp là tính lúc khởi sanh, trạng thái khi cảm nhận, dụng nạp, hứng chịu cảnh, hưởng cảnh với 5 cách: khổ, lạc, ưu, hỷ, xả đang phát sanh có bao nhiêu pháp đồng sanh cùng với trạng thái ấy, nên đây gọi là thọ yếu hiệp, tức thọ nhiếp gồm có: 1. Thọ mà hứng chịu cảnh thân đau đớn là khổ thọ (dukkha vedanā). 2. Thọ mà hưởng cảnh sướng thân (dễ chịu) là lạc thọ (Sukha vedanā). 3. Thọ mà dụng nạp cảnh với cách khổ tâm là ưu thọ (Domassa vedanā). 4. Thọ mà cảm nhận cảnh vui ḷng là hỷ thọ (Somassa vedanā). 5. Thọ mà thường hưởng cảnh trung b́nh, b́nh thường là xả thọ (Upekha vedanā). Những trạng thái trên đang khởi sinh, phát sanh; th́ thọ có trong khi ấy (trừ ra khi ngũ quên hoặc không để ư đến). CẦN BIẾT THÊM: Khi thọ đối chiếu với lục môn (6 môn) là nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư môn th́ dụng nạp được lục cảnh (6 cảnh): sắc, thinh, khí, vị, xúc và cảnh pháp, tức là: Nhăn môn dụng nạp cảnh sắc. Nhĩ môn dụng nạp cảnh thinh. Tỷ môn dụng nạp cảnh khí. Thiệt môn dụng nạp cảnh vị. Thân môn dụng nạp cảnh xúc. Ư môn dụng nạp cảnh pháp. Ta có: sáu môn dụng nạp sáu cảnh (lục môn - lục cảnh) Từ đây thọ được kể là lục thọ (sáu thọ), dựa trên 6 môn dụng nạp 6 cảnh. Nghĩa là: Thọ (Vedanā) sắp theo cảnh (ārammaṇa) có 6 là: sắc, thinh, khí, vị, xúc và pháp. Gọi là lục nhập ngoại. C̣n lục nhập nội là: nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và thức (ư). Ta thấy: Nhăn nhập hứng chịu cảnh sắc. Nhĩ nhập hứng chịu cảnh thinh. Tỷ nhập hứng chịu cảnh khí. Thiệt nhập hứng chịu cảnh vị. Thân nhập hứng chịu cảnh xúc. Ư nhập hứng chịu cảnh pháp. * Với các ư nghĩa trên gọi đây là lục thọ. Dựa trên 3 cảm thọ: hỷ, ưu, xả của người thường và người tu tuệ (huệ), ám chỉ người b́nh thường và người tu chỉ tịnh hay quán xứ, có cách tính như sau (đây lấy lục nhập nội dụng nạp lục nhập ngoại):
ĐIỀU LƯU TÂM: Khổ hoặc lạc trong thân thường đối với cảnh lúc nào cũng có (ngoài khi ngũ quên không để ư đến). Như là khi ta tắm lạnh quá (khổ thọ), nóng quá cũng là khổ thọ, ngồi lâu mỏi cũng thọ khổ..........ngược lại, khi lạnh được sưởi ấm (hơ lửa) là lạc thọ, nóng ta được quạt mát là cảm nhận thọ lạc.v.v...... - Khi khổ thọ phần nhiều là có ưu thọ liền sau đó - Khi lạc thọ cũng phần nhiều là có hỷ thọ sau gần đó. - C̣n khi thọ ưu: buồn, rầu, than, khóc hoặc trong khi muốn gặp (người......) mà không gặp đặng nhớ, nghĩ đến hoàn cảnh mà đau ḷng.v.v.....là thọ ưu. Ưu thọ thuộc về tâm, c̣n khổ thọ thuộc về thân, nên thọ ưu không có liên quan với thọ khổ (ngược lại thọ khổ phần nhiều tiếp nối thọ ưu). - Hỷ thọ cũng thuộc về ư là vui mừng khi nghĩ, nhớ hoặc tính đến sự vật, sự việc ưa thích. - Xả thọ là hưởng cảnh không vui, không buồn hay là ngoài ra khổ, lạc, ưu và hỷ. KẾT LUẬN: Tam thọ: lạc, khổ, xả chi Ngũ thọ: ưu, hỷ thêm th́ đủ năm Nhiếp chia khéo tính chớ lầm Phân bày ngũ thọ đă hàm cả ba. (Diệu pháp lư hợp - Māha Thero Saṅtakicco - Đại Trưởng lăo Tịnh Sự) Đây nói ngũ thọ th́ đă tính trùm hết hai cách tam thọ: khổ lạc và xả thọ, hay ưu hỷ và xả thọ. Tức khổ thọ với ưu thọ chung lai mà kêu khổ hay ưu cũng đặng; c̣n lạc thọ với hỷ thọ kêu chung lại cũng như thế. Riêng xả thọ dù chia 5 hay 3 th́ cũng không khác, do cách phân theo kinh tạng hoặc tuỳ trường hợp mà phân ra Tam hay Ngũ thọ.
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||