| Ḥa
thượng Hộ Tông, Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn
Giảng, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân
Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trong một gia đ́nh trung lưu
trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị
Giêng.
Lúc thiếu thời, ngài theo gia
đ́nh sang lập nghiệp tại Phnom Penh (Nam Vang), thủ đô của Cam
Bốt. Năm 16 tuổi ngài được tuyển vào học trường trung học
Collège Sisowath. Sau khi đậu bằng trung học (diplome), ngài làm
việc cho sở bưu điện và sở giáo dục. Năm 20 tuổi, ngài kết hôn
với bà Vơ Thị Nhung. Sau đó, ngài đi Hà Nội để học ngành thú y.
Sau khi tốt nghiệp, ngài trở về Phnom Penh làm việc với chức vụ
bác sĩ thú y.
Năm 34 tuổi, ngài được bổ nhiệm
về tỉnh Soay Rieng, gần biên giới Việt Nam. Ngài phát tâm hướng
về nghiên cứu con đường tu hành, con đường giải thoát. Ngài thử
nhiều phương pháp, trong đó có những pháp môn ép xác như ăn cơm
lạt với nước, ăn cơm với giấm, ăn toàn rau cải và trái cây,
tuyệt dục, tu niệm chú, tu niệm Phật v.v. mà không thấy có kết
quả tốt.
Do nhân duyên đưa đẩy, ngài đến
gặp vị Phó Tăng Thống Cam Bốt tại chùa Unalom. Vị nầy cũng là
giám đốc trường Cao đẳng Pali tại Phnom Penh. Sau khi nghe vị sư
giảng về Bát Chánh Đạo, ngài cảm thấy thơ thới hân hoan và phấn
khởi. Vị sư c̣n giảng thêm rằng: "...Xưa kia chư Phật cũng
nhờ tu theo Bát Chánh Đạo mà chứng ngộ đạo quả. Vậy ông nên tinh
tấn hành đúng theo Con Đường Tám Chánh ấy, rồi một ngày nào khi
phước duyên tṛn đủ, ông cũng sẽ được giác ngộ, giải thoát."
Vị sư giới thiệu ngài t́m đọc một quyển sách viết về Bát Chánh
Đạo bằng tiếng Pháp tại thư viện của chùa. Ngài đọc say mê và từ
đó quyết tâm hành tŕ theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy
Theravada. Trong thời gian kế tiếp, ngài tiếp tục lui tới chùa
Unalom, học tập kinh điển Pali. Ngài được một vị thiền sư tại đó
truyền dạy pháp quán niệm hơi thở "anapanasati", và chẳng bao
lâu, ngài đạt nhiều kết quả rất tốt trong việc nhập định.
Năm 1934, ngài về làm việc tại
tỉnh Prey Veng. Nơi đây, ngài giúp thành lập Trung tâm Thiền
định tại chùa Ruong Damrey và giảng dạy Phật Pháp và pháp môn
hành thiền. Với ước vọng khuyến khích người Việt hành tŕ và
xuất gia trong truyền thống Theravada, ngài bỏ công dịch quyển
Luật Xuất Gia trong 2 năm, và sau đó soạn thêm quyển Kinh Nhựt
Hành cho người tại gia cư sĩ, bằng tiếng Việt.
Năm 1936, ngài trở lại Phnom
Penh, cùng với một nhóm bạn đạo cư sĩ người Việt tu bổ lại một
chùa Bắc Tông cũ, tên là chùa Sùng Phước, để làm nơi truyền
giảng đạo Phật Nguyên Thủy cho người Việt trên đất Cam Bốt. Năm
1940, sau khi được sự đồng ư của hiền thê, ngài quyết định xuất
gia. Ngài xuất gia ngày 15 tháng 10 năm 1940, vị thầy truyền
giới là vị Phó Tăng Thống Cam Bốt, và lấy pháp danh là Hộ Tông (Vansarakkhita).
Trong thời gian ngài c̣n là cư
sĩ, ngài thường về Việt Nam để truyền đạo, dạy thiền, và tạo
nhiều quen biết với các cư sĩ Phật tử, trong đó có ông Nguyễn
Văn Hiểu. Ông Hiểu là một người bạn đạo chí t́nh, thường xuyên
trao đổi các kinh nghiệm tu học, và hết ḷng ủng hộ, khuyến
khích con đường hoằng pháp của ngài Hộ Tông. Năm 1939, ông t́m
ra một thửa đất ở G̣ Dưa, Thủ Đức, để cất chùa cho người Việt.
Cuối năm 1940, ông thỉnh Tỳ kheo Hộ Tông về trụ tŕ, và sau đó,
Ḥa thượng Chuon Nath, Tăng Thống Cam Bốt, cùng một đoàn 30 vị
tỳ kheo được mời thỉnh đến làm lễ kết giới Sima, và đặt tên là
Chùa Bửu Quang (Ratana Ramsayarama). Từ đó, Tỳ kheo Hộ Tông cùng
với các Tỳ kheo Việt Nam khác như ngài Bửu Chơn, Thiện Luật, Huệ
Nghiêm bắt đầu truyền giảng Phật Pháp Nguyên Thủy cho người Việt
tại Việt Nam.
Năm 1944, ngài trở sang Cam Bốt,
thực hành hạnh du tăng đầu đà (dhutanga), chu du khắp nơi trong
rừng sâu vắng vẻ, độc cư hành thiền. Năm 1949, ngài trở về Việt
Nam. Lúc đó, chùa Bửu Quang đă bị lính Pháp tàn phá vào 2 năm
trước (1947). Cùng với ông Hiểu, ngài t́m mua một thửa đất trống
ở khu Bàn Cờ, quận Ba, Sài G̣n, và xúc tiến xây cất một ngôi
chùa khác, rộng lớn hơn, ngay tại trung tâm thành phố, và đặt
tên là Chùa Kỳ Viên (Jetavana Vihara). Chùa Kỳ Viên được hoàn
tất vào năm 1950. Đồng thời, chùa Bửu Quang cũng được trùng tu
lại vào năm 1951.
Năm 1954, cùng với Ḥa thượng
Bửu Chơn, ngài đến tham dự Đại hội Kết tập Tam Tạng Pali lần thứ
VI tại Rangoon, Miến Điện, và có đọc diễn văn trong ngày bế mạc
đại hội. Sau đó ngài đi thăm các thánh tích tại Ấn Độ, và dự các
khóa tu học ngắn hạn về hành thiền và kinh điển Pali tại Tích
Lan và Thái Lan.
Ngày 18 tháng 12 năm 1957, Giáo
Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam được chính thức thành lập, đặt
trụ sở tại Chùa Kỳ Viên, và toàn thể chư Tăng suy cử ngài vào
chức vụ Tăng Thống của Giáo Hội, khóa I.
Trong suốt cuộc đời, từ khi bắt
đầu thấm nhuần Phật Pháp, ngài luôn sống cho Đạo, v́ Đạo, luôn
luôn lo xây dựng thêm chùa, khuyến khích xuất gia, soạn thảo
kinh sách, truyền giảng giáo pháp. Ngoài 2 chùa đầu tiên, ngài
trực tiếp tham gia và đóng góp xây dựng nhiều chùa Nguyên Thủy
khác như chùa Bửu Long (Thủ Đức), Tam Bố (Lâm Đồng), Phi Nôm (Định
Quán), Bồ Đề (Vũng Tàu), Tam Bảo (Đà Nẵng), Giác Quang (Chợ Lớn),
Pháp Quang (Gia Định), Tăng Quang (Huế), Thiền Lâm (Huế), Nguyên
Thủy (Vàm Ông Tố), Long Khánh (Bà Rịa), v.v.
Trong suốt bốn mươi mốt hạ của
tỳ kheo, ngài không bao giờ rời kinh sách. Mỗi nơi ngài đến ngụ
đều có một tủ kinh. Ngài sống một đời giản dị, ba y một bát như
một vị tỳ kheo mẫu mực của truyền thống Nguyên Thủy. Hằng đêm,
ngài thức giấc lúc 3 giờ sáng, tụng niệm và tham thiền. Sau đó
bắt đầu viết và phiên dịch kinh sách, không lúc nào chểnh mảng.
Các tác phẩm của ngài gồm:
Luật Xuất Gia, quyển 1
và 2
Nhựt Hành của người tại gia tu Phật
Cư sĩ thực hành
Vi Diệu Pháp vấn đáp
Nền tảng Phật Giáo
Sơ thiền tâm
Thanh Tịnh kinh
Tứ Diệu Đế
Bát Chánh Đạo
Thập Độ Ba-la-mật
Thiền Định
Pháp trích yếu
Phật ngôn
Triết lư về Nghiệp
Phật Giáo chánh lời Phật thuyết
v.v.
Ngài sang Pháp năm 1980, nhưng
sau đó lại quyết định trở về Việt Nam năm 1981 và ngụ tại chùa
Bửu Long, Thủ Đức. Tại đây dù tuổi già sức yếu, ngài lại ra công
giúp tu bổ chùa.
Ngày 25 tháng 8 năm 1981 (26
tháng 7, Tân Dậu) trước những giờ phút cuối cùng, ngài vẫn minh
mẫn giảng dạy các vị tỳ kheo đệ tử về pháp hành thiền quán niệm
hơi thở. Sau đó, ngài bảo vị đệ tử thân cận đọc kinh rải tâm Từ
và ngài từ từ nhắm mắt. Trong một khoảnh khắc, ngài mở hé mắt
nh́n lên trời rồi nhắm lại, an lành viên tịch. Lúc đó là 16 giờ
45 phút. Ngài hưởng thọ 89 tuổi đời, 41 tuổi đạo.
B́nh Anson
tháng 6, 1999
Tham khảo
[1] Nguyễn Văn Hiểu, 1971. Công tác xây dựng Phật Giáo
Nguyên Thủy tại Việt Nam
[2] Lê Minh Qui, 1987. Ḥa thượng Hộ Tông
[3] Thích Đồng Bổn, 1995. Tiểu sử Danh tăng Việt Nam
-ooOoo-
| Đầu trang | |