|
Ḥa
Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân
Hợi (1911) tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài
sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài
thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông, vốn là quốc giáo của Vương
quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài
xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông.
Sau đó Ngài vào rừng chấp tŕ
hạnh đầu đà (Dhutanga) suốt mười hai năm. Năm 1951, Ngài
được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài G̣n để
truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Năm 1952, Ngài có duyên lành
sang Tích Lan để nghiên cứu Phật học tại trường
Dhammaducla Viddhyàlaya trong thời gian hai năm. Ngài cũng đă hành
hương sang Ấn Độ để chiêm bái các thánh tích và cung
thỉnh Ngọc Xá Lợi do Giáo Hội Phật Giáo ở Tích Lan
tặng đem về Việt Nam.
Năm 1954, Ngài dẫn đầu phái đoàn
Phật Giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Kết Tập Tam Tạng Pàli
lần thứ 6 tại Rangoon, Miến Điện. Ngài là vị Giáo phẩm
Phật giáo Việt Nam đă tham gia nhiều hoạt động Phật sự
quốc tế. Vào năm 1956, Ngài tham dự Hội nghị Phật giáo
Thế giới lần thứ 3 tại Miến Điện. Và nhân dịp này
Bộ Lễ Miến Điện đă trao tặng Ngọc Xá Lợi cho Ngài
mang về Việt Nam tôn thờ.
Ngài là thành viên vận động thành
lập Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Nhiệm kỳ lâm
thời Ngài được cử làm Tăng Thống Ban Chưởng Quản vào
năm 1957. Trong năm này Ngài dẫn đầu phái đoàn dự lễ
kỷ niệm 2.500 năm Phật Giáo tại Campuchia. Ngài dự Hội
nghị Phật giáo lần thứ 4 tại Népal và Hội nghị Triết
học tại Ấn Độ.
Năm 1958, Ngài dự Hội nghị
Quốc tế về lịch sử Tôn Giáo Thế Giới lần thứ 9 tại
Đông Kinh, Nhật Bản. Năm 1960 Ngài được bầu làm Phó
Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới trong kỳ Đại Hội
lần thứ 5 tại Thái Lan và tham dự Hội nghị Lịch Sử Tôn
Giáo Thế Giới lần thứ 10 tại Tây Đức. Ngài cũng đến
các nước Tây Phương: Anh, Ư, Pháp để nghiên cứu các tổ
chức Phật Giáo tại các nơi này. Năm 1961 tại Hội nghị
Phật giáo Thế giới lần thứ 6 tại Phnôm Pênh, Campuchia,
Ngài được bầu vào chức vụ Cố vấn tinh thần tối cao và
vĩnh viễn cho Hội Phật giáo Thế giới.
Năm 1962, Ngài đắc cử Tăng
Thống Giáo Hội Già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài đă cùng
với Ḥa thượng Narada (người Tích Lan) vận động xây
dựng thắng tích Thích Ca Phật Đài tại núi Lớn ở Vũng Tàu.
Năm 1963, Ngài giữ chức Phó Chủ
Tịch Ủy ban Liên phái Bảo Vệ Phật Giáo chống chế độ
nhà Ngô kỳ thị Phật Giáo. Năm 1964, Ngài dẫn đầu phái
tham dự Hội nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 7 tại
Ấn Độ. Năm 1965 tại Tân Gia Ba, Ngài được bầu làm Chủ
Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới địa phương và tham dự
Hội nghị thành lập Hội Tăng Già Thế Giới tại Tích Lan.
Năm 1966, Ngài dẫn đầu phái đoàn
tham dự Hội nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 8 tại Thái
Lan. Năm 1968 Ngài tham dự Hội nghị Lịch Sử Tôn Giáo Thế
Giới thứ 12 tại Jerusalem Do Thái. Năm1972 Ngài đảm nhiệm
chức vụ Phó Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy
Việt Nam. Năm 1979, Ngài đảm nhận chức vụ Cố vấn Ban Chưởng
Quản Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam khóa II.
Ngài là một học giả, biết
rất nhiều ngoại ngữ như Lào, Thái Lan, Khmer, Miến Điện,
Tích Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức, Ư, Nga và Cổ ngữ Pàli.
Riêng về Pàli là ngôn ngữ mà Ngài đă dành rất nhiều th́
giờ nghiên cứu và đă soạn thành tự điển Pàli. Dù bận
rộn Phật sự trong nước cũng như Phật sự quốc tế, Ngài
vẫn dành thời gian để phiên dịch và trước tác nhiều
kinh sách để hoằng dương giáo pháp, trên dưới 20 tác
phẩm.
Ngày 17-9-1979, mặc dù sức khỏe
suy kém, Ngài vẫn dẫn đầu phái đoàn Phật Giáo Việt Nam
sang thăm hữu nghị, tham dự lễ Dol-ta (lễ lớn của
dân tộc Campuchia) tại Campuchia, và đặc biệt là tổ chức lễ truyền
giới Tỳ Kheo cho các nhà sư Campuchia. Ngày 19-9-1979 bệnh cũ
bộc phát trầm trọng, đến 2 giờ sáng ngày 21-9-1979 (1 tháng
8, Kỷ Mùi), Ngài an nhiên viên tịch tại Phnôm Pênh, hưởng
thọ 69 tuổi đời, với 30 tuổi đạo. Trước giờ phút lâm
chung, trên giường bệnh Ḥa thượng vẫn c̣n tỉnh táo nghe
các thành viên trong đoàn báo cáo buổi lễ Dôn-Ta và lễ
Truyền giới viên măn cho 7 vị sư Campuchia, mở đầu kỷ
nguyên phục hồi nền Phật Giáo xứ Chùa Tháp.
Ngài là một tấm gương sáng về
phương diện hoằng pháp lợi sanh. Công hạnh Ngài c̣n tỏa
rộng ra thế giới, và c̣n lưu lại trong mỗi bước hành tŕ
giới pháp độ sanh của những người có ḷng vị tha và chí
t́m cầu giải thoát. Các tác phẩm của Ngài c̣n để lại
trong sự nghiệp sáng tác phiên dịch :
- Cư Sĩ Thực Hành.
- Tứ Thanh Tịnh Giới.
- Pháp Xa.
- Chuyển Pháp Luân.
- Bồ Tát Khổ Hạnh.
- Hàng rào giai cấp.
- Niệm Thân.
- Chánh Giác Tông.
- Tội Ngũ trần.
- Truyện Ngạ Quỷ.
- Quả Báo Sa Môn.
- Nhân Quả Liên Quan.
- Kho tàng Pháp Bảo.
- Pháp Đầu Đà.
- Hội Nghị Quốc Tế.
- Văn Phạm Pàli.
- Định luật thiên nhiên của vũ trụ.
- Tự Điển Pàli.
Trích:
"Danh Tăng Việt Nam", Tập I, Thích Đồng Bổn Chủ
biên, Thành Hội Phật Giáo xuất bản, Sài G̣n, 1997.
-ooOoo-
[Đầu trang] |