CHÚ GIẢI KINH PHẠM VƠNG

 BRAHMAJĀLA SUTTA

Dịch Giả: Tỳ-kheo GIÁC LỘC
 

-ooOo-

Bhikkhu Bodhi là một nhà sư quốc tịch Mỹ, sinh ở thành phố New York vào năm 1944. Sau khi nhận học vị Tiến sĩ Triết học từ Đại Học Claremont Graduate Schu. (California), Ngài đến Sri Lanka xuất gia sa di (1972) và năm sau thọ đại giới với vị đại sư danh tiếng BALANGODA ANANDA MAITREYA. Tại đây Ngài đă học Pāli và Phật pháp, sau đó đến Ấn Độ nghiên cứu thêm.

-ooOo-

 

MỤC LỤC

 

Lời Người dịch
Lời tựa

Kinh Văn Phạm Vơng
Phần chú giải

Chủ thuyết Thường kiến
Chủ thuyết Thường kiến Phiến diện
Những lư thuyết về thế giới hữu biên và vô biên
Những lư thuyết về ngụy biện vô tận
Những lư thuyết về sự sinh khởi ngẫu nhiên
Những lư thuyết về tưởng bất tử
Những lư thuyết về vô tưởng bất tử
Những lư thuyết về phi tưởng phi phi tưởng bất tử
Chủ thuyết Đoạn kiến
Những lư thuyết về Niết-bàn hiện tại
Sự luân chuyển của các duyên và sự giải thoát
Do duyên xúc
Sự chấm dứt luân chuyển

Phần tóm lược kinh Phạm Vơng
Tài liệu tham khảo

 

-ooOoo-

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

Từ khi hội PĀLI TEXT LONDON ra đời, các bộ Nikāya và một số chú giải lần lượt được dịch sang tiếng Anh, nhưng chưa có bản dịch nào về chú giải kinh Phạm Vơng. Do đó, tác phẩm của Ngài Bodhi là một đóng góp lớn lao cho nền văn học Phật giáo khắp thế giới. Kinh Phạm Vơng là kinh đầu tiên trong Trường bộ kinh và qua toàn văn chúng ta cũng đủ hiểu giá trị của kinh này như thế nào. Như lời của Ngài Bodhi trong phần giới thiệu: "Phạm Vơng đứng hàng đầu trong Dīghanikāya. Đây không phải là việc sắp xếp t́nh cờ, hoặc ngẫu nhiên của các trưởng lăo khi kết tập kinh điển, nhưng hoàn toàn có chủ tâm. Việc phân loại của các trưởng lăo phản ảnh tầm nh́n xa hiểu rộng về tính trọng yếu của kinh này qua tương quan với tất cả lời Phật dạy. Đứng ở lối vào của các Nikāya, thông điệp chính của Phạm Vơng là cung cấp lời giới thiệu cho toàn thể mô h́nh Phật pháp."

Khi đọc qua kinh văn, chúng ta vấp phải những thuật ngữ đương thời như: Ngă, Thế giới, Như lai, Niết-bàn v.v… Một bản chú giải sẽ trợ giúp đắc lực cho việc lănh hội những ư nghĩa cô đọng trong kinh. Khi dịch xong tôi nhận thức rằng kinh Phạm Vơng giải thích cặn kẽ về nguồn gốc của ngă chấp - một bản đồ đưa đến kho tàng vô ngă tướng kinh. Qua đó tôi có một niềm xác tín: căn nguyên của mọi tà chấp sinh khởi do tŕnh độ nhận thức về vấn đề nhân sinh và vũ trụ, về sự ngộ nhận chân lư. Tất cả tà chấp cứ tái diễn vô cùng tận khi người ta tiếp tục xây dựng đời sống trên nền tảng ngă kiến. Nơi đây trong kinh Phạm Vơng Đức Phật đă tung ra lưới chánh pháp trên đại dương của những tư tưởng tà kiến và xác chứng rằng Ngài chính là nhân vật đă ly thoát thế giới điên đảo đó.

Phần đặc sắc nhất của kinh Phạm Vơng liên quan đến sáu mươi hai tà kiến nên tôi dịch rất cẩn thận; phần c̣n lại bàn về giới chỉ là lời giới thiệu và khá đơn giản, tôi xin lược bỏ để bản chú giải kịp thời đến tay chư độc giả. Nếu bản dịch này giúp một phần nhỏ phương tiện cho người học Phật thành tựu tri kiến về Không tính của các pháp th́ đó là phần thưởng dành cho người dịch.

Tỳ-kheo GIÁC LỘC
Pháp Bảo Tự 28-03-2000
PL. 2543

-ooOoo-

 

LỜI TỰA

Kinh Phạm Vơng là một trong những kinh quan trọng nhất do Đức Phật thuyết. Đương nhiên kinh này được tôn kính độc nhất vô nhị v́ đứng vị trí hàng đầu trong các Nikāya của tam tạng PĀLI. Sự trọng yếu của Kinh xuất phát từ đối tượng chính, phân tích về một hệ thống trong sáu mươi hai trường hợp, được thiết lập để bao gồm tất cả những quan điểm suy đoán trên hai mối quan tâm chủ chốt về tư tưởng suy đoán - bản chất của ngă và thế giới. Giải thích về những quan điểm này là một bước thiết yếu trong toàn thể cấu trúc của Phật Pháp, là sự đo lường tiên khởi vốn cần thiết để làm sáng tỏ lập trường thành lập chánh kiến - yếu tố đầu tiên trong Bát Thánh Đạo, con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ, mục đích của toàn bộ giáo pháp. Kinh này đă dệt nên tấm lưới về các quan điểm, cung cấp một dụng cụ thích hợp để khẳng định bất cứ xu hướng triết học này và quyết định xem nó có như nhất với chánh pháp không. V́ bất cứ vấn đề nào thỏa hiệp với những lập trường được đưa ra trong kinh này có thể được nhận ngay là một quan điểm sai lầm, đi lệch con đường đưa đến giải thoát.

V́ lư do này, mô h́nh của kinh Phạm Vơng đă được sở hữu bởi toàn thể di sản Phật giáo sau như phương tiện chính xác giúp cho việc phân chia ranh giới giữa điểm bắt đầu của Phật giáo và những quan điểm của những hệ thống tín ngưỡng khác. Sáu mươi hai quan điểm đă được đề cập trong kinh tạng, trở thành một phạm trù tiêu chuẩn của các chú giải và tiếp tục măi qua những tác phẩm triết học thuộc nhiều giai đoạn tư tưởng Phật giáo sau đó như một phương tiện thích hợp cho việc phân loại nhiều dạng ngoại giáo.

Ư thức về sự quan trọng cốt lơi của kinh Phạm Vơng, một nền văn học chú giải đồ sộ đă được dựng lên xung quanh nó, bao gồm một chú giải dài, một chú giải phụ và một chú giải hiệu đính. Chú giải kinh này bao gồm trong Sumangala-vilāsinī hoặc Atthakathā cho Dīghanikāya. Nó được sáng tác bởi nhà đại chú giải Ấn Bhadantācariya Buddhaghosa (đầu thế kỷ thứ năm sau công nguyên), trên cơ sở của những chú giải cổ không c̣n nữa, Ngài đă duyệt lại và phối hợp thành một văn bản thống nhất mà đă truyền đến chúng ta ngày nay. Chú giải này được cung ứng với một chú giải phụ hoặc T́kà bở Ācariya Dhammapāla Badaratittha (Nam Ấn) vào khoảng thế kỷ thứ sáu: tác phẩm của Ngài Dhammapāla gồm có hai mục đích: Giải thích những từ khó và những điểm rắc rối nằm trong chú giải. Thứ hai là xem xét đầy đủ những vị trí được đưa ra trong kinh, quan sát cơ sở suy luận, những tương quan, những nghi vấn có thể xảy ra v.v… Thật ra phần thú vị và giá trị nhất của Tīkā là những khảo sát của nó thường được tŕnh bày dưới dạng một câu hỏi hoặc sự đối kháng được theo bởi một phần giải đáp dài hoặc sự biện minh. Nhưng Tīkā đầu th́ thường khá ngắn gọn trong cách diễn đạt, hoặc quá phức tạp trong những chuỗi biện luận của nó, khiến cho nghĩa chính xác của đoạn văn đôi khi khó nhận ra. Để sửa chữa khuyết điểm này, một chú giải mới (abhinavatīkā) cho phần đầu của Dīghanikāya được sáng tác vào cuối thế kỷ 18 bởi Ḥa thượng người Miến Nānābhivamsa. Tác phẩm hiệu đính này có tên là Sādhuvilāsinī, phần lớn sao chép nội dung của chú giải phụ tiêu chuẩn nhưng mở rộng và gọt giũa nó cho văn phong sáng sửa nhiều hơn, thêm những điểm dẫn giải nơi nào cần thiết.

Văn phong Pāli trong các Tīkā khó và phức tạp, lời văn đầy những giải thích chằng chịt, những biện luận và nghĩa bóng. V́ tác phẩm hiện tại so với kiến thức của chúng tôi là nỗ lực đầu tiên về một bản dịch có qui mô bao quát từ các Tīkā, chúng tôi e rằng vài khuyết điểm có thể phạm phải. V́ phép hành văn chúng tôi phải uyển chuyển khi hoàn thành những cụm từ và trích dẫn trong nguyên bản, sắp xếp lại những cấu trúc rườm rà, những chuyển đạon luận lư trong các suy luận từ chú giải phụ. Chúng tôi hy vọng các thế hệ học giả Pāli trong tương lai sẽ tiếp tục khảo sát các Tīkā và phô diễn thêm khía cạnh tế nhị về phương diện triết học và tâm lư học của văn học Pāli sang Anh văn.

Tựa của tác phẩm toàn tập "The Discourse on The All-Embracing Net of Views" (Kinh về lưới bủa khắp các quan điểm) là phóng dịch từ vài tựa khác được nêu ra ở phần kết đề của Kinh Phạm Vơng.

Bhikkhu Bodhi
Forest Heritage, Kandy,
Sri Lanka 11-07-1977

 

-ooOoo-

 

KINH PHẠM VƠNG

CÂU CHUYỆN HAI DU SĨ
PARIBBĀJAKAKATHĀ

1. Tôi đă nghe như vầy. Một dịp nọ Thế Tôn khởi hành từ Vương Xá đến Nālanda cùng với đại chúng tỳ-kheo, khoảng năm trăm vị. Đồng thời du sĩ Suppiya cũng du hành trên con đường đó cùng với người đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Trên đường đi, du sĩ Suppiya dùng đủ lư lẽ để hủy báng Phật, Pháp, Tăng. Nhưng người đệ tử, thanh niên Brahmadatta, dùng đủ lư lẽ để ca tụng Phật, Pháp, Tăng. Như vậy hai thầy tṛ, theo sau Thế Tôn và chúng tỳ-kheo, đă nói những lời hoàn toàn mâu thuẫn nhau.

2. Bấy giờ Thế Tôn cùng với chúng tỳ-kheo vào trú xá hoàng gia ở vườn Ambalatthika để nghỉ qua đêm. Du sĩ Suppiya cùng với thanh niên Brahmadatta cũng vào trú xá hoàng gia đó để nghỉ qua đêm. Tại đây, du sĩ Suppiya cũng dùng nhiều lư lẽ để hủy báng Phật, Pháp, Tăng, trong khi người đệ tử dùng nhiều lư lẽ để ca tụng Tam Bảo. Hai thầy tṛ ngụ gần Thế Tôn và chúng tỳ-kheo, đă nói những lời hoàn toàn mâu thuẫn nhau.

3. Khi b́nh minh lóng dạng, một số tỳ-kheo, sau khi thức dậy đă tụ họp trong nhà họp (ngôi nhà h́nh tṛn, nóc nhọn). Câu chuyện sau đây diễn ra trong nhóm tỳ-kheo đó: "Chư hiền giả, thật kỳ diệu, thật hy hữu, Thế Tôn bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Ngài đă thâm nhập hết thảy tâm hướng sai biệt của chúng sanh. Du sĩ Suppiya dùng nhiều lư lẽ để hủy báng Phật, Pháp, Tăng trong khi người đệ tử, thanh niên Brahmadatta dùng nhiều lư lẽ để ca tụng Tam Bảo. Hai thầy tṛ theo sau Thế Tôn và chúng tỳ-kheo, đă nói những lời hoàn toàn mâu thuẫn nhau."

4. Khi ấy Thế Tôn biết được cuộc thảo luận của các tỳ-kheo kia. Ngài bước vào nhà họp, ngồi trên chỗ đă soạn sẵn và hỏi: "Chư tỳ-kheo, hiện giờ các ngươi đang bàn chuyện ǵ? Đề tài của câu chuyên liên quan đến vần đề nào?"

Các tỳ-kheo đáp: Bạch Thế Tôn, khi b́nh minh ló dạng chúng con tựu trong nhà họp. Câu chuyện sau đây khởi lên giữa chúng con: "Chư hiền giả, thật kỳ diệu, thật hy hữu, Thế Tôn bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Ngài đă thâm nhập hết thảy tâm hướng sai biệt của chúng sanh. Du sĩ Suppiya dùng nhiều lư lẽ để hủy báng Phật, Pháp, Tăng trong khi người đệ tử, thanh niên Brahmadatta dùng nhiều lư lẽ để ca tụng Tam Bảo. Hai thầy tṛ theo sau Thế Tôn và chúng tỳ-kheo, đă nói những lời hoàn toàn mâu thuẫn nhau." Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện chúng con đang tàn th́ Thế Tôn đến.

5. Chư tỳ-kheo, nếu những ai hủy báng Ta, hủy báng Pháp hoặc hủy báng Tăng, các ngươi không nên tỏ ra bực tức, bất măn hoặc phẫn nộ đối với họ. V́ trong t́nh thế đó các ngươi chỉ tạo ra một chướng ngại cho chính ḿnh. Nếu các ngươi giận dữ hoặc bất b́nh khi những ai hủy báng chúng ta, các ngươi có thể nhận thức những lời của họ là đúng hay là sai không?

"Bạch Thế Tôn, chắc chắn không?"-Chư tỳ-kheo, những ai hủy báng Ta, Pháp hoặc Tăng, các ngươi nên giải thích điều nào là sai lầm và chỉ ra chỗ sai đó, rằng: "V́ sao đây là sai, không xác thực, không có điều nào như thế về phía chúng tôi, điều này không bao giờ có nơi chúng tôi."

6. Chư tỳ-kheo, nếu những ai ca tụng Ta, Pháp hoặc Tăng, các ngươi không nên tỏ ra hân hoan, hài ḷng và thỏa thích. V́ trong t́nh thế đó, các ngươi chỉ tạo ra một chướng ngại cho chính ḿnh. Nếu những ai ca tụng Ta, Pháp hoặc Tăng, các ngươi nên thừa nhận điều nào là thật, rằng "V́ sao đây là thật, xác đáng, có điều như thế về phía chúng tôi, điều này đương nhiên có nơi chúng tôi."

7. Chư tỳ-kheo, chỉ liên quan đến những vấn đề nhỏ nhặt, tầm thường, không ngoài những tiểu tiết nhỏ về giới luật thuần túy mà một phàm phu đề cập đến khi ca tụng Như Lai. Những tiểu tiết về giới luật thuần túy là ǵ mà kẻ phàm phu đề cập đến?

8-27 (Giải thích về Giới ...)

NHỮNG SUY ĐOÁN VẾ QUÁ KHỨ
(PUBBANTAKAPPIKA)

28. Chư tỳ-kheo, có các pháp khác, sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, cao thượng, vượt qua phạm vi luận lư, chỉ người có trí mới có thể hiểu biết mà Như Lai, sau khi tự ḿnh chứng ngộ với tuệ toàn tri đă tuyên thuyết cho những kẻ khác; và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh như thực của Như Lai sẽ bàn đến. Các pháp này là ǵ?

29. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về quá khứ, nắm lấy những quan điểm về quá khứ và ở trên mười tám lập trường khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ. Và do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này dựng lên các suy đoán của họ?

CHỦ THUYẾT THƯỜNG KIẾN
(SASSATAVĀDA)

30. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến, và đứng trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng. Và do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ.

31. Chư tỳ-kheo, trong trường hợp thứ nhất có vị sa-môn hoặc bà-la-môn, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và do đó vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời hoặc một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời. Vị ấy nhớ: "Lúc đó tôi có tên như thế, thuộc về một gia tộc như thế, h́nh dáng như thế, thức ăn như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi từ bỏ cơi đó, tôi sanh ở cơi khác. Tại đấy, tôi cũng có tên như thế, thuộc về một gia tộc như thế, h́nh dáng như thế, thức ăn như thế, kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế, tuổi thọ như thế. Từ cơi đó, tôi tái sanh ở đây. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và các chi tiết liên quan (như tên, tuổi, gia tộc).

Vị ấy nói như vầy: Ngă và thế giới là thường hằng, bất sanh, kiên cố như đảnh núi, đứng vững như thạch trụ và mặc dù chúng sanh này luân hồi, diệt và sinh, tuy nhiên ngă và thế giới vẫn y như vật thường trụ. V́ sao? Bởi v́ do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và do đó tôi nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và các chi tiết liên quan. V́ lẽ đó tôi biết: ngă và thế giới là thường hằng, bất sanh, kiên cố như đảnh núi, đứng vững như thạch trụ và mặc dù những chúng sanh này luân hồi, diệt và sinh, tuy nhiên ngă và thế giới vẫn y như vật thường trụ.

32. Trong trường hợp thứ hai, do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, một số sa môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng?

Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và do đó vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một thành và hoại kiếp, hai, ba, bốn, năm, hoặc mười thành và hoại kiếp. Vị ấy nhớ lại: "Lúc đó tôi có tên như thế, thuộc về một gia tộc như thế, h́nh dáng như thế, thức ăn như thế, kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi bỏ cơi đó, tôi tái sanh ở nơi khác. Tại đấy, tôi cũng có tên như thế, thuộc về một gia tộc như thế, kinh nghiệm vui và khổ như thế, tuội thọ như thế. Diệt từ cơi đó, tôi tái sanh ở đây. Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và các chi tiết liên quan.

Vị ấy nói như vầy: Ngă và thế giới là thường hằng, bất sanh, kiên cố như đảnh núi, đứng vững như thạch trụ. Và mặc dù những chúng sanh này luân hồi, diệt và sinh. Tuy nhiên ngă và thế giới vẫn y như vật thường trụ. V́ sao? (Phần c̣n lại giống đoạn 31, ngoại trừ khoảng thời gian).

33. Trong trường hợp thứ ba, do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến, tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng?

Chư tỳ-kheo, ở đây một số sa-môn hoặc bà-la-môn, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và do đó vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: mười thành và hoại kiếp, hai mươi, ba mươi hoặc bốn mươi thành và hoại kiếp…. (như trên). Như vậy vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và các chi tiết liên quan.

Vị ấy nói như vầy: "Ngă và thế giới là thường hằng, bất sanh, kiên cố như đảnh núi, đứng vững như thạch trụ. Và mặc dù những chúng sanh này luân hồi, diệt và sinh. Tuy nhiên ngă và thế giới vẫn y như vật thường trụ. V́ sao? (Như đoạn 31, ngoại trừ khoảng thời gian.)

34. Trong trường hợp thứ tư, do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến, tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng?

Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn là nhà suy luận, nhà khảo sát. Vị ấy tuyên bố quan điểm như vầy, được rút ra do suy luận, được t́m ra từ những khảo sát, theo tư tưởng mơ mộng của ḿnh, như vầy: "Ngă và thế giới là thường hằng, bất sanh, kiên cố như đảnh núi, đứng vững như thạch trụ. Và mặc dù những chúng sanh này luân hồi, diệt và sinh. Tuy nhiên ngă và thế giới vẫn y như vật thường trụ."

35. Chư tỳ-kheo, đứng trên bốn lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn kia tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng. Bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng, tất cả làm như thế trên bốn lập trường này, hoặc trên một trong chúng. Không có quan điểm nào bên ngoài bốn lập trường.

36. Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu và Ngài hiểu: "Những quan điểm này nhận lầm như vậy và nắm giữ sai lạc như vậy, dẫn đến một sanh thú như thế, đến một kết quả như thế ở đời sau. Ngài cũng hiểu pháp nào vượt qua điều này. Tuy hiểu biết như thế Ngài không nắm giữ sai lạc và bởi v́ tà chấp đă được giải thoát. Ngài đă tự chứng ngộ trạng thái an tịnh toàn hảo. Sau khi hiểu như thực sự sinh khởi và sự diệt tận của các cảm thọ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly chúng, Như Lai đă giải thoát không có chấp thủ.

37. Chư tỳ-kheo, đây là các pháp sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh và cao thượng, vượt qua phạm vi luận lư, tế nhị, chỉ người có trí mới có thể hiểu biết, mà Như Lai sau khi tự ḿnh chứng ngộ với tuệ toàn tri, đă tuyên thuyết cho những kẻ khác; và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh như thực của Như Lai sẽ bàn đến.

CHỦ THUYẾT THƯỜNG KIẾN PHIẾN DIỆN
(EKACCASASSTAVĀDA)

38. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến đối với vài điều, và không phải những nhà thường kiến đối với những điều khác, họ đứng trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là một phần thường hằng và một phần không thường hằng, Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ những sa môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ.

39. Chư tỳ-kheo, đến một thời, sau một thời kỳ dài thế giới này tiêu hoại. Trong khi thế giới tiêu hoại, phần lớn chúng sanh tái sanh vào cơi Quang Âm Thiên. Các Phạm thiên này sống ở đấy, do tâm tạo, nuôi sống bằng ư, thân tỏa hào quang, phi hành qua hư không, trú trong tịnh lạc. Chư vị tiếp tục sống như vậy trong một thời gian rất lâu.

40. Chư tỳ-kheo, sau một thời kỳ dài, đến một thời khi thế giới này bắt đầu h́nh thành trở lại, một Phạm cung trống không xuất hiện. Lúc đó có chúng sanh, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, từ bỏ Quang Âm Thiên và tái sanh trong Phạm cung trống không. Vị này sống ở đấy, do tâm tạo, nuôi sống bằng hỷ, thân tỏa hào quang, phi hành qua hư không, trú trong tịnh lạc và tiếp tục sống như vậy trong một thời gian rất lâu.

41. Sống một ḿnh nơi Phạm cung quá lâu, vị Phạm thiên này sanh tâm chán nản và xao xuyến nên mong ước: "Các chúng sanh khác hăy đến nơi này!" Ngay lúc đó, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, các chúng sanh khác từ bỏ Quang Âm Thiên và tái sanh trong Phạm cung để làm bạn với vị Phạm thiên đầu tiên. Họ sống ở đấy, do tâm tạo, nuôi sống bằng hỷ, thân tỏa hào quang, phi hành qua hư không, trú trong tịnh lạc và tiếp tục sống như vậy trong một thời gian rất lâu.

42. Bấy giời chúng sanh mà tái sinh ở đấy trước tiên tự nghĩ: Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, Thắng Giả, Vô Địch, Đại Thấu Thị, Đại Thần Lực, Thượng Đế, Sáng Thế, Tạo Hóa, Chí Thánh, Thần Định Mạng, Đấng Tự Tại, Cha của tất cả chúng sanh đă sanh và sẽ sanh. Những chúng sanh này do ta tạo ra. V́ sao? Bởi v́ trước đó ta đă mong ước: "Các chúng sanh kia hăy đến nơi này!" Sau khi ta đă khởi tâm như thế, bây giờ các chúng sanh này đă đến.

Các chúng sanh mà tái sanh ở đấy sau vị ấy cũng nghĩ: Vị này là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, Thắng Giả, Vô Địch, Đại Thấu Thị, Đại Thần Lực, Thượng Đế, Sáng Thế, Tạo Hóa, Chí Thánh, Thần Định Mạng, Đấng Tự Tại, Cha của tất cả chúng sanh đă sanh và sẽ sanh. Chúng ta do Ngài tạo ra. V́ sao? Bởi v́ chúng ta thấy rằng vị ấy sanh ở đây trước và chúng ta xuất hiện sau Ngài.

43. Chư tỳ-kheo, ở đây chúng sanh mà tái sanh trước có tuổi thọ dài hơn, dung sắc tuyệt diệu hơn, oai lực hùng hậu hơn các chúng sanh sinh sau.

44. Chư tỳ-kheo, bấy giờ, sự kiện này xảy ra, một chúng sanh sau khi từ bỏ cơi đó, tái sanh ở đời này, sau đó vị ấy xuất gia và do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và nhờ định này vị ấy nhớ lại đời sống trước đó của ḿnh, nhưng không nhớ hơn kiếp đó. Vị ấy nói như vầy: "Chúng ta được sáng tạo do Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, Thắng Giả, Vô Địch, Đại Thấu Thị, Đại Thần Lực, Thượng Đế, Sáng Thế, Tạo Hóa, Chí Thánh, Thần Định Mạng, Đấng Tự Tại, Cha của tất cả chúng sanh đă sanh và sẽ sanh. Ngài là vĩnh cửu, bền vững, thường hằng, không bị thay đổi và sẽ y như vật thường trụ. Nhưng chúng ta do Ngài tạo ra và xuất hiện ở đời này-Chúng ta là vô thường, không bền vững, thọ mạng ngắn, bị biến hoại. Chư tỳ-kheo, đây là trường hợp thứ nhất.

45. Trong trường hợp thứ nh́, do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến đối với vài điều và không phải nhà thường kiến đối với những điều khác, tuyên bố ngă và thế giới là một phần thường hằng và một phần không thường hằng?

Chư tỳ-kheo, có những chư thiên gọi là "bị sa đoạ do vui đùa". Những vị này phung phí nhiều thời gian say đắm trong hoan lạc vui đùa. Do đó họ quên ăn và từ bỏ cơi đó.

46. Chư tỳ-kheo, bấy giờ, sự kiện này xảy ra, có chúng sanh sau khi từ bỏ cơi đó, tái sanh ở đời này, sau đó vị ấy xuất gia và do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định và nhờ định này vị ấy nhớ lại đời sống trước đó của ḿnh, nhưng không nhớ hơn kiếp đó. Vị ấy nói như vầy: "Những chư thiên nào không bị sa đọa do vui đùa, không phung phí thời gian say đắm trong hoan lạc vui đùa. Do đó họ không quên ăn, và bởi v́ họ không quên ăn nên không từ bỏ cơi đó. Những chư thiên đó là vĩnh cửu, bền vững, thường hằng, không thay đổi và sẽ y như vật thường trụ."

47. Chư tỳ-kheo, có những chư thiên gọi là "bị sa đoạ do ư." Những chư thiên này nh́n nhau với tâm ganh tỵ quá đáng. Do đó tâm của họ bị sa đọa bởi sân hận đối với nhau, khiến cho thân và tâm của họ bị kiệt lực và họ phải từ bỏ cơi đó.

48. Chư tỳ-kheo, bấy giờ, sự kiện này xảy ra, có chúng sanh sau khi từ bỏ cơi đó, tái sanh ở đời này, sau đó vị ấy xuất gia và do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định. Do định này vị ấy nhớ lại đời sống trước đó của ḿnh, nhưng không nhớ hơn kiếp đó. Vị ấy nói như vầy: "Những chư thiên nào không bị sa đọa do ư, không nh́n nhau với tâm ganh tỵ quá đáng. Kết quả là tâm của họ không bị sa đọa bởi sân hận đối với nhau, thân và tâm họ không bị kiệt lực và họ không từ bỏ cơi đó. Những chư thiên đó là vĩnh cửu, bền vững, thường hằng, không thay đổi và sẽ y như vật thường trụ. Nhưng chúng ta là những chư thiên bị sa đọa do ư. Chúng ta nh́n nhau với tâm ganh tỵ quá đáng, kết quả là tâm chúng ta bị sa đọa bởi sân hận đối với nhau. Do đó thân và tâm chúng ta bị kiệt lực và phải từ bỏ cơi đó. Xuất hiện ở đời này, giờ đây chúng ta là không vĩnh cửu, không bền vững, thọ mạng ngắn, chịư sự biến hoại. Chư tỳ-kheo, đây là trường hợp thứ ba.

49. Trong trường hợp thứ tư: Chư tỳ-kheo, ở đây có sa-môn hoặc bà-la-môn là những nhà suy luận, nhà khảo sát. Vị ấy tuyên bố quan điểm của ḿnh, được rút ra do suy luận, được t́m ra nhờ những khảo sát, theo tư tưởng mơ mộng của ḿnh, như vầy: "Điều mà gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân" - ngă đó là không vĩnh cửu, không bền vững, không thường hằng, bị thay đổi. Nhưng điều mà gọi là "Tâm, ư hoặc thức" - ngă đó là vĩnh cữu, bền vững, thường hằng, không bị biến hoại và sẽ y như vật thường trự.

50. Chư tỳ-kheo, đứng trên bốn lập trường này, những sa-môn và bà-la-môn kia tuyên bố ngă và thế giới một phần thường hằng và một phần không thường hằng. Bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng phiến diện, tất cả làm thế trên bốn lập trường, hoặc một trong bốn lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

51. Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu và Ngài hiểu: "Những quan điểm này, nhận lầm như vậy, nắm giữ sai lạc như vậy, dẫn đến một sanh thú như thế, đến một kết quả như thế ở đời sau. Ngài cũng hiểu pháp nào vượt qua điều này. Nhờ hiểu biết như thế, Ngài không nắm giữ sai lạc và bởi v́ tà chấp đă được giải thoát, Ngài đă tự chứng ngộ trạng thái an tịnh toàn hảo. Sau khi hiểu như thực sự sinh khởi và sự diệt tận của các cảm thọ, vị ngọt, và sự xả ly chúng, Như Lai đă giải thoát không có chấp thủ."

52. Chư tỳ-kheo, đây là các pháp sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh và cao thượng, vượt qua phạm vi luận lư, chỉ người có trí mới có thể hiểu biết, mà Như Lai sau khi tự ḿnh chứng ngộ với tuệ toàn tri, đă tuyên thuyết cho những kẻ khác; chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ THẾ GIỚI HỮU BIÊN VÀ VÔ BIÊN
(ANTĀNANTAVĀDA)

53. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà hữu biên và vô biên và ở trên bốn lập trường tuyên bố thế giới là hữu biên hoặc vô biên. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

54. Chư tỳ-kheo, trong trường hợp thứ nhất, có vị sa-môn hoặc bà-la-môn, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định. Do định này, vị ấy trú và nhận thức thế giới là hữu biên. Vị ấy nói như vầy: "Thế giới là hữu biên và hạn cuộc. V́ sao? Bởi v́ tôi đă đạt đến tâm định, đến mức trú và nhận thức thế giới là hữu biên. V́ lẽ đó tôi biết thế giới là hữu biên và hạn cuộc."

55. Trong trường hợp thứ hai: Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định. Do định này, vị ấy trú và nhận thức thế giới là vô biên. Vị ấy nói như vầy: "Thế giới là vô biên và vô hạn." Những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới là hữu biên và hạn cuộc là nói sai. Thế giới là vô biên và vô hạn. V́ sao? Bởi v́ tôi đạt đến tâm định đến mức tôi trú và nhận thức thế giới là vô biên. V́ lẽ đó tôi biết: Thế giới là vô biên và vô hạn."

56. Trong trường hợp thứ ba: Chư tỳ-kheo, ở đây vị sa-môn hoặc bà-la-môn nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định. Do tâm định này, vị ấy trú và nhận thức thế giới là hữu biên ở các hướng trên và dưới, nhưng vô biên về bề ngang. Vị ấy nói như vầy: "Thế giới vừa hữu biên vừa vô biên." Những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới là hữu biên và hạn cuộc, họ nói sai; những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới là vô biên và vô hạn, họ cũng nói sai. Thế giới vừa hữu biên vừa vô biên. V́ sao? Bởi v́ tôi đạt đến tâm định, đến mức trú và nhận thức thế giới là hữu biên ở các hướng trên và dưới nhưng vô biên về bề ngang. V́ lẽ đó tôi biết: Thế giới vừa hữu biên vừa vô biên.

57. Trong trường hợp thứ tư: Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn là nhà suy luận, nhà khảo sát. Vị ấy tuyên bố quan điểm của ḿnh, được rút ra do suy luận, được t́m ra nhờ những khảo sát, theo tư tưởng mơ mộng của ḿnh như vầy: "Thế giới không hữu biên cũng không vô biên." Những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới là hữu biên và hạn cuộc, những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới là vô biên và vô hạn, những sa-môn và bà-la-môn mà tuyên bố thế giới vừa hữu biên vừa vô biên - tất cả chư vị này đều nói sai. Thế giới không hữu biên cũng không vô biên.

58. Chư tỳ-kheo, trên bốn lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn là những nhà hữu biên và vô biên tuyên bố thế giới là hữu biên hoặc vô biên. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào tuyên bố thế giới là hữu biên hoặc vô biên, tất cả làm thế trên bốn lập trường này, hoặc trên một trong bốn lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

59-60. Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ NGỤY BIỆN VÔ TẬN
(AMARĀ VIKKHEPAVĀDA)

61. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà ngụy biện vô tận. Khi được hỏi về điểm này nọ, ở trên bốn lập trường họ dùng đến những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thức. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này làm thế?

62. Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn không hiểu như thực pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện. Vị ấy nghĩ: "Ta không hiểu như thực pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện. Nếu ta tuyên bố điều ǵ là thiện hoặc bất thiện th́ lời tuyên bố có thể sai lạc và sẽ làm cho ta phiền muộn và phiền muộn đó sẽ là một chướng ngại cho ta." Do vậy, v́ lo sợ và chán ghét việc nói sai, vị ấy không tuyên bố bất cứ điều ǵ là thiện hoặc bất thiện. Nhưng khi vị ấy hỏi về điểm này nọ, vị ấy dùng những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc: "Tôi không nói như vầy, tôi cũng không nói theo cách kia, tôi cũng không nói theo cách khác. Tôi không nói rằng nó không là thế, tôi cũng không nói rằng không phải cái này, không phải cái kia." Chư tỳ-kheo, đây là trường hợp thứ nhất.

63. Trong trường hợp thứ hai : Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn không hiểu như thực pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện. Vị ấy nghĩ: "Ta không hiểu như thực pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện. Nếu ta tuyên bố điều ǵ là thiện hoặc bất thiện th́ dục và tham hoặc sân và hận có thể phát sanh trong tâm ta. Nếu dục và tham hoặc sân và hận phát sanh trong tâm ta, điều đó sẽ là thủ do ta gây ra. Thủ như thế sẽ làm cho ta phiền muộn và phiền muộn đó sẽ là một chướng ngại cho ta." Do vậy, v́ lo sợ và chán ghét thủ, vị ấy không tuyên bố bất cứ điều ǵ là thiện hoặc bất thiện. Nhưng khi được hỏi về điểm này nọ, vị ấy dùng những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc: "Tôi không nói như vậy, tôi cũng không nói theo cách kia, tôi cũng không nói theo cách khác. Tôi không nói rằng nó không là thế, tôi cũng không nói rằng không phải cái này, không phải cái kia."

64. Trong trường hợp thứ ba: Chư tỳ-kheo, có vị sa-môn hoặc bà-la-môn không hiểu như thực pháp nào là thiện và pháp nào là bất thiện. Hiện giờ có những sa-môn và bà-la-môn thông thái, đa tài, hùng biện, đi đó đây đả phá các quan điểm của những người khác với trí tuệ của ḿnh. Nếu ta tuyên bố điều ǵ là thiện hoặc bất thiện, những sa-môn, bà-la-môn này có thể thẩm vấn những quan điểm của ta, buộc ta giải thích và bác bỏ những lời của ta. Trong trường hợp đó, ta không sao trả lời được và điều đó sẽ làm cho ta bực tức và sự bực tức đó sẽ là một chướng ngại cho ta. Do vậy, v́ lo sợ và chán ghét việc bị thẩm vấn, vị ấy không tuyên bố bất cứ điều ǵ là thiện hoặc bất thiện. Nhưng khi được hỏi về điểm này nọ, vị ấy dùng những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc.

65. Trong trường hợp thứ tư : Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn do đần độn và ngu xuẩn, khi người ta hỏi về điểm này nọ, vị ấy dùng những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc: "Nếu bạn hỏi tôi có thế giới khác hay không - nếu tôi nghĩ rằng có một thế giới khác, tôi sẽ tuyên bố rằng có. Nhưng tôi không nói như vậy, tôi cũng không nói theo cách kia, tôi cũng không nói theo cách khác. Tôi cũng không nói rằng không phải cái này, không phải cái kia."

Cũng vậy, khi được hỏi bất cứ câu hỏi nào sau đây, vị ấy dùng những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc:

A)

1. Có phải không có thế giới khác?
3. Có phải vừa có vừa không có thế giới khác?
4. Có phải không có cũng không phải không có thế giới khác?

B)

1. Có phải có những chúng sanh hóa sanh?
2. Có phải không có những chúng sanh hóa sanh?
3. Có phải vừa có vừa không có những chúng sanh hóa sanh?
4. Có phải không có cũng không phải không có những chúng sanh hóa sanh?

C)

1. Có phải có quả dị thục của các nghiệp thiện ác?
2. Có phải không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác?
3. Có phải vừa có vừa không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác?
4. Có phải không có cũng không phải không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác?

D)

1. Có phải Như Lai tồn tại sau khi chết?
2. Có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
3. Có phải Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết?
4. Có phải Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết?

66. Chư tỳ-kheo, ở trên bốn cơ sở này mà những sa-môn và bà-la-môn là những nhà ngụy biện vô tận, dùng đến những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc khi được hỏi về điểm này nọ. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào mà dùng đến những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc, tất cả làm như thế trên bốn lập trường này, hoặc trên một trong bốn lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ SỰ SINH KHỞI NGẪU NHIÊN
(ADHICCASAMUPPANNAVĀDA)

67. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn hoặc bà-la-môn ở trên hai lập trường tuyên bố ngă và thế giới sinh khởi một cách ngẫu nhiên. Và do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

68. Chư tỳ-kheo, có những vị trời gọi là "Chúng sanh vô tưởng". Khi tưởng sinh khởi, các vị này từ bỏ cơi đó. Chư tỳ-kheo, bấy giờ sự kiện này xảy ra, một chúng sanh, sau khi từ bỏ cơi đó, tái sanh ở đời này. Sau đó vị ấy xuất gia, do nhờ nhiệt tâm, tinh tấn, chuyên cần và chánh tác ư nên đạt đến tâm định. Do định này, vị ấy nhớ lại lúc tưởng sinh khởi, nhưng không nhớ điều ǵ hơn giai đoạn đó. Vị ấy nói như vầy: "Ngă và thế giới sinh bởi ngẫu nhiên. V́ sao? Bởi v́ trước đây ta không có, nhưng bây giờ ta có. Từ chỗ không có ta hiện hữu ở đời. Chư tỳ-kheo, đây là trường hợp thứ nhất.

69. Trong trường hợp thứ nh́: Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn là nhà suy luận, nhà khảo sát. Vị ấy tuyên bố quan điểm của ḿnh được rút ra do suy luận, được t́m ra từ những khảo sát, theo tư tưởng mơ mộng của ḿnh, như vầy: "Ngă và thế giới sinh khởi ngẫu nhiên."

70. Chư tỳ-kheo, trên hai lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn tuyên bố ngă và thế giới sinh khởi ngẫu nhiên. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào tuyên bố ngă và thế giới sinh khởi một cách ngẫu nhiên, tất cả làm thế trên hai lập trường này, hoặc trên một trong hai lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… Chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

71. Chư tỳ-kheo, trên mười tám lập trường này, mà những sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về quá khứ, nắm lấy những quan điểm về quá khứ, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào là những nhà suy đoán quá khứ, nắm lấy những quan điểm về quá khứ, và khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ, tất cả chư vị làm thế trên mười tám lập trường này, hoặc trên một trong mười tám lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

72. Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… giải thoát không có chấp thủ.

73. Chư tỳ-kheo, đây là các pháp sâu xa…. sẽ bàn đến.

NHỮNG SUY ĐOÁN VỀ TƯƠNG LAI
(APARANTAKAPPIKA)

74. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về tương lai, nắm lấy những quan điểm về tương lai, và ở trên bốn mươi bốn lập trường khẳng định các tà kiến liên quan đến tương lai. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn dựng lên các suy đoán của họ?

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ TƯỞNG BẤT TỬ
(SANNIVĀDA)

75. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn mà đề xướng lư thuyết về tưởng bất tử và ở trên mười sáu lập trường tuyên bố ngă tồn tại hữu tưởng sau khi chết. Và do cái ǵ, đối với cái ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

76. Họ tuyên bố: "Ngă bất biến sau khi chết, hữu tưởng:

A)

1. Có sắc.2. Vô sắc.
3. Vừa có sắc vừa vô sắc.
4. Không có sắc cũng không phải không có sắc.

B)

1. Hữu biên.
2. Vô biên.
3. Vừa hữu biên vừa vô biên.
4. Không hữu biên cũng không vô biên.

C)

1. Đồng nhất tưởng.
2. Sai biệt tưởng
3. Hữu hạn tưởng.
4. Vô hạn tưởng.

D)

1. Hoàn toàn lạc.
2. Hoàn toàn khổ.
3. Vừa lạc vừa khổ.
4. Không lạc cũng không khổ.

77. Chư tỳ-kheo, ở trên mười sáu lập trường này, những sam và bà-la-môn đề xướng lư thuyết về tưởng bất tử, tuyên bố ngă tồn tại hữu tưởng sau khi chết. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào đề xướng lư thuyết về tưởng bất tử, tất cả vị đó làm thế trên mười sáu lập trường này, hoặc trên một trong mười sáu lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ VÔ TƯỞNG BẤT TỬ
(ASANNĪVĀDA)

78. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn đề xướng lư thuyết vô tưởng bất tử, ở trên tám lập trường tuyên bố ngă tồn tại vô tưởng sau khi chết. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

79. Họ tuyên bố: "Ngă bất biến sau khi chết, vô tưởng:

A)

1. Có sắc.
2. Vô sắc.
3. Vừa có sắc vừa vô sắc.
4. Không có sắc cũng không phải không có sắc.

B)

1.Hữu biên
2. Vô biên.
3. Vừa có sắc vừa vô sắc.
4. Không có sắc cũng không vô sắc.

C)

1. Hữu biên.
2. Vô biên.
3. Vừa hữu biên vừa vô biên.
4. Không hữu biên cũng không vô biên.

83. Chư tỳ-kheo, ở trên tám lập trường này, những sa-môn và bà-la-môn đề xướng lư thuyết phi tưởng phi phi tưởng bất tử, tuyên bố ngă tồn tại phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào đề xướng lư thuyết về phi tưởng phi phi tưởng bất tử, tất cả vị đó làm thế trên tám lập trường này, hoặc trên một trong tám lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

CHỦ THUYẾT ĐOẠN KIẾN
(UCCHEDAVĀDA)

84. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn là những nhà đoạn kiến, ở trên bảy lập trường tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt, tiêu hoại của một chúng sanh. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

85. Chư tỳ-kheo, ở đây có vị sa-môn hoặc bà-la-môn khẳng định lư thuyết về quan điểm sau đây: "Ngă có sắc, nó gồm có tứ đại và do cha mẹ sinh ra. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân thể, và không tồn tại sau khi chết, ở trường hợp này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

86. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở điểm đó mà ngă hoàn toàn bị tiêu diệt. V́ có một ngă khác-có thiên tánh, có sắc, thuộc dục giới, sống nhờ đoàn thực. Bạn không biết cũng không thấy, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở trường hợp này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số khác tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

87. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă hoàn toàn bị tiêu diệt. V́ có một ngă khác-có thiên tánh, có sắc, do tâm tạo, đầy đủ chân tay và các giác quan, không thiếu bất cứ căn nào. Bạn không biết cũng không thấy ngă đó, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở trường hợp này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số khác tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

88. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă hoàn toàn bị diệt. V́ có một ngă khác thuộc về không vô biên xứ, (được đạt đến) do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do biến mất các tưởng chống đối, do không chú ư đến các tưởng sai biệt, (do quán) "Hư không là vô biên". Bạn không biết cũng không thấy ngă đó, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở trường hợp này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số khác tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

89. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă hoàn toàn bị diệt. V́ có một ngă khác thuộc về thức vô biên xứ, (được đạt đến) do vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, (do quán) 'Thức là vô biên'. Bạn không biết cũng không thấy ngă đó, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở trường hợp này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

90. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă hoàn toàn bị diệt. V́ có một ngă khác thuộc về vô sở hữu xứ, (được đạt đến) do vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, (do quán) 'Không có vật ǵ'. Bạn không biết cũng không thấy ngă đó, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị đoạn diệt, tiêu hoại với sự việt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở điểm này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

91. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă hoàn toàn bị diệt. V́ có một ngă khác thuộc về phi tưởng phi phi tưởng xứ, (được đạt đến) do vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, (do quán) 'Đây là tịnh lạc, đây là thâm diệu'. Bạn không biết cũng không thấy ngă đó, nhưng tôi biết nó và thấy nó. V́ ngă này bị diệt, tiêu hoại với sự diệt của thân và không tồn tại sau khi chết, ở điểm này ngă hoàn toàn bị diệt." Theo cách này một số tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

92. Chư tỳ-kheo, ở trên bảy lập trường này mà các sa-môn và bà-la-môn là những nhà đoạn kiến, tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh, tất cả vị đó làm thế trên bảy lập trường này, hoặc trên một trong bảy lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

NHỮNG LƯ THUYẾT VỀ NIẾT BÀN HIỆN TẠI
(DITTHADHAMMANIBBĀNAVĀDA)

93. Chư tỳ-kheo, có một số sa-môn và bà-la-môn đề xướng lư thuyết về Niết-bàn hiện tại, ở trên năm lập trường tuyên bố về Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh. Do cái ǵ, liên quan đến điều ǵ, những sa-môn và bà-la-môn này tuyên bố các quan điểm của họ?

94. Chư tỳ-kheo, ở đây, có vị sa-môn hoặc bà-la-môn khẳng định lư thuyết hoặc quan điểm sau đây: "Khi ngă này được thụ hưởng và cung cấp với năm loại dục lạc, thỏa thích trong chúng - ở trường hợp này ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại." Theo cách này một số tuyên bố Niết-bàn hịên tại của một chúng sanh.

95. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều ấy. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại. V́ sao? Bởi v́ các dục lạc là vô thường, khổ, bị thay đổi, và qua sự thay đổi và biến hoại của chúng, sầu, bi, khổ, ưu, năo sinh khởi. Nhưng khi ngă, được ly thoát hoàn toàn các dục lạc, viễn ly các bất thiện pháp, nhập và trú trong sơ thiền, có tầm, tứ, hỷ, lạc sanh từ sự viễn ly các triền cái-ở trường hợp này ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại. Theo cách này một nhóm khác tuyên bố tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh.

96. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều ấy. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại. V́ sao? Bởi v́ thiền đó chứa tầm và tứ; do vậy nó được coi là thô. Nhưng khi nào, với sự tịnh chỉ tầm và tứ, ngă nhập và trú trong nhị thiền, nội tâm an tịnh và chuyên nhất, có hỷ và lạc do định sanh - ở trường hợp này ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn." Theo cách này một nhóm khác tuyên bố tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh.

97. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều ấy. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại. V́ sao? Bởi v́ thiền đó chứa hỷ và hứng khởi: do vậy nó được coi là thô. Nhưng khi nào với sự diệt hỷ, người ta trú trong xả, có niệm và tỉnh giác, thân hưởng an lạc, nhập và trú tam thiền, mà các bậc thánh thường ca tụng là: "Vị ấy trú một cách an lạc, trong xả và niệm" - ở trường hợp này ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh.

98. Đối với vị ấy có người nói: "Có một ngă như thế như bạn khẳng định. Tôi không phủ nhận điều ấy. Nhưng không phải ở trường hợp đó mà ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại. V́ sao? Bởi v́ thiền đó chứa lạc trú thường xuyên nơi tâm; do vậy nó được coi là thô. Nhưng khi nào với sự từ bỏ lạc và khổ, với sự biến mất hỷ và ưu trước, người ta nhập và trú trong tứ thiền, không có lạc và khổ và chứa niệm thanh tịnh do nhờ xả - ở trường hợp này ngă đạt đến tối thượng Niết-bàn hiện tại". Theo cách này một nhóm khác tuyên bố tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh.

99. Chư tỳ-kheo, ở trên năm lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn đề xướng lư thuyết về Niết-bàn hiện tại. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào tuyên bố tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh, tất cả vị đó làm thế trên năm lập trường này, hoặc trên một trong năm lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

100. Chư tỳ-kheo, ở trên bốn mươi bốn lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về tương lai, nắm lấy các quan điểm về tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến tương lai. Bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào là những nhà suy đoán về tương lai, nắm lấy những quan điểm về tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến tương lai, tất cả vị đó làm thế trên bốn mươi bốn lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu… và chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

101. Chư tỳ-kheo, ở trên sáu mươi hai lập trường này mà những sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về quá khứ, tương lai, quá khứ lẫn tương lai, nắm lấy những quan điểm về quá khứ và tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ và tương lai.

102. Chư tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào là những nhà suy đoán về quá khứ, tương lai, hoặc quá khứ lẫn tương lai, nắm giữ những quan điểm vế quá khứ và tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khức và tương lai, tất cả vị đó làm thế trên sáu mươi hai lập trường này, hoặc trên một trong sáu mươi hai lập trường. Không có quan điểm nào ở bên ngoài chúng.

103. Chư tỳ-kheo, điều này Như Lai hiểu và Ngài hiểu: "Những quan điểm này nhận lầm như vậy, nắm giữ sai lạc như vậy, dẫn đến một sanh thú như thế, đến một kết quả như thế ở đời sau." Ngài cũng hiểu pháp nào vượt qua điều này. Nhờ hiểu biết như thế Ngài không nắm giữ sai lạc và bởi v́ tà chấp đă được giải thoát, Ngài đă tự chứng ngộ trạng thái an tịnh toàn hảo. Sau khi hiểu như thực sự sinh khởi và sự diệt tận của các cảm thọ, vị ngọt và sự xuất ly chúng. Như Lai đă giải thoát không có chấp thủ.

104. Chư tỳ-kheo, đây là các pháp sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh và cao thượng, vượt qua phạm vi luận lư, chỉ người có trí mới có thể hiểu biết, mà Như Lai sau khi tự ḿnh chứng ngộ với tuệ toàn tri, đă tuyên thuyết cho những kẻ khác; chính v́ đối với các pháp này mà những ai ca tụng một cách đúng đắn các đức hạnh của Như Lai sẽ bàn đến.

SỰ LUÂN CHUYỂN CỦA CÁC DUYÊN VÀ SỰ GIẢI THOÁT

105. Chư tỳ-kheo, nơi đây khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới và thường hằng-đó chỉ là cảm thọ của những người không biết và không thấy; đó chỉ là sự giao động và khuynh đảo của những người bị ch́m đắm trong ái.

106. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là một phần thường hằng và một phần không thường hằng-đó chỉ là sự giao động và khuynh đảo của những người bị ch́m đắm trong ái.

107. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường tuyên bố thế giới là hữu biên hoặc vô biên.

108. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường dùng đến những lời lẫn tránh và mập mờ không có chỗ kết thúc.

109. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên hai lập trường tuyên bố ngă và thế giới sinh khởi một cách ngẫu nhiên.

110. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên mười tám lập trường nắm giữ những quan điểm về quá khứ, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ.

111. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên mười sáu lập trường đề xướng lư thuyết hữu tưởng bất tử, tuyên bố ngă tồn tại có tưởng sau khi chết.

112. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên tám lập trường đề xướng lư thuyết về vô tưởng bất tử, tuyên bố ngă tồn tại vô tưởng sau khi chết.

113. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên tám lập trường đề xướng lư thuyết phi tưởng phi phi tưởng bất tử, tuyên bố ngă tồn tại phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết.

114. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bảy lập trường tuyên bố sự đoạn diệt, hủy diệt và tiêu hoại của một chúng sanh.

115. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên năm lập trường đề xướng lư thuyết Niết-bàn hiện tại, tuyên bố tối thượng Niết-bàn hiện tại của một chúng sanh.

116. Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trênbốn mươi lập trường nắm giữ những quan điểm về tương lai khẳng định các tà kiến liên quan đến tương lai.

117. Khi những sa môn và bà-la-môn kia ở trên sáu mươi hai lập trường nắm giữ những quan điểm về quá khứ và tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ và tương lai-đó cũng chỉ là cảm thọ của những người không biết và không thấy; đó cũng chỉ là sự giao động và khuynh đảo của những người bị ch́m đắm trong ái.

DO DUYÊN XÚC
(PHASSAPACCAYAVĀRA)

118. (131) Chư tỳ-kheo, khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng-đó là do duyên xúc. Sự kiện rằng, họ có thể kinh nghiệm cảm thọ đó mà không có xúc - trường hợp như thế không thể xảy ra.

119. (132) Khi những sa-môn và bà-la-môn kia ở trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là một phần thường hằng và một phần không thường hằng-đó cũng do duyên xúc. Sự kiện rằng, họ có thể kinh nghiệm cảm thọ đó mà không có xúc - trường hợp như thế không thể xảy ra.

120. (133)-129(142). Khi những sa-môn và bà-la-môn kia là những nhà hữu biên và vô biên, tuyên bố các quan điểm của họ; khi những nhà ngụy biện, khi những nhà sinh khởi ngẫu nhiên; khi các nhà suy đoán về quá khứ và nắm giữ các quan điểm vế quá khứ, khẳng định trên mười tám lập trường về các tà kiến liên quan đến quá khứ; khi những người mà đề xướng lư thuyết hữu tưởng bất tử, vô tưởng bất tử, hoặc phi tưởng phi phi tưởng bất tử thuyên bố những quan điểm của học, khi những nhà đoạn kiến tuyên bố các quan điểm của họ; khi những người đề xướng lư thuyết Niết-bàn hiện tại, tuyên bố các quan điểm của họ; khi những người mà là những nhà suy đoán về tương lai, nắm giữ các quan điểm về tương lai, khẳng định trên bốn mươi bốn lập trường về các tà kiến liên quan đến tương lai-đó cũng là do duyên xúc. Sự kiện rằng, họ có thể kinh nghiệm cảm thọ đó mà không có xúc - trường hợp như thế không thể xảy ra.

130 (143). Khi những sa-môn và bà-la-môn là những nhà suy đoán về quá khứ, suy đoán về tương lai, suy đoán về quá khứ lẫn tương lai, nắm giữ các quan điểm về quá khứ và tương lai, khẳng định trên sáu mươi hai lập trường các tà kiến liên quan đến quá khứ và tương lai-đó cũng do duyên xúc. Sự kiện rằng, họ có thể kinh nghiệm cảm thọ đó mà không có xúc - trường hợp như thế không thể xảy ra.

SỰ GIẢI THÍCH VỀ LUÂN CHUYỂN

144. Chư tỳ-kheo, ở đây những sa-môn và bà-la-môn là những nhà thường kiến, ở trên bốn lập trường tuyên bố ngă và thế giới là thường hằng; những nhà thường kiến phiến diện; những nhà hữu biên và vô biên; những nhà ngụy biện vô tận; những nhà sinh khởi ngẫu nhiên; những nhà suy đoán về quá khứ; những người đề xướng lư thuyết về hữu tưởng bất tử; về vô tưởng bất tử; về phi tưởng phi phi tưởng bất tử, những nhà đoạn kiến, những người đề xướng lư thuyết Niết-bàn hiện tại; những nhà suy đoán về tương lai, những nhà suy đoán về quá khứ, những nhà suy đoán về quá khứ lẫn tương lai, nắm giữ các quan điểm về quá khứ và tương lai, ở trên sáu mươi hai lập trường khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ và tương lai - tất cả những sa-môn và bà-la-môn kia kinh nghiệm những cảm thọ này chỉ có các xúc chạm thường xuyên qua sáu xúc xứ. Với thọ làm duyên ái sinh; với ái làm duyên, thủ sinh, với thủ làm duyên, hữu sinh, với hữu làm duyên, sanh sinh, với sanh làm duyên, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu và năo sinh."

SỰ CHẤM DỨT LUÂN CHUYỂN
(VIVATTAKATHĀDI)         

145. Chư tỳ-kheo, khi một tỳ-kheo hiểu như thực sự sinh khởi và sự diệt tận của sáu xúc xứ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát ly chúng, lúc đó vị ấy hiểu những ǵ vượt xa tất cả những quan điểm này.

146. Chư tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hoặc bà-la-môn nào, là những nhà suy đoán về quá khứ, những nhà suy đoán về tương lai, những nhà suy đoán về quá khứ lẫn tương lai, nắm giữ những quan điểm về quá khứ và tương lai, khẳng định các tà kiến liên quan đến quá khứ và tương lai - tất cả bị kẹt trong lưới của kinh này với sáu mươi hai loại. Bất cứ khi nào họ trồi lên, họ trồi lên và bị tóm trong lưới này, bị kẹt và nằm gọn ngay trong lưới này.

Chư tỳ-kheo, y như người đánh cá lăo luyện hoặc đệ tử của người đánh cá, sau khi tung ra một cái lưới có mắt lưới thật khít qua một hồ nước nhỏ, có thể nghĩ: "Bất cứ sinh vật lớn nào mà có trong hồ này, bất cả bị kẹt trong lưới này, bị kẹt và nằm gọn ngay trong lưới này."-Cũng vậy, tất cả những sa-môn và bà-la-môn kia bị mắc kẹt trong lưới này với sáu mươi hai loại của nó. Bất cứ khi nào họ trồi lên, họ trồi lên và bị tóm trong lưới này, bị mắc kẹt và nằm gọn ngay trong lưới này.

147. Chư tỳ-kheo, thân của Như Lai tồn tại, bị cắt đứt khỏi những ràng buộc của hữu ái. Chừng nào thân của Ngài c̣n, các trời và người c̣n thấy Ngài. Nhưng với sự diệt của thân và sự chấm dứt mạng căn, các trời và người sẽ không thấy Ngài nữa.

Chư tỳ-kheo, y như khi cuống của một chùm xoài bị cắt, tất cả trái treo trên cuống cũng rơi theo nó, cũng vậy, thân của Như Lai tồn tại bị cắt đứt khỏi những ràng buộc của hữu ái. Chừng nào thân Ngài c̣n, các trời, người c̣n thấy Ngài. Nhưng với sự diệt của thân và sự chấm dứt mạng căn, các trời và người sẽ không thấy Ngài nữa.

148. Khi Thế Tôn đă thuyết xong, đức Ànanda thưa: "Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, tựa của thiên khái luận này là gi?"

"Này Ànanda, người có thể nhớ thiên khái luận này có tựa là Lưới Lợi Ích, Lưới Chân Lư, Lưới Cao Thượng, Lưới Quan Điểm. Ngươi cũng có thểnhoó nó là 'Khúc Vô Thượng Khải Hoàn".

149. Thế Tôn đă dạy như vậy. Các tỳ-kheo vô cùng thỏa thích và hoan hỷ về lời dạy của Thế Tôn. Khi Thế Tôn vừa giảng xong thiên khái luận này thi mười ngàn thế giới chuyển động.

DỨT KINH VĂN

-ooOoo-

 

 

PHẦN CHÚ GIẢI

 

1. TÔI ĐĂ NGHE NHƯ VẦY…

A: [*] Đây là lời mở đầu kinh Phạm Vơng do đức Ānanda nói vào lúc kết tập lần thứ nhất. Từ "Như vầy" cho biết kinh có một lời dạy. Nhóm từ "Tôi đă nghe" nghĩa là kinh có người nghe. Nhóm từ "Một dịp nọ" chỉ rằng kinh có một thời gian đặc biệt. Từ "Thế Tôn" chứng tỏ có một đạo sư thuyết kinh này.

[*] A: Atthakathā

Trong bốn cơ sở cho việc thuyết một kinh:

1. Tâm hướng cá nhân.
2. Tâm hướng tha nhân.
3. Có người nêu ra câu hỏi.
4. Một t́nh huống đặc biệt xảy ra.

- Kinh nào Thế Tôn thuyết hoàn toàn qua tâm hướng của Ngài, không có sự thỉnh cầu của người khác thuộc loại một. Như Ākankheyya Sutta (M.6), Vattha Sutta (M.7), Mahā satipatthāna sutta (D.22)…

- Những kinh Thế Tôn thuyết sau khi phân biệt tâm hướng tha nhân như nguyện vọng, căn cơ, vv… thuộc loại hai. Như Cūlarāhula sutta (M. 147), Mahārāhula sutta (M. 62), Dhammacakkappavattana (sam) và Dhātuvibhanga sutta (M. 140).

- Khi tứ chúng, rồng, kim xí điểu, càn thát bà, a tu la, dạ xoa, chư thiên, phạm thiên đến gần Thế Tôn và hỏi câu hỏi. Thế Tôn thuyết một