NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

 

                                      Bản Pāli ngữ:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                              Bản Anh ngữ: Ñānamoli
                                                  Bản Việt ngữ: Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KINH TỪ TÂM
(
Metta-suttam)

 

1. Giờ đây đến lượt ta chú giải về Kinh Từ Tâm, được sắp xếp tiếp theo ngay sau Kinh Bảo Tàng. Chính v́ thế sau khi khẳng định mục tiêu việc sắp xếp kinh này tại vị trí thích hợp tiếp theo sau đây:

Tôi bắt đầu làm sáng tỏ ư nghĩa
Nguồn gốc, là điều minh hoạ
Kinh này do ai nói ra, khi nào, ở đâu và tại sao
Và rồi tôi sẽ đưa ra một bài chú giải.

2. Ở đây, tính ưu việt của phẩm chất công đức gồm trong việc bố thí, tŕ giới, v.v... là điều đă được khẳng định trong Kinh Bảo Tàng. Và Kinh Từ Tâm này được xếp liền kề với kinh đó nhằm mục đích chứng tỏ cho thấy từ tâm đem lại lợi ích như thế nào đối với tính ưu việt do phẩm chất đem lại, v́ một khi toàn thể chúng sanh đều tu luyện Từ Tâm, th́ tính ưu việt phẩm hạnh đó sẽ đem lại kết quả to lớn và có khả năng giúp đem lại tiến thẳng tới lănh vực Giác Ngộ. Hay bằng cách đó, đối với những người đă xuất gia bằng cách Quy Y Phật và chính họ đă đạt đến giới đức nhờ cách tu luyện Thập Giới, Đức Phật đă chứng tỏ trong một đề mục thiền định nói về Kinh Ba Mươi Hai Thể, là điều có khả năng khiến ta từ bỏ tham ái, và với đề mục thiền định Nam Tử Học Đạo có khả năng tạo ra cho ta từ bỏ si mê, và với Kinh Điềm Lành chứng tỏ cho thấy cách tự bảo vệ ḿnh cũng được chứng tỏ như là một điềm lành trong khi việc từ bỏ diễn ra, và với Kinh Châu Báu lại chứng tỏ được việc bảo vệ cho người khác phù hợp với điềm lành đó. Và rồi với Kinh Ngoài Bức Tường [cho thấy] sự thất bại trong khi việc từ bỏ này diễn ra là điều đă được đề cập đến ở trên, Kinh này đă chỉ ra một số chúng sanh trong số những người đă được nói đến trong Kinh Châu Báu, và rồi với Kinh Bảo Tàng tính ưu việt nơi phẩm chất chính là điều đối lại với thất bại đă được đề cập đến trong Kinh Bên Ngoài Bức Tường. Nhưng cho đến nay th́ chưa có đề mục thiền định nào đă được chứng tỏ có khả năng tạo ra loại bỏ sân hận; và chính v́ thế để chứng tỏ một đề mục thiền định có thể tạo ra được từ bỏ sân hận, Kinh Từ Tâm được sắp xếp ở vị trí này: v́ theo cách này Tiểu tụng được hoàn tất một cách trọn vẹn. Đây chính là mục tiêu xếp đặt Kinh Từ Tâm ở vị trí cuối cùng này.

[Nguồn Gốc]

3. Giờ đây điều đă được đề cập đến trong Lộ Tŕnh nêu trên:

Tôi sẽ bắt đầu làm sáng tỏ ư nghĩa
Nguồn gốc, là điều minh hoạ
Kinh này do ai nói ra, khi nào, ở đâu và tại sao?
Và rồi tôi sẽ đưa ra một bài chú giải
.

Ở đây, [232] Chính Đức Phật đă công bố Kinh Từ Tâm, chứ không phải bất kỳ một đệ tử nào cả; và chính vào lúc các vị Tỳ khưu đă bị các vị Chư thiên quấy phá trên dốc núi Hy-ma-lạp-sơn. Chư vị đă quay trở về với Đức Phật và kinh này được công bố tại Savatthi như là một đề mục thiền định với mục tiêu cung cấp cho các vị tỳ khưu đó sự an toàn. Ta nên hiểu ngắn gọn để bắt đầu với, điều được làm rơ về nguồn gốc được minh chứng cho các vấn nạn đó.

4. Nhưng ta nên hiểu theo chi tiết như sau. Vào một dịp nọ khi Đức Phật đang đến trụ tại Savatthi, khi đến thời điểm Đức Phật chọn chỗ để an cư mùa mưa [27] đang tiến gần. Vào dịp đó có nhiều tỳ khưu từ các quốc gia khác, đang muốn có nơi cư trú mùa mưa tại nhiều vị trí khác nhau, sau khi đă nhận được đề mục thiền định trước sự hiện diện của Đức Phật, họ liền tiến lại gần Đức Phật. Và tại nơi đó ngài đă quảng bá các đề mục thiền định thích hợp cho tám mươi tư ngàn cách luyện tập cá tánh theo cách sau đây. Đối với những ai có cá tánh tham ái ngài chỉ cho họ đặc tính bất tịnh làm đề mục thiền định về mười một loại liên quan đến tâm thức và vô thức; [28] đối với những ai có tâm địa sân hận, Ngài đưa ra bốn đề mục thiền định bắt đầu với Từ Tâm; đối với những ai có cá tánh hay si mê, ngài đưa ra đề mục thiền định gồm có niệm về sự chết, v.v... đối với những ai có cá tánh tầm. Niệm về hơi thở là đề mục thiền định ngài đưa ra, đề mục đất biến xứ, v.v... đối với những người có cá tánh đức tin, đề mục thiền định ngài giao cho là gồm tưởng niệm về ân đức Phật, v.v...; và đối với những ai có cá tính giác (khám phá) th́ tính giác gồm xác định về SắcTứ Đại.

5. V́ vậy, khi [một bộ phận] gồm năm trăm tỳ khưu mỗi vị đă học hỏi cho chính ḿnh một đề mục thiền định trước sự hiện diện của Đức Phật và đang t́m kiếm cho ḿnh một nơi cư trú thích hợp ở một ngôi làng làm trung tâm khất thực. Kết quả là trong quốc gia xa xôi hẻo lánh họ tới trước một ngọn núi làm thành một phần rặng núi Hymalaya. Đang khi đó bề mặt ngọn núi trơn trượt giống như pha lê thạch anh trong suốt. Được làm đẹp do những cánh rừng với tán cây se lạnh phủ đầy một mầu xanh và một giải đất rải rác đầy cát giống như một mạng lưới gắn đầy những viên ngọc quư hay một tờ giấy bạc khổng lồ và lại được trang bị với một thác nước trong sạch mát rượi. Giờ đây sau khi các vị tỳ khưu đă trải qua một đêm tại đó và b́nh minh sắp ló rạng, họ được phục vụ với những nhu cầu thiết yếu cho cơ thể và rồi họ ra đi vào các làng mạc không xa để khất thực. Tỉnh lỵ có liên lạc với hàng ngàn gia tộc và tạo thành [29] như thể một tập thể cư dân. Và toàn bộ những cư dân trong đó [233] đều có niềm tin và tin tưởng [nơi Đức Phật]. V́ cuộc sống ở những vùng xa xôi đó khó ḷng có thể gặp được các vị xuất gia quy y Phật, thế nên họ rất hạnh phúc và vui mừng gặp được các vị tỳ khưu. Và họ đă cung cấp đồ ăn thức uống cho các vị tỳ khưu và yêu cầu họ lưu lại với họ trong suốt ba tháng mùa mưa. (bó buộc phải có nơi cư ngụ trong ba tháng mùa mưa) và họ đă cho xây năm trăm pḥng làm việc cho các vị và trang bị với đầy đủ nhu cầu thiết yếu như giường chiếu, bàn ghế b́nh đựng nước uống và rửa ráy. v.v... vào ngày hôm sau các vị tỳ khưu đi đến một tỉnh lỵ khác để khất thực và cũng tại đó dân chúng cũng hầu hạ họ giống như vậy và cũng yêu cầu họ lưu lại với họ trong suốt mùa mưa. Các vị tỳ khưu đồng ư v́ không có trở ngại nào đáng kể. Các vị lại vào rừng, trong đó họ thu xếp lấy lại sức lực cả ngày lẫn đêm bằng cách tạo ra các bản mộc chia làm các canh thức [30] và họ đă tập trung chú ư cao độ nhập thiền, rồi họ đi ra các gốc cây và ngồi thiền tại đó.

6. Các vị thần rừng rất chán nản do bởi tính gan dạ nơi các vị tỳ khưu giới đức. Và ra khỏi nhà rảo đi đây đó khắp nơi cùng với đàn con. Ngay khi có một dẫy nhà lớn của dân làng đă bị các vua chúa quan quyền trưng dụng và cư dân sống trong những căn nhà đó phải di tản đến sống ở những vùng xa xôi, [các vị Chư thiên thắc mắc mà rằng] ‘Tại sao họ lại phải di tản khỏi nhà cửa như vậy?’ Chính v́ thế mà các vị thần rừng cũng ra khỏi nhà và đi lang thang đây đó nh́n xa xa và thắc mắc, ‘Khi nào họ sẽ ra đi?”, cũng vậy các vị thần rừng cũng xuống khỏi nơi ở của họ trên cây và đi lang thang khắp nơi. Nh́n từ xa xa và tự hỏi. ‘Khi nào th́ các vị trưởng lăo ra đi?’ Tiếp theo sau đó họ nghĩ, “ Các vị tỳ khưu nhập an cư kiết hạ đầu tiên chắc chắn sẽ lưu lại đó khỏang độ ba tháng. Nhưng chúng ta sẽ không thể sống xa con cái chúng ta trong một thời gian dài ba tháng như vậy được. Chúng ta hăy cho các vị tỳ khưu nh́n thấy những vật khiến cho họ sợ hăi và ra đi sớm.’ V́ vậy vào ban đêm khi đă đến giờ các vị tỳ khưu thực hành sa môn pháp. Các vị Chư thiên liền tạo ra những h́nh thể khủng khiếp, và đứng trước mặt các vị tỳ khưu, và c̣n tạo ra một tiếng kêu khủng khiếp. Khi các vị tỳ khưu nghe thấy tiếng động và nh́n thấy các vật dị dạng như vậy, ḷng họ trở nên run sợ, [234] mặt mũi tái xanh lại và da dẻ vàng như nghệ và họ không thể tập trung tâm được nữa. Khi sợ hăi như vậy quấy rầy liên tục các vị tỳ khưu như vậy nhiều lần, các ngài không thể nhập tâm hành thiền được nữa. Họ quên hết không c̣n chánh niệm được nữa, ngay khi họ quên không thể chánh niệm được. Rồi các thần rừng lại quấy rối các ngài bằng một mùi hôi thối dễ sợ. Khiến cho tâm họ ngột ngạt trong mùi hôi thối đó, với cảm thọ bị đè nén tột độ. Tuy nhiên, họ không thể thổ lộ ra với bất kỳ ai về những ám ảnh họ đang phải chịu.

7. Rồi một ngày kia khi tất cả các vị tỳ khưu qui tụ lại cùng một lúc để chăm sóc cho vị Trưởng lăo cao hạ của tăng già, vị này liền hỏi họ: ‘Các hiền giả thân mến, khi các hiền giả vào rừng, da dẻ các vị rất trong sáng và sáng giá trong nhiều ngày và các căn các vị trong sáng, nhưng giờ đây các vị lại gầy c̣m và vàng vọt như thế sao? Có ǵ không hợp với các vị đă diễn ra trong rừng chăng? Rồi một vị tỳ khưu lên tiếng: ‘Thưa trưởng lăo, vào ban đêm tôi thấy và nghe thấy một vật đáng sợ như vầy, như vầy, và lại c̣n ngửi thấy mùi khó chịu như vầy và rồi tâm tôi không thể nào tập trung nhập định được.’ Và toàn thể các vị tỳ khưu đều nói lên cùng một kiểu những ǵ xẩy ra như vậy. Vị lăo cao hạ lên tiếng nói rằng, ‘Hỡi các hiền giả, có hai cách gia nhập vào nơi cư trú dành cho giai đoạn kiết hạ đă được Đức Phật mô tả (A. i. 51) và chỗ cư trú này không thích hợp cho chúng ta. Chính v́ thế chúng ta hăy trở về với Đức Phật và xin ngài cho chúng ta một một nơi ở khác thích hợp hơn với chúng ta.’

8. Các vị khác liền đồng ư, và chính v́ thế tất cả các vị tỳ khưu liền thu xếp gọn gàng nơi cư trú của họ và rồi lấy bát khất thực và khoác y cà sa không ai nói với ai điều ǵ - v́ họ chẳng có ǵ vấn vương với các gia tộc này cả. – họ đă lên đường du hành trên đường tới Savatthi. Và đi đến Đức Phật. Khi nh́n thấy họ. Ngài liền lên tiếng, ‘ Hỡi các vị tỳ khưu, đă có luật ta đề ra là các ngươi không thể du hành vào mùa mưa !. (Vin. i. 138). [235] Tại sao các vị không thực hành như vậy?’

9. Họ liền tâu Đức Phật toàn bộ những ǵ xẩy ra. Đức Phật liền quán xét khắp toàn cơi Diêm Phù Đề (Jambudipa), nhưng ngài không t́m đâu ra một nơi để đặt một chỗ ngồi thích hợp cho các vị tỳ khưu này. Rồi ngài nói với họ, ‘Hỡi chư vị tỳ khưu, chẳng có nơi nào khác thích hợp cho các vị cả đâu. V́ vậy hăy trở lại cư trú ngay tại nhà nghỉ trước đó rồi sẽ thích hợp cho các vị thôi. Nhưng nếu các vị muốn thoát khỏi mọi sợ hăi các Chư thiên, hăy học biết lấy điều bảo toàn này; v́ đây sẽ vừa là một điều an toàn lại cũng là một đề mục thiền định cho các vị nữa và rồi ngài ứng khẩu đọc bài Kinh này.

10. Theo như một số người khác, [cho dù, ngài nói], ‘v́ vậy hăy trở lại ngay tại nơi cư trú dành cho các vị,’ sau khi nói điều đó, Đức Phật lại thêm, một vị tỳ khưu sống trong rừng phải biết cách bảo vệ, đó là đọc bằng cách thực hiện mỗi buổi tối và mỗi buổi sáng hai [câu kệ] Từ Tâm. Hai [câu kệ] về điều an toàn, hai câu về điều bất tịnh và hai câu về niệm sự chết. Và cũng bằng cách quán xét tám căn chính về Tính Động Tâm là sanh, lăo, bệnh, tử, và đau khổ nơi bốn khổ cảnh. Hoặc giả gồm bốn điều là sanh, lăo, bệnh và tử rồi lại đến đau khổ vào những nơi khổ cảnh là điều thứ năm. Đau khổ có căn nơi ṿng luân hồi quá khứ, đau khổ có căn nơi ṿng luân hồi tương lai, và đau khổ có căn nơi t́m kiếm đồ ăn thức uống.’và [họ cho biết rằng] khi Đức Phật đă cho các vị tỳ khưu này biết qui tŕnh tự bảo vệ ḿnh. Rồi tiếp theo sau đó ngài thốt ra Kinh này v́ lợi ích đối với từ tâm, v́ lợi ích đối với sự an toàn, và v́ lợi ích đạt được thần thông qua từ tâm được sử dụng làm cơ sở cho thiền quán với ba điểm đặc trưng là vô thường, khổ và vô ngă].

11. Đó chính là cách sắp xếp nguồn gốc, cũng nhằm để minh chứng các từ ‘do ai nói ra, khi nào, ở đâu và tại sao kinh này nên được hiểu theo từng chi tiết. Và đến điểm này điều được đưa ra trong lộ tŕnh cụ thể như sau.

‘Ta sẽ bắt đầu làm sáng tỏ
nguồn gốc Kinh cũng được minh chứng rơ ràng,
do ai nói ra, khi nào, ở đâu và tại sao’.

[236] đă được đưa ra chi tiết dưới mọi góc độ. Và giờ đây, v́ điều này cũng được nói ra:

‘Và rồi một bài chú giải ta sẽ nói ra’

Đến đây bắt đầu bài chú giải về ư nghĩa Kinh này và nguồn gốc cũng vừa mới được làm rơ theo cách thức này. Ở đây, trước tiên ta thực hiện giải thích về từ của đoạn kệ đầu tiên như sau:

[Đoạn kệ 1]

Karanīyam atthakusalena [yan tam santam padam abhisamecca. Sakko uju ca sūjū ca suvaco c’assa mudu antimānī]

Vị thiện xảo mục đích
Cần phải làm như sau:
Sau khi hiểu thông suốt
Con đường an tịnh ấy
Có khả năng trực tánh
Thật sự khéo chân trực
Dễ nói và nhu hoà
Không có ǵ cao main

[Đoạn kệ 1: chú giải từ]

12. Nên thực hiện: karanīyam=kātabbam (danh động tự thể bắt buộc); đáng phải làm (karanāraham). Điều lợi ích (attha) là chánh đạo; hay ngược lại. chẳng có điều ǵ cả có thể làm lợi ích cho chính chúng ta (attano hitam.) v́ điều phải được kính lễ (araniyā) [31] chính là ‘điều lợi ích’ (attha) – và 'v́ điều nên được kính lễ’ có nghĩa là v́ điều đó nên được tiến lại gần. Thông qua người nào đó có tài khéo trong điều lợi ích: atthakusalena=atthe kusalena (thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép); thông qua người nào đó có tài khéo làm điều lợi ích là ư nghĩa muốn ám chỉ ở đây. Điều ǵ (yam): hoặc (1) đây là một chủ cách bất định [đại tự phù hợp với karanīyam], điều này (tam) lại là đối cách hạn định [là đại tự phù hợp với santam padam (trong trường hợp này ‘điều mà’) cả hai đều là chủ cách (phù hợp với karanīyam) và chỉ các từ Santam padam (‘hiện trạng an b́nh’) [32]là thuộc đối cách – và ở đây, từ cuối cùng này là một biểu thị cho tịch diệt. V́ đó là ‘an b́nh’ (santam) nhờ vào đặc tính riêng của từ và nó lại là một ‘hiện trạng’ (pandam) thông qua đặc tính có thể đạt đến được (pattabbatā).Phải được đạt đến (abhisamecca): sau khi đă tới gần được (abhisamāgantvā).

13. Ngài có thể (sakkoti), như vậy, ngài có [33] khả năng (sakko); ư nghĩa ở đây là ngài có khả năng, có sức mạnh. Đúng đắn (uju): đi song cặp với tính ngay thẳng (ajjava). Ông ấy hoàn toàn đúng đắn (sutthu uju), như vậy là ông ấy chính trực, liêm khiết (sūjū). Ăn nói với người đó th́ dễ dàng (sukha) trong trường hợp của ngài, như vậy ngài là một người nhu ḿ (suvaco – ng.đen, ‘có thể nói với một cách dễ dàng’) ngài rất có thể là: assa=bhaveyya (một dạng ngữ pháp khác). Dịu dàng (mudu- ng.đen ‘dễ bảo’) được khoác vào tính dịu dàng (maddava). Không kiêu căng: anatimānī= na atimānī (thể phủ định khác.)

[Nửa đoạn kệ đầu tiên: chú giải về ư nghĩa]

14. Giờ th́ ở đây là một bài chú giải về ư nghĩa hai câu:

Sau khi hiểu thông suốt
Con đường an tịnh ấy

15. Ở đây có điều nên được làm và có điều không nên làm. Ở đây nói một cách ngắn gọn điều nên làm chính là tam học [34] và điều không nên làm bao gồm thất bại không có được giới đức, thất bại thuộc phạm vi tà kiến, thất bại nơi hạnh kiểm của ḿnh., thất bại nơi sinh mệnh. v.v...

16. Cũng như vậy có người có tài khéo làm điều lợi ích, và có người th́ ngược lại. Ở đây một người không có tài thực hiện điều lợi ích là người đă quy y Phật mà không tận t́nh một cách chính đáng, giới hạnh của người đó bị đứt (xin đọc A. iii. 54) người đó sống mà phụ thuộc tới hai mươi mốt [35] loại tầm cầu không thích hợp. – cụ thể là, [với tư cách là một vị tỳ khưu] vị này tỏ ra phụ thuộc vào buôn bán tre pheo, bố thí lá, bố thí hoa quả, bố thí cả tăm xỉa răng, bố thí cả nước rửa mặt. Bố thí các tiện nghi tắm rửa, bố thí đồ tắm, bố thí đất sét, tâng bốc, cháo đậu, mơn trớn, mang thông tin đi bộ, làm nghề thuốc, làm nghề thông tin đi công việc vặt.[237] lấy của bố thí đổi lấy của bố thí khác, bói đất, bói vườn, bói chiêm tinh, bói bàn tay. – lui tới sáu điểm không đúng đắn, cụ thể là ‘động gái điếm, tới nhà bà goá, tới nhà có con gái lỡ thời, tới nhà hoạn quan, tới chỗ ở các tỳ khưu ni. Hay tới quán rượu; sống trà trộn với các vị vua, các quan chức của nhà vua, các thành viên giáo phái khác, hay đệ tử của các thành viên giáo phái khác. Bằng cách giao tiếp một cách không thích hợp với pháp, là những người tu luyện, lui tới và kính lễ các gia tộc ngoại đạo. Thiếu niềm tin, nghiện ngập, vu khống và không ước muốn điều thiện, và ước muốn làm hại, gây bất hoà, và điều không được an toàn khỏi ràng buộc là những nơi các tỳ khưu,[và các tỳ khưu ni và người cận sự nam, cũng như cận sự nữ thường quan tâm. (Vbh. 246)

17. Nhưng kẻ nào có tài khéo làm điều lợi ích là những người quy y Phật tự hiến thân ḿnh một cách chính đáng, và từ bỏ những t́m kiếm nghiên cứu không thích hợp và ước muốn tự thiết lập nơi tứ thanh tịnh giới (xin đọc Thanh Tịnh Đạo. Ch. i. §42/tr. 15) chu toàn thu thúc theo giới luật bản dưới tiêu đề niềm tin. Căn quyền thu thúc dưới tiêu đề chánh niệm. Nuôi mạng thanh tịnh dưới tiêu đề tinh tiến, và thọ dụng đúng đắn những điều kiện cần thiết đối với cuộc sống tỳ khưu dưới tiêu đề trí tuệ [36].

18. Và người này cũng c̣n có tài khéo làm điều thiện khi thanh tịnh (thanh lọc) thu thúc thông qua Giới bản Luật bằng cách thanh tịnh bảy loại vi phạm (xin đọc Ch. v. § 129), [thanh tịnh] thanh lọc căn quyền thu thúc thông qua không cho Tham ác và [Sân] nổi lên khi đối tượng tạo ảnh hưởng đến lục môn [nơi năm căn bắt đầu với con mắt, và ư], thanh tịnh hay thanh lọc nuôi mạng bằng cách tránh xa việc t́m kiếm (khám phá) không thích hợp và bằng cách tận dụng những ǵ bậc hiền trí giao phó cho và những ǵ các vị Như Lai và các môn đồ của họ khen ngợi. [thanh tịnh hay thanh lọc] cách tận dụng bốn nhu cầu cần thiết hàng ngày bằng cách rà soát lại những ǵ đă đề cập [37] đến ở trên, và [thanh tịnh hay thanh lọc] tỉnh giác toàn phần (xin đọc M. i. 57) bằng cách quán xét lại [tỉnh giác này] trong trường hợp có oai nghi vị trí hay mục tiêu, [tính cách thích hợp, hành xứ và vô si (xin đọc MA. i. 253-70)].

19. Và người này cũng được kể như có tài khéo làm điều lợi ích khi biết rằng ‘giới hạnh được tẩy sạch bằng trí giống hệt như quần áo dơ được giặt sạch với nước sạch và gương soi mặt được lau sạch bằng tro và vàng bằng lửa và người này thanh tịnh giới hạnh của ḿnh bằng cách giặt sạch trong nước trí và đó là khi người này hộ tŕ giới uẩn [38] của ḿnh hết sức cẩn thận, giống hệt như con gà mái canh giữ ổ trứng của ḿnh vậy, và giống như con ḅ Tây Tạng giữ cẩn thận chiếc đuôi của nó như thế nào. Và giống như người phụ nữ có một đứa con duy nhất th́ giữ ǵn con yêu quí của ḿnh cẩn thận đến chừng nào. Và giống như một người độc nhăn th́ giữ ǵn con mắt duy nhất c̣n lại cẩn thận ra sao. (xin đọc Thanh Tịnh Đạo. Ch. i §98/tr.36), [238] và người đó quán xét lại sáng ngày tối đêm cho đến khi nhận ra được những sai xót (chê bai) nhỏ nhất.

20. Và người này cũng được coi là có tài khéo làm điều thiện một khi đă trở nên vững vàng nơi giới hạnh không tạo ra chê bai ǵ, khi người này cố gắng bằng cách đè nén [39] điều làm Phiền năo (defilement) và chỉ theo đuổi những ǵ thực hiện được công việc đầu tiên thuộc thiền Biến xứ đề mục (kasina: xin đọc Thanh Tịnh Đạo.Ch. iv-v), và khi thực thi công việc đầu tiên nhập thiền biến xứ đó, người đó sẽ chứng đắc được thiền Jhana.

21. Nhưng Tột đỉnh của tài khéo làm điều lợi ích là, sau khi đă xuất khởi từ thiền chứng đó, người này quán được những pháp hành (Thanh Tịnh Đạo Ch. xviii-xxi) cho đến khi cuối cùng đạt đến được bậc A-la-hán.

22. Ở đây những kẻ nào ‘có tài khéo làm điều lợi ích’, được khen ngợi hoặc là do họ đă trở thành vững vàng nơi giới hạnh tốt không tạo ra chê bai ǵ cả, hay là chính họ đă hết mực cố gắng bằng cách đè nén làm điều Phiền năo’ hoặc giả họ đă đạt đến được thánh đạo và thánh quả, [40] tất cả những hạng người này được kể như là những người có tài khéo làm điều lợi ích hiểu theo nghĩa này. Và những vị tỳ khưu này được liệt kê vào hạng những loại người này.

23. Chính v́ thế (1) Đức Phật đă nói Những ǵ người khôn khéo thực hiện điều lợi ích nên làm (karanīyam atthakusalena) liên quan đến những vị tỳ khưu đó, nhưng ngài lại đưa ra giáo lư bằng những lời ám chỉ đến một con người cụ thể duy nhất mà thôi. Tiếp theo sau đó, khi họ suy tính, ‘Điều ǵ cần phải thực hiện?’ Ngài đă nói với họ đó chính là hiện trạng an tịnh phải đạt đến là như thế này (yan tam santam padam abhisamecca). Đến lúc này ư định được coi như sau. [đây là] điều cần được thực hiện (karanīyam) do người nào ước muốn, sau khi đă tính toán cặn kẽ điều phải đạt đến bằng cách thâm nhập, để có thể trú ngụ nơi hiện trạng an b́nh tịch diệt này (santam nibbāna-padam), là điều đă được các vị Như Lai và các [đệ tử] [41] của ngài khen ngợi. Và ở đây ‘điều mà’(yam) chỉ hàm chứa việc thực hành [42] ngay ở ḍng đầu tiên của đoạn kệ này ngài đă nói rơ, ‘nên được thực hiện’ (karanīyam); nhưng rồi sau đó đoạn “phải được đạt đến hiện trạng an b́nh là như sau’ (tam santam padam abhisamecca) phải được hiểu như là một người mà ư nghĩa yêu cầu hoàn tất, chính v́ thế ngài ‘do một người ước ao ... cư trú nơi, mới được nói tới ở trên. (đoạn này.) [43]

24. (2) Nói cách khác, ư định của ngài có thể được hiểu như sau: khi thông qua tin đồn, v.v... liên quan đến hiệu quả này, cụ thể là, ‘phải đạt đến được (abhisamecca) hiện trạng an b́nh’, người đó hiểu ra với trí tuệ hiệp thế rằng hiện trạng tịch diệt (nibbāna-padam)phải là (hiện trạng)an b́nh (santam). Và khi người đó muốn đến được điều đó, th́ ‘điều (mà) yan tam.) được coi như thích hợp với việc tu luyện nên được người đó nên thực hiện (karanīyam) là điều thế này (tam); đó là điều người có tài khéo thực hiện điều lợi ích (atthakusalena).

25. (3) Hoặc giả, có người nói rằng, có một số điều ‘ người tài khéo thực hiện điều lợi ích nên làm’ (karanīyam atthakusalena), và vị [tỳ khưu] muốn biết là ‘điều ǵ vậy?’ và rồi sau đó Đức Phật nói cho họ biết đó là ‘hiện trạng an b́nh’ phải đạt đến được là điều này vậy (yam tam santam abhisamecca) ư định này cũng có thể được hiểu như sau. Sau khi [đă xoay sở] để đạt đến được (abhisamecca) hiện trạng an b́nh (santam padam) thông qua trí tuệ hiệp thế, điều (yam) cần phải thực hiện (karaniyam) [] điều này (tam)- điều ǵ phải làm (kātabbam) chính là điều nên được thực hiện (karaniyam) vậy; Chỉ có [44] điều ǵ đáng thực hiện (kāranāraham) là điều ám chỉ ở đây. -. Nhưng điều đó là ǵ vậy? [239] có điều ǵ khác nên làm ngoài [việc thực hiện điều đó] được coi như là những phương tiện [đạt đến được hiện trạng đó]? Đương nhiên, điều này đă được diễn tả bằng câu mở đầu cộng với việc ám chỉ đến tam học hiểu theo nghĩa những điều đáng thực hiện; v́ chúng ta đă đề cập quá nhiều đến trong bài chú giải về ư nghĩa, cụ thể là, “Có những điều nên được thực hiện và cũng có những điều không được thực hiện” Ở đây, ngắn gọn là điều nên được thực hiện chính là tam học (§, 15)’ [45]

26. Giờ đây có một số tỳ khưu am hiểu điều này, một số khác lại không hiểu ǵ cả, v́ lời giảng dạy này cực kỳ ngắn gọn. Kết quả là, để làm cho những vị nào không hiểu có thể hiểu được ngài đă thốt lên đoạn kệ thứ hai như sau:

Có khả năng trực tánh
Thật sự khéo chân trực
Dễ nói và nhu hoà
Không có ǵ cao mạn

Đoạn kệ trên đă đưa ra chi tiết điều ǵ một vị tỳ khưu ẩn sĩ trong rừng phải thực hiện một cách đặc biệt.

[Phần cuối của đoạn kệ 1: b́nh giải về ư nghĩa.]

27. Điều này mang ư nghĩa ǵ vậy? Một vị tỳ khưu ẩn sĩ trong rừng. Muốn được cư trú nơi hiện trạng an b́nh. Sau khi đă xoay xở để đạt đến được hiện trạng đó, hay bất kỳ người nào, sau khi đă xoay sở để đạt đến hiện trạng này chỉ nhờ vào trí tuệ hiệp thế thế tục, lại đang tu luyện phương cách để cuối cùng đạt đến được hiện trạng đó [46] sẽ phải có khả năng (sakko assa) với việc đắc thủ được chi thứ hai và thứ tư của tinh cần chi [47] để có thể thâm nhập được pháp không có liên quan ǵ đến thân và sinh mệnh. Cũng giống như vậy, người đó nên có khả năng, có nghĩa là, có tài khéo, không chây lười, có khả năng, nơi công việc ban đầu để nắm được một đề mục biến xứ (kasina: xin đọc Thanh Tịnh Đạo. Ch. iv.) trong việc thực hiện các bổn phận. v.v... và [48] trong việc sửa sang lại bát khất thực, y cà sa, v.v... và trong những điều này, điều nọ, điều to, điều nhỏ cần phải được thực hiện để thân thiện với cuộc sống phạm hạnh.

28. Có [49] khả năng, người đó cũng có thể là chính trực (uju) với việc sở hữu chi thứ ba của tinh cần chi [50]. Là người chính trực, thay v́ hài ḷng với việc đă một lần được coi là chính trực. Người đó c̣n chính trực hơn nữa (sutthutaram uju),[có nghĩa là, ngay thẳng(sūjū) bằng cách liên tục cổ vơ cho tính tích cực bao lâu người đó c̣n sống trên đời này. Nói cách khác, người đó chính trực bằng cách không lừa lọc, và ngay thẳng bằng cách không dối trá. Hoặc giả người đó chính trực bằng cách từ bỏ tính không chân thật trong thân, khẩu và ngay thẳng bằng cách từ bỏ tính không chân thật trong ư. Hoặc giả người đó chính trực bằng cách không công bố bất kỳ phẩm chất đặc biệt về thiền và đạo nào] không thực sự hiện hữu nơi [chính bản thân người đó]. (xin đọc Vin. Pārājika 4) và tỏ ra ngay thẳng bằng cách không kéo dài bất kỳ lợi lộc nào nổi lên do những phẩm chất đặc biệt không có thực này đem lại. Như vậy người đó tỏ ra chính trực và ngay thẳng với ḷng trong trắng nơi mục đích và phương tiện. [51] Bao gồm trong nhập thiền về các đối tượng [nhập định thanh tịnh] và về tam tướng phổ thông [về vô thường, v.v...] được bảo đảm bằng cặp đầu tiên của tam học, [cụ thể là, tăng thượng giới, và tăng thượng tâm,] thông qua cặp thứ ba, [cụ thể là, tăng thượng tuệ] [52]

29. Và người này không những chỉ có chính trực và ngay thẳng không đâu, nhưng cũng c̣n tỏ ra nhu ḿ (suvaco) [53] nữa; v́ một người khi nói rằng ‘không được thực hiện điều này’ lại nói ‘bạn đang nh́n thấy điều ǵ vậy? Bạn nghe thấy điều ǵ đó? Bạn là ai mà lại nói với tôi; bạn có phải là một thầy giáo, đạo sư, là bạn hữu, hay người thân?’ hoặc giả giữ im lặng để phá rối hay chấp nhận [lời khuyên] nhưng lại không thực hiện, hạng người này th́ c̣n lâu mới đạt đến bất kỳ đặc tính ưu việt nào.; nhưng người nào, khi được khuyên nhủ, nói, ‘tốt, thưa đại sư, ngài nói quá đúng”. Điều đáng chê trách [240] thật khó mà nhận ra được nơi chính bản thân ta, nếu như ngài c̣n nhận thấy điều đó nơi tôi, xin ngài cứ v́ ḷng từ tâm mà nói ra cho tôi biết. Cầu mong tôi luôn được nhận những lời khuyên răn từ nơi ngài. Và người đó thực hiện theo những ǵ được khuyên nhủ. Th́ không c̣n xa mới đạt đến những điều tuyệt diệu. Chính v́ thế người này có thể rất khiêm tốn, nhu ḿ,(có thể nói được dễ dàng) bằng cách chấp nhận lời khuyên của người khác và làm như vậy.

30.Và người này c̣n tỏ ra hiền lành, hoà nhă (mudu: nghĩa.đen ‘dễ bảo’) giống như đă tỏ ra khiêm tốn, nhu ḿ. Nhưng đang khi kiên định không tu luyện tính dễ bảo với người đời khi bị họ ép đi với những lời nhắn, hoặc đi công việc vặt, v.v... ngài vẫn có thể tỏ ra dễ bảo (nhu ḿ) trong việc thực hiện những nhiệm vụ [54] trong suốt cuộc sống phạm hạnh như thể vàng được tinh luyện lại được dùng vào lúc này lúc khác.(xin đọc td. M. ii. 18). Hay nói cách khác, từ nhu ḿ [có nghĩa là] người đó không tỏ ra nhăn nhó (xin đọc Thanh Tịnh Đạo.Ch. i. §61/tr. 23), vẻ mặt tươi tắn, dễ dàng tiếp chuyện và được hoan nghênh giống như một khúc sông có thể lội qua một cách dễ dàng.

31. Và ngài không những chỉ tỏ ra nhu ḿ, nhưng cũng không tỏ ra kiêu căng (anatimānī) nữa; người không tỏ ra kiêu căng với người khác với lư do có thể tỏ kiêu hănh v́ gia đ́nh, ḍng tộc, v.v... như có thể cư trú giống như vị Trưởng Lăo Sariputta tỏ ra điềm đạm với hết cả mọi người cho dù là với những kẻ bị khai trừ hay vua quan trong triều (A. iv. 376)

[Đoạn kệ 2]

32. Như vậy Đức Phật đă tŕnh bày một phần về điều phải được thực hiện nhất là do các vị tỳ khưu ẩn sĩ sống trong rừng, sau khi đă xoay sở để đạt đến hiện trạng an b́nh lại muốn cư trú trong đó, hay vị nào đang tu luyện để đạt đến hiện trạng đó. Rồi ngài c̣n ước ao tŕnh bày nhiều hơn thế, ngài liền thốt ra một đoạn kệ sau đây:

Santussako ca subharo ca appakicco ca sallahukavutti
Santindriyo ca nipako ca apagabbho kulesu ananugiddho

Sống cảm thấy vừa đủ
Nuôi sống thật dễ dàng
Ít có sự rộn ràng
Sống đạm bạc, giản dị
Các căn được tịnh lạc
Khôn ngoan và thận trọng
Không xôn xáo gia đ́nh
Không tham ái, tham vọng

33. Ở đây, ngài tỏ ra tri túc (santussanti) với mười hai trạng thái bằng ḷng nằm trong nhóm đă được khẳng định dưới tiêu đề ‘ với thái độ tri túc và biết ơn sâu xa’ (Ch. v. §§ 161 tt.) Như vậy ngài tỏ vẻ tri túc (santussako). Hay nói khác đi, ngài t́m lại được bằng ḷng (tussati), chính v́ thế ngài là người bằng ḷng (tussati) với tất cả những ǵ ḿnh có (sakena tussaka), ngài là một người bằng ḷng với điều đang diễn ra (santena tussaka). chính v́ thế ngài là người tri túc đồng đều [với tất cả] (samena tussaka). Như vậy ngài tri túc (santussaka). Ơ đây, điều ta gọi là ‘những ǵ ngài có’ là điều được biểu thị trong nghi thức thọ cụ túc giới như thể ‘phụ thuộc hoàn toàn đồ ăn do khất thực mà có’ (Vin. i. 58, 93) và đó là bất kỳ điều ǵ liệt kê trong bốn điều kiện cần thiết [dành cho cuộc sống của một vị tỳ khưu] mà chính ngài đă chấp nhận. Ngài được gọi là ‘người hoàn toàn tri túc với chính những ǵ ḿnh có’ khi, không tỏ ra bất kỳ thái độ muốn thay đổi ngay khi nhận hay vào lúc sử dụng những của bố thí đó, mà chỉ sử dụng điều đó cho dù tốt hay xấu. Cho dù điều đó được bố thí một cách kính cẩn hay bất cẩn. Những ǵ ta gọi là ‘điều có sẵn cho ngài’ chính là điều cụ thể và chính ngài đă nhận được.[241] ngài được gọi là ‘một người bằng ḷng với điều có sẵn [dành cho ḿnh]’ khi ngài tỏ ra măn nguyện với chỉ những ǵ có được mà thôi, và không ước muốn có nhiều hơn điều đó và như vậy ngài từ bỏ những ước muốn thái quá. [55] Cái gọi là ‘ đồng đều với tất cả mọi sự’ đó chính là từ bỏ chấp nhận hay phản kháng lại liên quan đến những ǵ ước muốn và không ước muốn. Ngài được gọi là ‘một người tri túc ngang bằng nhau với tất cả những ǵ có được’ khi ngài tỏ ra tri túc với loại b́nh đẳng đó liên quan đến tất cả mọi đối tượng.

34. Ngài dễ dàng được nuôi mạng (sukhena bharīyati), như thế nên ngài dễ dàng được mọi người nuôi mạng (subharo); ngài dễ dàng được mọi người nâng đỡ chính là ư nghĩa ở đây. V́ một tỳ khưu rất khó được hỗ trợ nếu như, khi nhận đượcbát đầy thức ăn, cơm, thịt đặc biệt, ngài lại tỏ ra bộ mặt buồn thảm ủ rũ hay tỏ vẻ nghi ngờ, nói trước sự hiện diện của thí chủ mà rằng, ‘ Ôi nhà ngươi cho ta thứ ǵ đó?’ và lại cho những thứ đó cho các sa di hay người đời sử dụng. Khi người ta nh́n thấy cảnh đó, họ sẽ tránh xa, nghĩ rằng ‘Một vị tỳ khưu khó khăn để nuôi mạng th́ chẳng bao giờ được nâng đỡ nữa’. Nhưng ngài dễ dàng được nâng đỡ khi ngài sử dụng những ǵ nhận được với vẻ mặt vui tươi và tin cẩn, bất luận những ǵ nhận được có tồi tệ hay hảo hạng. Ít hay nhiều. Khi người ta nhận ra được điều đó, th́ họ sẽ có phần tin tưởng, và khẳng định rằng vị tỳ khưu của chúng ta thật dễ dàng được nuôi mạng, ngài tỏ ra tri túc ngay cả với những ǵ tối thiểu nhất, chính chúng ta sẽ hỗ trợ cho ngài.’ Và chính họ đă nâng đỡ ngài. Chính là hạng người như vậy mà chúng ta có ư đưa ra đây như là một người ‘dễ nuôi’.

35. Trạng thái bận bịu của ngài th́ ít thôi (appam kiccam assa), chính v́ vậy ngài không bận bịu ǵ cả (appakicco). Ngài chẳng bận rộn với đủ thứ công việc khiến ngài bận rộn tối ngày như ham làm việc, thích tṛ chuyện, thích đàn đúm, v.v...hay nói cách khác, trong toàn bộ tu viện, ngài là người thoát khỏi những bận rộn liên quan đến công việc xây cất, tài sản của tập thể, công việc giảng dạy [56] cho các sa di. Và việc chăm lo cho tập thể, v.v...và thay vào đó ngài chỉ bận tâm [57] đến những việc liên quan đến sa môn pháp sau khi đă xuống tóc quy Phật, cắt móng tay, móng chân và sửa soạn cho chính ḿnh bát khất thực và y cà sa. [58]

36. Cách sống của các ngài rất nhẹ nhàng (thanh đạm) chính v́ thế ngài được cho là có cuộc sống rất thanh đạm (sallahukavutti); ngài không giống như các vị tỳ khưu khác có quá nhiều đồ đạc. Những vị này, khi đến thời điểm phải di chuyển, đă phải có rất nhiều người giúp đeo đội đồ đạc, v.v...nào là bát khất thực, y cà sa, thảm thiền, dầu mỡ, đường, v.v...;nhưng khi ngài di chuyển th́ chỉ có chút ít đồ cần thiết. Ngài chỉ mang theo tám đồ thiết yếu cho các nhà sư, cụ thể là, bát khất thực (ba) chiếc y cà sa, [dao cạo râu, kim chỉ, day lưng, và đồ lọc nước) và chỉ mang theo những thứ đó mà thôi, [242] ngài ra đi giống như con chim chỉ với cánh bay mà thôi (D. i. 71) chính hạng người như vậy mà Đức Phật muốn đề cập đến ở đây bằng từ ‘nhẹ nhàng, thanh đạm).

37. Nhà sư có các căn thanh tịnh (santāni indriyāni assa), như vậy ngài rất thanh thản các căn của ḿnh (santindriyo); các căn [59] của ngài không bị dao động do tham dục trước những đối tượng đáng ước ao. [hay sân hận về những đối tượng không đáng ưa thích đó] là điều được ám chỉ ở đây.

38. Thận trọng (nipako): có kiến thức, thông minh, có trí tuệ; ư định ở đây là muốn đề cập đến ngài có được trí tuệ về cách thức pḥng hộ giới, biết cách xử lư y cà sa và những điều khác. Và lại có kiến thức về bảy loại thích hợp, cụ thể là, những ǵ liên quan đến nơi cư trú, [nơi thường lui tới khất thực, ngôn ngữ, con người, thực phẩm, khí hậu, và oai nghi (xin đọc Thanh Tịnh Đạo.Ch. iv, §§ 35 tt/tr. 127)]

39. Ngài không tỏ ra hỗn xược (na pagabbha), như vậy ngài là người khiêm tốn(apagabbho); ư nghĩa ở đây là ngài không tỏ ra hỗn xược về thân nơi tám cách thể hiện: hỗn xược về khẩu nơi bốn ví dụ điển h́nh và hỗn xược về ư nơi rất nhiều trường hợp cụ thể khác (xin đọc Nd1. 228).

40. Điều gọi là ‘hỗn xược về thân gồm tám điều cụ thể’chính là hành động không thích hợp thông qua thân trước tập thể tăng già, trước một hội nghị, trước một nhân vật nào đó, nơi nhà ăn, nơi buồng tắm, nước nóng, nơi chỗ tắm tập thể, trên đường đi khất thực, và trước lúc bước vào nhà một người nào đó. Ư muốn nói ở đây: ‘ ở đây một người nào đó hiện diện trước tập thể tăng già lại ngồi thơ thẩn [tay bó gối] hay chân xếp bằng; v.v...cũng giống vậy trước hội nghị; và giữa chốn đô hội [kể cả hội nghị gồm bốn hội chúng [các vị tỳ khưu, các tỳ khưu ni, cận sự nam và cận sự nữ] cũng giống như vậy trước sự hiện diện của các vị Trưởng Lăo. Lại nữa, trong nhà ăn không nhường chỗ cho các vị cao hạ, ngăn cản không cho tân thọ tỳ khưu (tỳ khưu mới gia nhập – là những người mới tham gia tập thể tăng già dưới năm hạ-) có được chỗ ngồi.(xin đọc Vin. ii. 162tt. 274). Cũng giống vậy khi phải hiện diện nơi pḥng tắm nước nóng (xin đọc Vin. i. 47, ii. 220). Và ngay tại nơi mọi người tắm. Không gây buồn bực về điều ngài đă nói. Cụ thể là ‘không tuân thủ trật tự ưu tiên ‘cao hạ trước nhỏ hạ sau’ việc tắm phải tuân theo thứ tự ai đến trước dùng trước, đến sau tắm sau. ngài đến sau [những người khác] và lại xuống nước và xô đẩy những vị cao hạ và các tân thọ tỳ khưu mà không chờ đến lượt ḿnh]. Và trên đường đi khất thực ngài lại đi trước các vị cao hạ, đụng chạm đồ khất thực của ngài với đồ khất thực của người khác, để chiếm lấy chỗ ngồi vị vọng nhất, được cung cấp nước tốt nhất, đồ ăn tốt nhất. Và vào lúc gia nhập nhà của thí chủ, vị này lại vào trước các vị cao hạ và rồi đùa giỡn với những đứa trẻ trong nhà, v.v...

41. Điều được gọi là ‘hỗn xược trong khẩu lại gồm trong bốn ví dụ cụ thể như sau’ là những lời nói thiếu xây dựng được thốt ra trước tập thể tăng già. Trước hội nghị, và trước những nhân vật vị vọng. Và nơi các nhà thí chủ. Có nghĩa là: ‘Ở đây có người nào đó không được yêu cầu mà lại thuyết pháp trước tập thể Tăng Già’ . Và cũng giống như thế trước một hội nghị và trước một vị niên trưởng như đă được khẳng định ở trên. [243] và khi có người đặt ra câu hỏi cho ngài tại đó, ngài đă trả lời mà không hỏi ư kiến của vị niên trưởng xem [trong trường hợp ngài có ư định trả lời] và nơi các nhà thí chủ ngài lại nói như sau, ‘này, (ông nọ bà kia) có ǵ đặc biệt trong nhà quí vị chăng?’ trong nhà có cháo gạo hay bất kỳ điều ǵ để ăn chăng? Các vị sẽ bố thí cho tôi điều ǵ thế? Chúng ta sẽ được ăn thứ ǵ ngày hôm nay? Chúng ta sẽ uống thứ nước uống nào vậy?

42. Điều được gọi là ‘hỗn xược trong ư nơi nhiều trường hợp cụ thể là suy nghĩ thiếu xây dựng, cụ thể là, những ư tầm, [sân tầm. và hại tầm. v.v...] trong những trường hợp này trường hợp nọ. Chỉ thực hiện những điều đó với tâm và không có sai phạm ǵ trong thân và khẩu.

43. Không xu nịnh về nguồn gốc gia đ́nh (kulesu ananugiddho): bất kỳ các gia đ́nh thí chủ (gia tộc) tiếp cận ngài đều không tỏ ra xu nịnh họ (ng. đen tỏ ra có cảm t́nh với) hoặc do thèm muốn những thứ cần thiết hay do có tương quan mật thiết với những cận sự nam mà không hợp với yêu cầu của pháp; ư nghĩa ở đây là người đó không phải là người tỏ ra sầu năo với họ và nói thêm nếm với họ. Người này cảm thấy hài ḷng khi họ vui vẻ, và đau khổ khi họ gặp khổ đau. Và người này lại tiến hành tham gia vào bất kỳ công việc hay công tác nào nẩy sinh.

44. Và trong đoạn kệ này, các từ ‘ngài nên được’ (c’assa), đă được khẳng định trong đoạn kệ trước như thể là ‘ngài nên tỏ ra...nhu ḿ’ (suvaco c’assa), phải được giải thích với các từ theo cách thức này: ‘ ngài nên tỏ ra tri túc, tỏ ra nuôi được. . .’

[Những câu đầu đoạn kệ 3]

45. Khi Đức Phật đă công bố những ǵ một vị ẩn sĩ trong rừng cần phải thực hiện một cách đặc biệt với ước ao sau khi đă xoay sở để có thể đạt đến hiện trạng an b́nh, và cư trú nơi hiện trạng đó hay giả ngài đang tu luyện cách thức đạt đến hiện trạng đó. giờ đây ngài đưa ra một đoạn kệ như sau.

Na ca khuddam samācare kiñci,
 yena viññū pare upavadeyyum

Các hành sở của ḿnh
Không nhỏ nhen, vụn vặt
Khiến người khác có trí
Có thể sanh chỉ trích

Do ước muốn công bố điều chẳng nên thực hiện như sau:

46. Ư nghĩa ở đây như sau: có một số điều nhỏ mọn (khudda) nơi thân tà hạnh, khẩu tà hạnh và ư tà hạnh đă được gọi là ‘xấu’, và khi tỳ khưu này thực hiện điều nên làm th́ ngài có thể không làm những điều nhỏ mọn (na ca khuddam samācare) trong đó, và không thực hiện điều đó, không những chỉ là điều tầm phào người đó không thực hiện nhưng c̣n bất kỳ điều ǵ khác nữa (kiñci); ư muốn nói ở đây là người đó không thực hiện ngay cả điều nhỏ nhất, tầm cỡ như một nguyên tử. Và tiếp theo đó ngài cho thấy đuợc mối nguy hiểm ở đây ngay trong cuộc sống này đối với ngài trong việc làm những điều đó [bằng cách nói] đó là những người khôn ngoan khác có thể phàn nàn. (yena vinñū pare upavadeyyum); và ở đây những người khác không mấy khôn ngoan lại không đủ tiêu chuẩn v́ họ thực hiện hoặc là điều không đáng phàn nàn, hay điều đáng chê trách hay điều đáng chê trách ít hay nhiều. Nhưng chỉ có những người khôn ngoan mới có đủ tiêu chuẩn v́ sau khi đă t́m hiểu và khám phá người đó nói ra lời chê trách về điều đáng chê trách [244] và khen ngợi những ǵ đáng được khen ngợi chính v́ thế mà người ta nói ra rằng‘những người khôn ngoan khác.’

[Phần thứ hai đoạn kệ 3]

47. Giờ đây Đức Phật khẳng định với hai đoạn kệ rưỡi về cách tiếp cận với đề mục Thiền định như sau. Và cách tiếp cận đó được chia thành điều phải làm và điều không nên làm, đặc biệt đối với tỳ khưu ẩn sĩ trụ tŕ trong rừng, lại ước ao sau khi đă xoay sở để đạt đến hiện trạng an b́nh. Để trú ngụ trong đó hay người đang tu luyện chánh đạo để đạt đến hiện trạng đó. - dưới tiêu đề một vị ‘ẩn sĩ khổ hạnh’ lại gộp tất cả những ai muốn đến để cư trú trong đó. Thông qua lấy đó như là một đề mục thiền định (đề tài thiền) – và như vậy, sau khi đă thực hiện điều này, giờ đây ngài bắt đầu đưa ra cách giải thích về từ tâm, bắt đầu với các từ: