|
Bản Pāli ngữ:
Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
[04] CHƯƠNG VIII
KINH
BẢO TÀNG
1. Giờ đây ta bàn đến Kinh Bảo Tàng tiếp ngay sau Kinh Bên Ngoài Bức Tường, kinh được bắt đầu như sau ‘Có một người kia cất dấu một kho báu.’
V́ thế trước tiên ta sẽ khẳng định lư do 2. Về điểm này, lư do Kinh Bảo Tàng được xếp liền ngay sau Kinh Bên Ngoài Bức Tường ở đây nên được hiểu như sau: Cho dù đây không phải là tŕnh tự Kinh Bảo Tàng xuất hiện ở đây nhưng Kinh này lại do đức Phật công bố, ngay sau khi ngài đă công bố tiếp theo sau Kinh Bên Ngoài Bức Tường. Kinh được xếp ngay tại vị trí này nhằm bổ xung thêm cho Kinh Bên Ngoài Bức Tường. Được ngài công bố nhằm đem lại phước lành cho chúng sanh. Hoặc giả ta cũng có hiểu Kinh được đặt ở đây nhằm cho thấy ư nghĩa thành công tuyệt vời nơi những ai đă thực hiện được việc phước đức sau khi đă chứng tỏ cho thấy ư nghĩa những trú ngụ bên ngoài bức tường do thất bại không lập được những việc công đức. Đây chính là lư do tại sao ngài đă đặt Kinh Bảo Tàng ngay sau Kinh Bên Ngoài Bức Tường. 3. Nhu cầu công bố Kinh Bảo Tàng nổi lên như sau. [1] H́nh như có một người điền chủ rất giầu có cư trú tại Sāvatthi và có rất nhiều tiền của và tài sản. Ông sống cuộc đời gia nhân trong niềm tin và hy vọng không vương vấn giầu sang phú quí cũng như không gợn bẩn vết nhơ keo kiệt. Một ngày kia người chủ gia nhân tổ chức một cuộc bố thí cho tăng đoàn tỳ khưu, đứng đầu là chính Đức Phật. Công việc bố thí diễn ra trong bối cảnh nhà vua đang cần đến tiền bạc. Chính v́ thế nhà vua sai một người đến gặp người chủ gia nhân giầu có này bảo ông ta rằng: hăy đi và t́m gặp người nông dân giầu có tên này về đây cho trẫm’ Người cận thần ra đi t́m gặp người chủ gia nhân và bảo ông ta rằng: ‘ Hỡi người chủ gia nhân, nhà vua triệu ngài đến gặp ngài ngay lập tức.’ Người chủ gia nhân [217] đang bận rộn phục vụ các vị tỳ khưu do Đức Phật dẫn đầu, tâm trí của người nông dân giầu có đang hả hê do những phẩm chất đặc biệt nơi niềm tin đem lại. Người Nông dân trả lời; ‘xin ngài cứ về đi, tôi sẽ đến gặp đức vua ngay sau khi hoàn tất công việc bố thí. V́ giờ đây tôi đang bận chôn cất một kho báu.’ Và sau khi Đức Phật đă dùng bữa và ngài cho ông biết ngài đă no nê, Đức Phật đă thốt lên đoạn kệ nội dung cụ thể như sau. “Có một người đang cất dấu một kho báu” như là lời chúc lành để chứng tỏ cho thấy người chủ gia nhân đă đạt được tính ưu việt do công đức đem lại, hiểu theo nghĩa như một Bảo Tàng. Đây chính là nhu cầu nổi lên; chính v́ thế, trước tiên ngài khẳng định lư do tại sao Kinh Bảo Tàng này được xếp ở đây và bàn kĩ lư do Kinh Bảo Tàng lại khởi sanh. Giờ đây tôi sẽ kể lại câu chuyện về Kinh Bảo Tàng này.’ (§1) [Đoạn kệ đầu tiên]
Nidhim nidheti puriso [gambhīre
odakantike:
“Một người cất kho báu, Về điểm này, Bảo Tàng được dấu kín (nidhīyati), như vậy đó là một bảo tàng được dấu kín (nidhi); ư nghĩa ở đây là được cất kỹ, được bảo vệ, được canh giữ. Đó là bốn loại công việc, cụ thể là: một Bảo Tàng cố định, bảo tàng di chuyển, nghề thủ công, và những ǵ tiếp theo sau đó. Về điểm này, “Bảo tàng cố định” là bất kỳ “thỏi hay nén vàng bạc nào được chôn dấu dưới đất hay trong sân thượng nhà, trên cánh đồng ngoài ruộng hay bất kỳ địa điểm nào cố định đại loại như vậy. Đây là một bảo tàng được chôn dấu ở một chỗ cố định. Bảo tàng ‘di động’ bao gồm nữ nông nô và nam nông nô, voi, đoàn gia súc, ngựa và lừa, dê và cừu, gia cầm gà vịt heo. Hay bất kỳ loại ǵ khác có thể di chuyển đi đây đó tức là không ở một nơi cố định, ta gọi là “bảo tàng lưu động.” Nghề thủ công” bất kỳ loại công việc ǵ, loại nghề nghiệp nào, ngành khoa học kỹ thuật nào, loại kiến thức phong phú nào, (học vấn uyên bác) hay bất luận loại nghề nghiệp nào có đắc thủ được nhờ học hỏi huấn luyện và tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi người như thể khéo tay; đây là một loại bảo tàng đuợc gọi là “nghề thủ công”. Người đi theo chính là việc công đức bao gồm bố thí, bao gồm tŕ giới, bao gồm cả cách tu tiến thiền định, bao gồm cả việc lắng nghe pháp, và gồm cả việc giảng thuyết pháp cho chúng sanh, hoặc bất kỳ loại công đức nào đắc thủ được đem lại cho ta kết quả đáng mong đợi ở nơi này nơi khác như thể kết quả này theo dơi chúng ta: đây là loại bảo tàng được coi nơi là người ăn theo. Nhưng trong trường hợp này ta chỉ muốn đề cập đến bảo tàng cố định mà thôi. 5. Cất dấu (nidheti): dành dụm, để sang một bên, canh pḥng cẩn mật. Một người (puriso):tức là một người đàn ông. Đương nhiên, đàn ông, phụ nữ hay một hoạn quan đều có thể cất dấu một bảo tàng được cả, nhưng ở đây, Kinh lại đưa ra dưới tiêu đề một người đàn ông (làm công việc này) nhưng hiểu theo nghĩa th́ những hạng người khác nên được coi cũng có thể kết hợp ở đây. 6. Cất sâu dưới đáy hồ nước (gambhīre odakantike): “sâu” ở đây có nghĩa là ta phải lao xuống (dưới nước sâu); đây chính là ‘một đầm nước sâu’, do ở gần (antikabhava) chỗ có nước (udaka), v́ có chỗ sâu nhưng lại không có nước, như vực thẳm sâu hằng trăm dặm trong rừng. Và cũng có những loại hồ nước nhưng lại không sâu. Như thể vũng nước sâu độ vài gang tay [được đào lên] nơi đầm lầy và cũng lại gồm cả hai đặc tính trên vừa có nước vừa sâu như ta đào một cái hố [218] nơi một cách rừng nào đó cho đến khi có nước chảy ra. Và đây là ư nghĩa muốn đề cập đến ở đây ‘sâu nơi vũng nước ngập”. 7. Nếu có nhu cầu giúp đỡ nổi lên (atthe kicce samuppanne): nhu cầu này không thể tách khỏi giúp đỡ (atthā anapanetam), như vậy với sự giúp đỡ (attham); ư nghĩa ở đây chính là đem lại sự trợ giúp, đem lại hạnh phúc. Nhu cầu (kiccam – nghĩa đen ‘điều ǵ cần phải làm”: kiccam=kātabbam (danh động từ); ư nghĩa ở đây là bất luận điều ǵ cần thực hiện (karanīya – đây lại là một danh động tự). Nổi lên (sammuppannam) cũng đồng nghĩa với nổi lên (uppañña); ư nghĩa ở đây là điều xuất hiện như là một hiện trạng của điều ǵ đó đă được thực hiện (kattabba – cũng là một danh động tự). Nếu như có điều ǵ cần đến trợ giúp nổi lên. 8. Điều đó sẽ xuất hiện để trợ giúp tôi (atthāya me bhavissati): điều này chứng tỏ mục tiêu của Bảo Tàng; v́ người đó cất dấu nhằm lợi ích như sau ‘nếu cần đến tôi thực hiện bất kỳ điều ǵ nó sẽ ra tay giúp đỡ tôi. Bảo tàng này sẽ có thể cung cấp nhu cầu của tôi.’; v́ điều này nên được hiểu như là lợi ích cho người đó chỉ đơn giản là cung cấp nhu cầu khi có nhu cầu nổi lên. [đoạn kệ 2] 9. Đang khi chứng tỏ cho thấy mục tiêu của bảo tàng. Nhằm ư định chiếm được lợi ích, ngài nói thêm như sau:
Rājato vā duruttassa corato pīlitassa vā
Nếu bị vua kết án Nhằm chứng tỏ cho thấy ư định bảo vệ khỏi sự hăm hại. 10. Ta nên hiểu ư nghĩa bằng cách phân tích hai mệnh đề sau ‘sẽ xuất hiện tại đó’ (bhavissati trong câu 1) và ‘để được băi miễn’ (pamokkhāya) là điều thích hợp, được khẳng định như sau ‘ tôi sẽ được trợ giúp một cách thích đáng’ và ‘để được băi miễn khỏi...nợ nần’. Đây chính là cấu trúc của câu này. Một người không những chỉ cất dấu kho báu [nghĩ rằng] ‘để tôi sẽ được trợ giúp đúng lúc,’ nhưng khi cất dấu kho báu người đó c̣n [nghĩ rằng] ‘nhờ cất dấu kho báu đó người đó [nghĩ rằng] để tôi không những sẽ được vua chúa quan quyền băi miễn khỏi phải thải hồi” mà c̣n thoát khỏi cả những kẻ thù và những thù địch hăm hại nữa theo cũng một cách thức như vậy. “cho dù đó có thể là một băng cướp” hay “ là một kẻ tội lỗi tà dâm nữa” hay ‘ là kẻ trốn thuế.” Tội lỗi [2]; hoặc giả kho báu sẽ c̣n đó nhằm băi miễn cho tôi khỏi băng cướp hăm hại nếu như tôi bị bọn cướp bắt cóc để đ̣i tiền chuộc khi chúng đột nhập vào nhà để cướp của hoặc do đột nhập vào nhà hay de doạ mạng sống của tôi nói rằng ‘hăy nộp cho bọn ta tiền của hay vàng bạc bằng này”. Và một khi có những ai tôi đă mắc nợ và họ ép buộc tôi phải trả món nợ đó, và kho báu c̣n đó để, băi miễn cho tôi khỏi những nợ nần đó khi những chủ nợ đó thúc ép bắt tôi phải thanh toán những món nợ đó. Và rồi vào những dịp đói kém mất mùa. Khi vụ thu hoạch thất bát và khó ḷng kiếm được thực phẩm để sử dụng hàng ngày. Và không dễ ǵ một người không giầu có có thể sống sót được. và (bảo tàng sẽ nổi lên) để trợ giúp cho tôi trong cơn đói khổ.; [219] và rồi khi nổi lên tai họa do hoả hoạn, lụt lội hay người thừa kế không được hoan nghênh xuất hiện. Và bảo tàng sẽ c̣n đó để trợ giúp cho tôi trong những tai hoạ (āpadāsu) như vậy nổi lên. [câu kệ 2 ḍng thứ ba] 11. Với hai câu kệ trên đă chứng tỏ được ư nghĩa nêu trên (mỗi câu hai ḍng) cho là mục tiêu dấu kho báu bao gồm hai mục đích đó là ư định chiếm lănh được lợi nhuận. Và ư định được bảo vệ khỏi những tai ương khi chúng nổi lên. giờ đây ngài nói tiếp. Etadatthāya lokasmim nidhi nāma nidhīyate
‘Với những mục tiêu như vậy những ǵ ta
gọi Nhằm mục đích kết thúc những lời khẳng định cùng với hai ư nghĩa đó. 12. Ư nghĩa ở đây là. Cùng với những mục tiêu (etadatthāya) như vậy, với mục tiêu nhằm đem lại những nhu cầu cần thiết được chứng tỏ bằng cách nhận được những lợi lộc và che chở khỏi những điều hăm hại tương tự với các từ ‘ thế rồi khi cần thiết tôi sẽ nhận được hỗ trợ’ và ‘nhà vua sẽ băi miễn cho tôi khỏi những (sai phạm) cái ta gọi là kho báu (nidhi nama), cụ thể như là, tiền bạc và vàng nén vàng thẻ, v.v...trên đời này (lokamim.) chính là địa điểm [3] cất dấu bảo tàng đó (nidhiyate), được cất kỹ, được để sang một bên. [Câu kệ 3] 13. giờ đây v́ kho báu được cất dấu chỉ nhằm đem lại cho kẻ nào sở hữu công đức và không đem lại cho bất kỳ ai [có được lợi nhuận hay chống lại những điều hăm hại] ngài đă làm rơ ư nghĩa điều này bằng cách nói như sau:
Tāva-sunihito santo gambhīre odakantike
‘Dẫu nó không bao giờ đó là ư nghĩa muốn đề cập đến sau đây. 14. [cho dù] kho báu đó, chẳng bao giờ được giấu cất kỹ càng (tāva-sunihito santo) – (cho dù kho báu đó) chẳng bao giờ được chôn giấu và dành dụm, chính là ư nghĩa muốn đề cập đến ở đây, Kỹ càng đến cỡ nào? Cất sâu dưới đáy đầm nước (gambhīre odakantike), cho đến khi (kho báu đó) được coi như, cất giấu sâu dưới đáy đầm nước; ư nghĩa ở đây là. Kho báu đó chẳng bao giờ được cất giấu kỹ càng đến như vậy- đến mức độ chẳng c̣n điều ǵ có thể trợ giúp cho người đó một cách thấu đáo như vậy để có thể giúp đỡ cho người đó được. (na sabbo sabbadā eva tassa tam upakappati); cho dù tất cả những điều đó vẫn không giúp cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại cho người đă cất giấu kho báu đó, cũng không thể đủ để, không có khả năng trả lời, nhu cầu cần thiết của người đó đă được nói đến ở trên, đó là ư nghĩa muốn nói đến ở trên. Nhưng chỉ có một số có thể giúp ở một số trường hợp mà thôi. Hoặc chẳng giúp ích được ǵ cả, và từ Tam nên được coi như là một tiểu từ nhằm làm đủ vần cho câu kệ mà thôi. Như trong câu kệ sau ‘Yathā tam appamattassa ātāpino’ (‘giống như những ǵ đă xẩy đến cho những kẻ nào không dễ duôi và nhiệt t́nh.’: M. I 22); hoặc giả tam được đề cập đến bằng cách thay đổi [từ giống đực sang trung tính] trong đó so [ám chỉ sabbo] nên được nói đến ở đây, và khi được coi như vậy th́ ta có thể dễ dàng hiểu ư nghĩa hơn. [Phần đầu hai đoạn kệ 4 và 5] 15. [220] Sau khi đă nói như thế ‘chẳng có điều ǵ có thể hỗ trợ cho kẻ đó mọi nơi mọi lúc được đâu’, ngài nói tiếp.
Nidhi vā thānā cavati, saññā vā’ssa
vimuyhati,
‘Kho báu bị dời chỗ Đây là điều chứng tỏ tại sao bảo tàng đă không thể giúp ích được người đó. 16. Ư nghĩa ở đây là. kho báu đă được lấy đi (nidhi va cavati) rất có thể đă biến mất, rất có thể được chuyển từ chỗ này sang chỗ khác (thānā) là nơi được coi như là được giấu cất chắc chắn nhất; cho dù không có bất kỳ lựa chọn nào cả. Cho đến khi phuớc của người sở hữu kho báu đó coi như đă cạn kiệt hết và di chuyển đến một nơi khác. Hoặc giả người đó có thể quên mất dấu vết (saññā vā’ssa vimuyhati) người đó không nhớ lại được ḿnh đă cất giấu kho báu ở đâu. Hoặc giả (va) rồi, do phuớc đức đă bị cạn kiệt, th́ Măng Xà Vương (nāga) đă di chuyển kho báu đi chỗ khác (tam apanamenti); hoặc giả các Chư thiên, ngạ quỷ (va pi) đă lấy đi mất (yakkha haranti), đă lấy điều chúng muốn lấy, và chuyển đi nơi khác; hoặc giả (va pi) các kẻ thừa kế (dayada) người đó không thể chịu đựng nổi đă đào mất kho báu và lấy đi hoặc rút tỉa đi hết khi người đó không thấy được)* apassato). Chính v́ thế kho báu không thể giúp ích ǵ được cho hắn v́ kho báu này đă bắt đầu được di chuyển đến chỗ khác. [đoạn kệ 5 nửa cuối] 17. Sau khi đă nói lên lư do thất bại không thể giúp ích ǵ cho người đó, cụ thể là, kho báu đă bắt đầu được di chuyển đi nơi khác, là những nơi có thể được nhận biết trên trần gian này, ngài nói tiếp như sau. Yadā puññakkhayo hoti sabbam etam vinassati
“Và khi phước đức tận Chứng tỏ cho thấy chỉ có một lư do trong số toàn bộ những lư do lấy làm nguồn gốc cho toàn bộ những lư do đă nói đến ở trên, cụ thể là phuớc đă bị cạn kiệt. 18. Ưnghĩa ở đây được hiểu như sau. (Và khi (yada) thời cơ tới trong đó, mọi phuớc đă bị tiêu huỷ hết. Hoặc giả loại công đức (punna) có khả năng tạo ra của cải. Thế rồi có cả lại lỗi phạm có khả năng làm mất đi tất cả các phước đă có dịp nổi lên; và rồi toàn bộ (sabbam etam) kho báo bao gồm những của quí như tiền bạc, vàng thỏi, v.v... đă được dấu kín đào sâu chôn cất dưới đáy đầm nước cũng sẽ tiêu tan đi hết hoàn toàn. (vinassati) [Đoạn kệ 6] 19. Sau khi đă khẳng định loại kho báu được nhận biết trên trần gian này, cho dù có được chôn dấu kỹ càng với những ư định này nọ, nhưng vẫn không thể giúp ǵ được cho mục tiêu đă định và bằng nhiều cách khác nhau tách biệt khỏi pháp tiêu tan đi mất, giờ đây Đức Phật lại nói tiếp:
Yassa dānena sīlena samyamena damena ca
‘Những khi người nam, nữ Chứng tỏ cho thấy tính cách tuyệt hảo của công đức như là một kho báu hiểu theo nghĩa tuyệt đối, để có thể chứng tỏ điều ngài đă bắt đầu thuyết Kinh Kho Báu khi ngài ban phép lành cho người gia nhân. 20. [221] Về điểm này, với bố thí (danena) nên được hiểu theo nghĩa đă được khẳng định trong phần “ Bố thí, hành đúng theo pháp (Ch. v. §140); tŕ giới (sila) đó là việc không sai phạm giới luật cả về thân lẫn khẩu, hoặc giả điều được nhấn mạnh ở đây về ‘việc công đức’ chính là toàn bộ những ǵ thuộc về giới năm thành tố. Và tám thành tố tốt. [4] [trong trường hợp người đời] và tŕ giới được coi như là Giới luật [trong trường hợp đối với vị tỳ khưu]. 21. Tự chế (samyamo) chính là hành vi tự chế (samyamana); ư muốn nói ở đây chính là hành vi ngăn cản tâm nh́n nhận thức về những đối tượng đa dạng, đây chính là cách ám chỉ nhiệm vụ chánh định . Ai có sở hữu được loại tự chế này th́ được gọi là ‘ người sở hữu được hành vi tự chế tối thượng’ như đă được đề cập đến trong đoạn ‘kẻ nào có thể tự chế được không phạm phải điều bất hảo do chân tay, và lời nói, th́ người đó sở hữu được hành vi tự chế tối thượng.’ (Dh. 362); một số người khác lại cho là tự chế là một hành vi kiêng, và được ám chỉ ở đây chính là một định dành, dành cho thu thúc căn quyền (xin đọc e.g. M. i. 180). Điều ngự (damo- nghĩa đen chính là ‘thuần hoá’) lại chính là hành vi tự chế điều ngự (damana); ư muốn nói ở đây chính là làm dịu đi những phiền năo . Đây chính là chức vụ dành để gọi trí tuệ. V́ trí tuệ ở một số trường hợp được gọi là ‘trí tuệ’(panna), như trong các đoạn sau “Sussusā labhale paññnam.’ (xuất phát từ ước muốn lắng nghe ta có được hiểu biết’: Sn. 186), và nơi một số trường hợp khác đây lại được gọi là“Pháp” vậy (dhamma) như trong các đoạn sau ‘Saccam dhammo dhiti cāgo’ (Chân lư, pháp, kiên định, xả thí; Sn. 188) và trong một số trường hợp khác lại được hiểu là ‘điều ngự’ (dama) như trong các đoạn sau ‘Yadi saccā damā cāgā khantiyābhiyyo na vijjati’ “nếu chăng có ǵ tồn tại th́ chẳng có ǵ lại cao trọng hơn Chân lư, pháp, xả thí và nhẫn nại đâu”: Sn. 189). 22. Sau khi đă định nghĩa được “của bố thí” và điều c̣n lại theo cách này, ư nghĩa của đoạn kệ này có thể được hiểu ngắn gọn như sau: “Một khi bất kỳ người đàn ông hay người phụ nữ nào (itthiyā purissa vā), sở hữu được bốn điều cụ thể như, những của bố thí, (dānena), tŕ giới, (sīlena), tự chế (samyamena)và với điều ngự (damena), lại được gọi là Kho báu (niddhi) gồm có các công đức người đó đă thực hiện được. bằng cách cất giấu kỹ càng kho báu này (sunihito hoti) hoặc do chỉ một hành vi tâm liên tục đơn thuần nơi những hành vi này như là những ǵ bắt đầu với bố thí [5] và trong các ví dụ điển h́nh bắt đầu với ‘các đền tháp [trong các đoạn kệ tiếp theo sau đây] đây chính là kho báu gồm có những bảo vật quí giá như những thỏi vàng bạc, ngọc ngà châu báu, đá quí được cất giữ trong đó ở một nơi kín đáo những vật trong đó như vàng ṛng và những ǵ c̣n lại. [Đoạn kệ 7] 23. Sau khi đă chứng tỏ làm rơ đặc tính kho báu quí giá hiểu theo nghĩa tuyệt đối bằng cách hiểu ra được những ư nghĩa tột đỉnh của việc công đức với đoạn kệ bắt đầu như sau ‘Nhưng khi đàn ông và phụ nữ’, Đức Phật giờ đây lại tiếp tục đề ra một đoạn kệ như sau:
Cetiyamhi sanghe vā puggale atithīsu vā
‘Trong chùa tháp, tăng đoàn Chứng tỏ cho thấy cơ sở nơi kho báu đợc giấu kín tại đó. 24. Về điểm này, đây chính là điều được xây dựng kiên cố [6] (cayitabba),và như vậy đây chính là một đền tháp (cetiya); điều muốn ám chỉ ở đây chính là điều chúng sanh phải tôn kính nơi đây hoặc giả đây chính là một đền tháp (cetyia) và đă được xây dựng kiên cố (cita). Đó chính là ba loại đền tháp [222] như ta đền tháp thường dùng, đền tháp do cúng duờng mà có, và đền tháp chứa xá lợi. Về điểm này, Cây Giác ngộ (bồ đề) cũng là loại đền tháp thường được sử dụng, một tượng Phật lại là một ngôi chùa được dâng cúng. Và một toà lâu đài là nơi cất xá lợi được gọi là đền tháp. Cộng thể Tăng Già(sangha) mà bất kỳ cộng thể nào trong số các cộng thể được định nghĩa như là cộng đoàn do Đức Phật lănh đạo, và những ǵ đại loại như vậy. Một con người (puggala) là bất kỳ người cận sự nam b́nh thường nào hay một người đă xuất gia khỏi cuộc cuộc sống gia đ́nh. Người đó chẳng có được một căn pḥng (natthi assa thiti) vào ngày nào đó người đó tới đó, như vậy ta gọi là quan khách (atithi) ; đây là điều muốn ám chỉ kẻ nào cần phải dành cho một nơi tá túc khi tới một nơi nào đó. Những ǵ c̣n lại nên được hiểu như đă được khẳng định ở trên. 25. Sau khi đă định nghĩa “về đền tháp” và những ǵ c̣n lại theo cách thức này, ư nghĩa đoạn kệ này nên được hiểu ngắn gọn như sau đây: Kho báu mà ta thường cho là “được cất giấu kỹ càng’ đă được chôn dấu kỹ càng tại những vùng đất đó. Tại sao vậy? V́ điều này có thể đem lại kết quả đáng ước ao một cách lâu dài. Và chính v́ thế kẻ nào bố thí cho dù chỉ một chút tại một đền tháp sẽ chiếm được kết quả đáng ước muốn theo như điều đă được đề cập đến sau đây.
“Chỉ một cành hoa ta đă dâng cúng. và
Giờ đây nếu như một người nhận ra được
hạnh phúc đầy tràn. Và cũng như vậy ta nên hiểu việc phân loại kết quả do việc bố thí mang lại dựa trên nhiều cơ sở khác nữa bắt đầu với Tăng Già theo cách như đă được khẳng định trong Kinh Dakkhanasuddhi M. iii. 253-7 và MA.) Kinh Velama (A. iv. 392-6) v.v... (xin đọc DA. I 234). Và chính v́ có bố thí diễn ra nơi các đền tháp. v.v... và sự phong phú nơi kết quả cũng đă được chứng tỏ, như vậy trong mỗi trường hợp được ứng dụng ở đây có thể hiểu như là sự xuất hiện các việc công đức bằng cách tuân giữ hay tránh không sai phạm. (Vis.Ch. I § 26/ tr. 11), phụ thuộc vào bất kỳ điều ǵ có thể xẩy ra và là sự phong phú nơi kết quả, ta thấy xuất hiện sự tự chế như là niệm tưởng về ân đức của Đức Phật vậy. (Vis. Ch. vii, § 1 tt./ tr. 197 tt) và chính sự phong phú nơi kết quả, và sự xuất hiện việc thu thúc được coi như là thiền quán, tác ư, và duyệt xét lại. Với điều đó làm căn nguyên (xin đọc Vis. Ch. xviii-xxii) và sự phong phú nơi kết quả. [Đoạn kệ 8] 26. Sau khi đă chứng tỏ được cơ sở và chia các đền tháp, v.v...thành một kho báu bao gồm các công đức được giấu kín khi kho báu được giấu kín nhờ vào việc công đức bố thí...Đức Phật phải thốt lên những lời sau đây:
[223]
Eso niddhi sunihito ajeyyo anygāmiko,
‘Kho này khéo để dành Ngài đă làm như vậy bằng cách chứng tỏ điều được phân biệt giữa kho báu được chôn giấu kỹ lưỡng trên mặt đất khác với kho báu được cất giấu sâu dưới đầm lầy nước đọng. 27. Về điểm này, [với các từ] kho báu này được cất giấu kỹ càng (eso nidhi sunihito) ngài đă chứng tỏ cho thấy loại kho báu đuợc cất giấu kỹ nhờ của bố thí, v.v... [được khẳng định] ở các ḍng trên. Không thể mất được (ajeyyo): bất kỳ người nào cũng không thể thắng nổi (jetva) và không ai có thể lấy đi được, như vậy mà ngài gọi là không thể mất được. Ajjeyyo cũng chỉ là một cách dịch; ư nghĩa của từ này là: cần phải chiếm lấy (ajatibba) đáng để đạt đến được (ajjanaraha), cần phải được chiếm lấy chung tất cả. (upajjetabba), [7] nhờ vào những kẻ nào t́m kiếm hạnh phúc của người khác và hạnh phúc cho chính ḿnh. Với cách dịch như vậy th́ cấu trúc của câu nên được thực hiện như sau ‘ Kho báu này nên được chiếm lấy (eso nidhi ajjeyyo)’ và rồi sau khi đă chỉ ra cho thấy sự liên hệ bằng cách đặt câu hỏi ‘Tại sao?’ cách đặt câu này nên được hoàn tất như sau ‘ Chính v́ kho báu này đă được giấu cất kỹ càng và chính là người đi theo’. Bằng không điều được khẳng định nên được cho là đây chính là điều ǵ đă được giấu cất kỹ càng; nhưng điều ǵ đă được giấu cất kỹ càng th́ không thể lấy đi được (ajjaniya). [V́ nó đă bị lấy đi trước khi được cất giấu kỹ càng vậy.] 28. Tiếp theo sau đó (anugacchati), như vậy đây chính là người đạo hữu (anugamiko); ư nghĩa ở đây là khi một người đời thường tiến vào thế giới bên kia th́ bảo tàng đó cũng không thể bỏ được người đó trong việc tạo ra kết quả. Bất kể thuộc loại nào. 29. Trong số điều ǵ có được từ bỏ khi phải ra đi; vị ấy ra đi với điều này (pahāya gamanīyesu etam ādāya gacchati) [8]: khi giờ chết xuất hiện, [rồi] cộng với (ādāya) kho báu này (etam)trong số toàn bộ tài sản khi phải ra đi (gadmanīyesu), sau khi đă được từ bỏ (pahāya) hết thảy [chúng], kẻ đó sẽ tiến vào một thế giới khác: h́nh như đó là ư nghĩa muốn ám chỉ ở đây; nhưng ư nghĩa lại không phải như vậy. Tại sao vậy? V́ tài sản là những ǵ không phải được đem theo khi phải ra đi (gamaniya) v́ những tài sản này nọ cần phải được loại bỏ (pahātabba); chứ không phải những cách phân biệt được cảnh giới kiểu này kiểu nọ về tái sanh là điều khi phải ra đi. Kết quả là, nếu đó là ư nghĩa thực sự. Th́ cũng chẳng khác ǵ ta nói rằng, ‘bằng cách bỏ đi những tài sản làm cách phân định được nhàn cảnh là điều khi phải ra đi (pahāya bhoge gamanīye sugativisese). Do đó ư nghĩa ở đây phải được hiểu như sau. (1) từ một cái chết trong số các tài sản được từ bỏ trong cách khẳng định như “ kho báu đă thay đổi khỏi vị trí của nó” (câu kệ 4) v.v...đang đi (gacchantesu) vị ấy đi (gacchati) (ādāya có nghĩa cầm lấy) điều này (etam) v́ từ này không từ bỏ vị ấy để nó trở thành một người đi theo vị ấy. Ơ đây nó có thể (bị phản đối) rằng (danh động từ thụ động như) gamanūyesu (trong điều được đi đến) có ư nghĩa của (danh động từ thụ động thể bắt buộc như) gantabbesu (trong điều cần phải được đi đến) [và không phải ư nghĩa của hiện tại phân từ năng động] gacchantesu (giữa điều đang đi). Điều cần thiết đó không được nắm giữ nghiêm nhặt, như trong đoạn “ariyā niyyānikā” (thánh nhân và cứu cánh sn.p 140) nghĩa là đang dẫn dắt ra (niyyāyantā hiện tại phân từ năng động) và không phải là phải được đi ra (niyyātabbā - danh động từ thụ động) và ở đây cũng có nghĩa là trong số những điều đang đi (gacchantesu), không phải là trong số những điều cần phải (có thể) được đi đến (gantabbesu). Hoặc giả thay thế chọn (2) khi chết một người muốn bố thí vật ǵ cho ai đó cũng không được sờ mó những tài sản, và v́ thế trước nhất những tài sản này phải bỏ lại do thân vị đó, và rồi sau đó chúng phải bị đi (gantabbā), vị ấy với tâm thoát khỏi tham dục, chúng phải vượt qua, là điều muốn nói, v́ thế ư nghĩa trong trường hợp này có thể được quan tâm như sau: Giữa những tài sản mà trước nhất vị ấy từ bỏ chúng thuộc về thân, rồi sau đó phải bị đi khỏi với tâm. (1) trong trường hợp của ư nghĩa thứ nhất, dùng định sở cách là (trong ư nghĩa của) rút lui (niddhārana) như: trong số những tài sản mà khi phải bị ra đi được (vị ấy) từ bỏ, vị ấy sau khi rút lui như vậy, từ đó phần công đức như là một kho báu, vị ấy nắm giữ điều này và ra đi. (2) trong trường hợp của ư nghĩa thứ hai định sở cách là trong ư nghĩa của đặc tính (phẩm chất) một danh từ do một danh từ khác (xem ch v, 46), đối với nguyên thể danh từ của kho báu này đang được nắm giữ và ra đi với sự việc (ādāyagamanabhāva) là đặt tính phẩm chất do nguyên thể danh từ của những tài sản phải bị sự đi khỏi (gamanīyabhāva). [Đoạn kệ 9] 30. sau khi đă chứng tỏ cho thấy những ǵ cần phân biệt về kho báu công đức này với kho báu được chôn sâu giấu kín dưới đáy hồ nhập nước, Đức Phật nói thêm.
Asādhāranam aññesam acorāharano nidhi;
‘Không ai khác chia phần Ngài đă động viên các chư thiên và cả loài người nên quan tâm như vậy nhằm tích luỹ cho chính ḿnh kho báu công đức bằng cách chi tiết hóa [9] những phẩm chất đặc biệt kho báu công đức đó, như thể một thương gia có hàng hóa quí hiếm động viên người mua khi thương gia chỉ ra cho thấy cho họ những đặc tính đặc biệt về hàng hoá quí hiếm họ đang có để bán. 31. Về điểm này, [về câu] không có ai chia sẻ cùng ta được: asādhāna-m- aññesam= asādhārano aññesum; mẫu tự m chỉ nhằm nối kết hai đoạn lại với nhau như trong các đoạn ‘adukkha-m-asukhāya sampayuttā’ (‘tương ưng với cảm thọ phi khổ phi lạc’: Dhs. tr. 1). Và trộm cắp không thể đục khoét được kho báu này: acorāharāno-na corehi āharāno (thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép); trộm cướp không thể lấy đi được, là ư muốn nói ở đây. [Kho báu đó] cần phải được giấu kỹ (nidhātabba), như vậy đây chính là một kho báu vậy. 32. Sau khi đă chi tiết hóa các phẩm chất công đức đặc biệt bằng hai nữa câu kệ. Việc tiếp theo sau đó ngài động viên họ tích cực tham gia vào công việc tích lũy công đức bằng hai việc cụ thể như sau, ‘Chính v́ thế hăy kiên tŕ lập công đức cho ḿnh’ và ‘tích luỹ kho báu đó sẽ theo ta măi măi’ Ư nghĩa hai câu kệ đó như sau: Một kho báu không có kẻ nào có thể chia sẻ được và trộm cướp cũng không thể xâm phạm được đó chính là điều ta gọi là “việc phước báu (puññāni: nghĩa đen là: những việc ‘công đức’) và kho báu đó không những chẳng có ai chia sẻ được và trộm cướp cũng không thể lấy cắp được, mà c̣n là ‘kho báu như là người theo ta’ điểm này đă được đề cập đến [ở đoạn kệ trước], kho báu này đă được cất giấu kỹ càng, và là người theo ta liên tục’ và cả người theo ta này cũng lại bao gồm những việc công đức, chính v́ thế những người kiên tŕ, những người hoàn hảo chính ḿnh trong việc kiên tŕ khám phá [kho báu này], sẽ hoàn hảo chính ḿnh trong kiên tŕ. Cầu mong họ hăy kiên tŕ thu thập cho ḿnh việc công đức – kayirātha=kareyya rất nhiều việc công đức (puññāni). [Nửa phần đầu Đoạn kệ 10] 33. Sau khi đă động viên cả Chư thiên lẫn con người tích cực thu thập cho ḿnh kho báu công đức bằng cách đưa ra chi tiết những phẩm chất đặc biệt, giờ đây Đức Phật dạy. Esa devamanussāvam sabbakāmadado nidhi
‘Đây là một kho báu Ngài thực hiện điều này bằng cách chứng tỏ ngắn gọn đâu là kết quả đem lại cho những kẻ nào tích cực và đang theo đuổi thực hiện những việc công đức. 34. [225] [Nhưng] kho báu này đem lại mọi điều ước muốn chỉ diễn ra cho những ai ước muốn thực hiện việc công đức mà thôi; chẳng có việc công đức nào xẩy ra lại không mang theo khát vọng. Theo như lời ngài đă nói ‘Nếu như người chủ gia nhân tuân giữ thực hành đúng theo đường lối pháp đă dạy, và hợp với phẩm chất đạo hạnh chính trực, th́ sẽ ước muốn như sau ‘ ôi, sau khi chết, Cầu mong tôi có thể xuất hiện được với các vị sát đế lị nơi pḥng hội vĩ đại ‘ rất có thể vào ngày thân xác bị phân huỷ, sau khi chết, người đó có thể xuất hiện có sự hiện diện của các sát đế lị trước ngai vàng vĩ đại. Tại sao điều này lại có thể diễn ra? v́ người đó đă tuân giữ thực hành đúng theo pháp đă dạy. Phù hợp với phẩm chất đạo hạnh chính trực’ (M. i. 289) và cũng giống vậy “ Ôi Cầu mong chính tôi có thể đắc được điều này với thắng trí của ḿnh. tôi có thể gia nhập ngay lúc này và ngay bây giờ và có thể trú ngụ được nơi tâm giải thoát, tuệ giải thoát và thoát khỏi mọi lậu hoặc này.” đây là điều có thể xẩy ra]...tại sau vậy? v́ họ đă tuân thủ thực hành theo đúng với pháp, và phẩm hạnh chính trực (M . i. 289) và tương tự như vậy ngài c̣n phán ‘hỡi các vị tỳ khưu, ở đây một vị tỳ khưu sở hữu được đức tin, sở hữu được giới...học vấn...xả thí...trí tuệ. Nơi vị đó sẽ diễn ra ‘Ôi vào lúc phân huỷ thân xác này, sau khi chết, ta có thể xuất hiện cùng với Sát đế lị nơi đại sảnh đường.” Ngài tận dụng tâm đó, quyết định nhận thức đó, tu tập tâm đó nơi ngài; những quyết tâm đó, những nơi cư trú đó, được duy tŕ hiện hữu như vậy và phát triển, đă dẫn đến việc ngài được tái xuất hiện tại nơi chốn đó’ (M. iii. 99-100) v.v... [Nửa Thứ Nh́ Đoạn kệ Thứ 10] 35. Chính v́ thế giờ đây ngài lại phán rằng: Yam yad evābhipatthanti, sabbam etena labbhati.
‘Dù họ mong muốn ǵ Ngài đă chứng tỏ cho thấy khát vọng tạo nên thực hiện bố thí đem lại công đức đều tạo ra điều ǵ được ước ao. Nhờ đó uớc vọng được coi như là một qui tŕnh ước muốn được điều này điều nọ một cách khôn ngoan cộng với những nhu cầu thiết yếu được trang bị cho sự cố gắng vận dụng những ǵ do tâm đem lại, đă quyết tâm và tu tập điều đó tồn tại. [đoạn kệ 11] 36. Giờ đây ngài phán tiếp theo với năm đoạn kệ bắt đầu như sau:
Suvannatā sussaratā [susanthānasurūpatā
‘Vẻ đẹp của màu da Ngài đă chứng tỏ cho thấy [thông qua] giới hạn chuyên biệt trong [từng hoàn cảnh] làm cách nào ta có thể sở hữu được toàn bộ những điều nói đến ở trên nhờ vào việc công đức đó. Về điểm này, trong năm đoạn kệ đầu tiên trong số năm câu kệ vừa nêu. Vẻ đẹp nơi cách nh́n Suvannatā: là làn da có màu sắc hồng hào. Có làn da mầu vàng óng; v́ điều đó ta có được là nhờ công đức của bảo tàng. Như có lời Đức Phật nói rằng: ‘Hỡi các chư vị tỳ khưu. V́ khi một Như lai... nơi kiếp trước.... Nơi kiếp tồn tại làm người mà không bực tức, và rất ít khi tỏ vẻ thất vọng. Và v́ khi có nhiều lời được nói ra song chẳng bao giờ trả lời hoặc bào chữa ǵ cả. [226] không bao giờ tỏ vẻ bực dọc, không bao giờ tỏ vẻ ác tâm. không bao giờ phẫn nộ, và không bao giờ tỏ vẻ phiền toái, bực tức, sân hận, cáu kỉnh gắt gỏng. Và v́ vị ấy là người ban phát những tấm thảm tuyệt hảo và áo khoắc vải lanh hảo hạng, vải bông tuyệt trần...len cực ấm; với những hành vi đó được thực hiện. tích luỹ....khi c̣n làm thân phận con người và cùng với hiện trạng con người đó, vị ấy đắc thủ được hai tuớng của đại nhân. Có nước da vàng óng và làn da vàng óng huy hoàng.’ (D. iii. 159). 37. Giọng nói tuyệt trần (sussaratā) là một giọng nói Chư thiên. Thốt ra như giọng chim karavika. [10] Giọng nói đó cũng có thể chiếm được bằng cách này, theo như lời Đức Phật đă nói” hỡi các vị tỳ khưu, v́ Như Lai nơi kiếp trước...đă từ bỏ được tiếng nói thô bạo giọng nói của vị này đă trở nên trong trắng như hài nhi vô tội, lọt vào tới ḷng mọi người, rất thân quen và biết bao nhiêu người mơ ước thân thương trước biết bao nhiêu là hạng người. Ngài thực hiện hành vi đó tích luỹ được...khi trở lại kiếp người trở lại, hiện trạng con người nguyên thuỷ đó ngài cũng đắc thủ được hai tuớng của một đại nhân. Ngài có được giọng nói sang sảng, và tiếng nói tựa tiếng Chư thiên, giống như tiếng chim Karavika hót vang’ (D. iii. 173). 38. Khuôn mặt xinh đẹp (susanṭthānatā) là h́nh dạng (sanṭhānatā) mỹ miều (Suṭṭhu) đến từng chi tiết thích hợp và tṛn trịa dễ thương (samūpacitavaṭṭitayauttaṭṭhanesu); là ư nghĩa muốn nói ở đây. Cấu trúc thân h́nh các chi cân đối tṛn trịa đến từng chi tiết. Và đặc tính đó có được thông qua những phương tiện vừa nêu trên. Theo như lời Đức Phật đă nói ‘hỡi các vị tỳ khưu. V́ Như Lai nơi kiếp trước... vừa tồn tại thành kiếp con người, đă t́m kiếm làm điều tốt lành, mưu t́m hạnh phúc, an nhàn, an toàn, thoát khỏi mọi cảnh tù tội, giam hăm, nhiều người trong số họ chỉ suy nghĩ, t́m kiếm làm gia tăng niềm tin, giới đức, đa văn, xả thí, trí tuệ, gia tăng của cải giầu sang, ngũ cốc, nơi đồng áng đất đai, nơi gia cầm gia súc. Nơi vợ con, nơi người nô bộc, đầy tớ trai gái, họ hàng. Bạn bè và những người thân thiết.?” Thực hiện được hành vi đó, người đó tích luỹ được kho báu cho chính ḿnh, nơi kiếp người của ḿnh ... và khi đầu thai làm người trở lại họ cũng chiếm lại được hiện trạng đó được thể hiện với ba tuớng của một vị đại nhân, với h́nh dạng của một sư tử oai hùng. Long bằng phẳng. Đầu cổ, đường phân rănh cân đối tṛn trịa’ (D. iii. 164), [227].v.v...Và ta có thể trích dẫn nơi này nơi khác trong các đoạn kinh những ǵ đạt được để hoàn thành được những ước muốn đó] nhờ kho báu công đức đă được cất giấu đó trong những trường hợp của nhiều người khác cũng như trong trường hợp các vị Như Lai theo cách thức nêu trên; nhưng ta chỉ tŕnh bày ngắn gọn như trên, sợ phải đưa ra quá nhiều chi tiết dài ḍng. 39. Giờ đây chúng ta sẽ chú giải thêm về các từ c̣n lại. Vẻ đẹp của toàn thân (sarūpatā): ở đây ta nên hiểu như là toàn bộ thân xác được coi như là “h́nh dáng” như trong các đoạn sau “ nơi một không gian được trang bị với xương gân và da thịt” ta có thể áp dụng từ ‘h́nh thái” được trong trường hợp này’ (M. I 1901); M. I 1901); ư muốn nói ở đây là tính chất thanh tao của thân. Thân đẹp, không quá cao, không quá thấp, không quá gầy c̣m mà cũng không quá mập ú., không quá đen mà cũng không quá tuyệt đẹp. Địa vị vương đế chính là hiện trạng vương đế người đó có được.; có được hiện trạng của một Sát đế lỵ nơi sảnh đường v.v... là ư muốn nói ở đây. Đoàn hầu cận (parivaro) là điều tuyệt vời nhất người đó có được nơi những người tùy tùng và những người quản gia có được nơi những người phàm tục. Và trong trường hợp những người đă xuất gia đi tu chính là điều tuyệt hảo nơi tăng già gồm bốn hội chúng. Ādhipaccaparivāro = ādhipaccañ ca parivāro ca thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép. Và ở đây ư nghĩa cũng nên được hiểu như là điều tuyệt hảo nơi thân xác được diễn tả bằng ‘vẻ đẹp của cách nh́n” v.v... tuyệt hảo có được do tài sản có được nhờ vào địa vị đế vương mang lại và sự tuyệt vời nơi các đoàn tôi tớ và những người tùy tùng của ḿnh”. 40. Tất cả đều đă đạt được, nhờ phước đem lại (sabbam etena labbhati. nghĩa đen là toàn bộ những ǵ chiếm đoạt được đều do công đức đem lại cả’) điều ngài muốn nêu ra ở đây chính là điều đă được khẳng định ở trên như sau. “ bất luận điều ǵ ngài ước muốn có được. Tất cả đều đă đạt được, nhờ phước lành công đức đem lại mà thôi.’(đoạn kệ 10) về điểm này, trước tiên đây chính là một loạt công đức gồm sáu điều được khẳng định với những giới hạn đặc biệt được gọi là ‘ vẻ đẹp của h́nh dáng’ v.v... toàn bộ những điều này được hiểu là có thể đă đạt được nhờ phước nghiệp công đức đem lại mà thôi. [Đoạn kệ 12] 41. Sau khi đă chứng tỏ những điều nêu trên như vậy với liên quan đến tính tuyệt vời thần linh và con người sánh b́ với ngôi vương quốc. Cũng đều đạt đến được do sức mạnh công đức đem lại, ngài liền phán một đoạn kệ sau.
Padesarajjam [issariyam cakkavaṭṭisukham
piyam
‘Ngôi đế vương [một cơi Chứng tỏ cho thấy đặc tính tuyệt trần của ngôi vương đế kể cả thuộc loại Chư thiên hay người trần tục. 42. Về điểm này, ngôi đế vương một cơi (Padesarajjam) là vương đế chỉ thuộc vào một phần nhỏ trên trần gian này mà thôi. Cho đến khi nào vương quốc không trải dài cho đến tận cùng các đại châu. Cả quốc vương nữa cũng vậy (issariyam) cũng chỉ là hiện trạng đế vương; và thông qua điều này ngài muốn đề cập đến vương quốc chuyển luân vương trải dài toàn bộ các đại châu. Cực lạc chuyển luân vương (cakkavaṭṭisukham piyam) được coi như là lời cầu chúc được ước ao bấy lâu nay và là điều sảng khoái cực lạc: nhờ đó ngài muốn nêu lên vương quốc của vua chuyển luân vương trải rộng đến bốn gốc (của địa cầu), đó là toàn thể bốn châu. Thống trị các cơi trời: devarajjam = devesu rajjam (thay thế bằng một từ ghép), ngài muốn nêu lên là thống trị các thần linh do nhân loại như (điều đó được thực hiện do) Mandhātu [trong cơi trời Tam thập tam thiên] [11] v.v... trên thiên đường do điều này ngài đă nêu lên là thống trị các thiên thần [được hiện hiện do] một người nào đó [thay v́] thực sự xuất hiện (tái sanh) trong những thân thể thần tiên, như được gọi là thiên đường (dibba) bởi v́ t́nh trạng lạc thú (divi) của chúng. 43. Tất cả điều đó đều đạt được nhờ vào công đức phước nghiệp mà ra. (Sabbam etena labbhati): điều ngài chỉ ra cho thấy chính là điều đă được khẳng định ở trên “Bất kỳ điều ǵ người đó ước ao có được, toàn bộ đều đạt được tất cả nhờ vào công đức phước nghiệp mà ra.(đoạn kệ 10) [228] về điểm này đây là lần thứ hai từ “bất kỳ điều ǵ” (toàn bộ những ǵ) được khẳng định lại một lần nữa ở một giới hạn nhất định như là ‘ngôi đế vương một cơi’. v.v... đó là điều ta nên hiểu ư nghĩa đoạn “có được nhờ công đức phước nghiệp’ mà ra. [Đoạn kệ 13] 44. Sau khi đă chứng tỏ cho thấy trong đoạn kệ trên tính tuyệt vời nơi vương quốc thiên quốc và trần gian này đều chỉ đạt đến được nhờ phước nghiệp công đức mà ra, đến đây ngài thốt lên một đoạn kệ sau:
Mānusikā ca sampatti [devaloke ca yā rati]
‘Vẻ tối thắng của người Điều này chứng tỏ tịch diệt tối thắng được tŕnh bày trước tối thắng dưới h́nh thức trộn lẫn như đă được đề cậ | |