NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                     Bản Pāli ngữ:  Bhadantācariya Buddhaghosa
                              Bản Anh ngữ: Ñānamoli
                                                  Bản Việt ngữ: Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VII

KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG
(Tirokuḍḍasuttam)

 

1. Giờ đến lượt chúng ta chú giải, Kinh Ngoài Bức Tường [được sắp xếp tiếp ngay sau Kinh Châu Báu trong tác phẩm Tiểu tụng], Kinh được bắt đầu như sau ‘Họ đang đứng chờ ở bên ngoài bức tường’. Chúng ta sẽ bắt đầu chú giải về ý nghĩa sau khi đã khẳng định được mục đích kinh này được gộp trong tác phẩm Tiểu tụng.

2. Ở đây, cho dù Kinh Ngoài Bức Tường không được sắp xếp theo thứ tự như vậy khi Đức Phật thuyết giảng kinh này, tuy nhiên mục tiêu ta gộp kinh này trong Tiểu tụng ở đây tiếp liền ngay sau Kinh Châu Báu có thể được hiểu như sau. Hoặc giả kinh được đưa ra nhằm mục đích chứng tỏ: cho dù kẻ nào tỏ ra biếng nhác trong việc tu luyện nhiều hành vi thích hợp đa dạng như đã khẳng định trong bài kinh ở trên, người đó vẫn có thể tái sanh nơi cư trú [được coi như] khá hơn, tái sanh trong địa ngục, tái sanh trong súc sanh. Tuy vậy người đó vẫn có thể phải tái sanh nơi các cõi ngạ quỷ đó, và kết cục không ai nên sao nhãng trong trường hợp như vậy; hoặc giả kinh được thốt ra nhằm chứng tỏ rằng do một số chúng sanh xấu xa mà thành Vesali phải chịu đại dịch hoành hành, và để làm giảm bớt đại dịch này Đức Phật đã giảng Kinh Châu Báu, và Kinh Ngoài Bức Tường cũng nhằm mục đích đó. Chính vì thế có kệ rằng:

Ta cần biết mục đích kinh này
Được công bố do ai, ở đâu, khi nào, và tại sao
Ngài làm tốt việc chú giải
Nhằm đúng lúc công bố cho chúng sanh
Chính vì thế với tư cách là người chú giải
Ta sẽ chu tất công việc theo cách đó.

3. Ai đã công bố kinh này? Tại đâu? Khi nào? Và vì lý do gì? Ta có thể khẳng định ngay Kinh do chính Đức Phật công bố. Và kinh được công bố tại Rājagaha [202] vào ngày hôm sau khi ngài vừa đặt chân đến thành phố đó, mục đích ngài công bố Kinh này là vì ngài muốn chúc lành cho nhà vua nước Magadha.

4. Cách đây chín mươi hai đại kiếp qua có một thành phố tên là Kāsi. Tại thành phố này có một vị vua tên là Jayasena và hoàng hậu tên là Sirimā. Có một vị Bồ Tát tên là Phussa được thọ thai trong lòng mẹ. Cuối cùng sau khi vị bồ tát này khám phá thấy mình đã hoàn toàn đạt được giác ngộ, [54] nhà vua Jayasena liền nảy ra ý nghĩ ‘Con trai tôi (hoàng tử) đã thực hiện đại Xuất Gia và trở thành một vị Toàn Giác Ngộ. Đức Phật là của ta, Giáo pháp là của ta, Tăng già là của ta. Chính nhà vua đã phục vụ ngài, và không để cho ai có cơ hội làm công việc này. Ba người em cùng cha khác mẹ với Đức Phật có suy nghĩ ‘Các vị toàn giác xuất hiện để đem lại phước lành cho toàn thế gian, chứ không chỉ cho một người nào đó mà thôi. Và cha chúng ta sẽ không để cho ai có cơ hội để phục vụ các ngài. Làm sao chúng ta có thể xoay sở để phục vụ Đức Phật đây?’ Rồi họ dự tính ‘ liệu xem chúng ta có thể tìm ra được một phương án nào không? Chính vì thế ba hoàng tử đã làm như thể ngoài biên giới đang nổi loạn. Khi nhà vua nghe biết chuyện ngài biên cương có chiều hướng nổi loạn, ngài liền sai ba hoàng tử của ngài ra vùng biên giới để bình định. Khi đã thực hiện bình định được loạn lạc ngoài biên giới. Họ quay trở về đức vua rất hài lòng và thưởng cho họ một ân huệ nói rằng: “Mọi điều các con muốn các con cứ lấy.’ Họ liền nói: ‘Chúng con muốn cung phụng Đức Phật.’- nhà vua phán: ‘Hãy chọn bất kỳ điều gì ngoài điều đó’. – họ nhấn mạnh thêm: ‘Chúng con không muốn làm điều gì khác’. – nhà vua đồng ý: ‘Được rồi lấy đi, nhưng hãy đưa ra một giới hạn.’ Họ yêu cầu được phục vụ Đức Phật trong bảy năm. Nhưng nhà vua không cho phép. Rồi họ yêu cầu tiếp xin được phục vụ Đức Phật trong sáu, năm, bốn, ba, hai, một năm, bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng... cho đến khi họ tụt xuống chỉ còn có ba tháng thì nhà vua đồng ý, nói rằng: ‘Các con có thể lấy điều đó.’ và nhà vua cho phép họ thực hiện ý định đó.

5. Khi đã nhận được ân huệ, họ rất mãn nguyện. Họ đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, họ nói: Bạch đức Thế Tôn, chúng con muốn phục vụ Thế Tôn, bạch đức Thế tôn, cầu xin Thế tôn chấp nhận lời thỉnh cầu này để cho ba tháng An cư mùa mưa với chúng con.

6. Thế rồi ba vị Hoàng Tử viết thư cho một người là trợ lý trong nước của họ, [203] nói rằng, ‘Chúng tôi sẽ có hân hạnh được hầu hạ Đức Phật trong vòng ba tháng. Xin hãy xây dựng một chỗ ở và sửa soạn tất cả mọi điều cần thiết để chúng ta phục vụ Đức Phật cho tốt.’ Khi người trợ lý đã hoàn tất công việc sửa soạn, người đó thông báo cho ba vị hoàng tử. Thế là sau khi đã mặc y Cà sa mầu vàng, cùng với hai ngàn năm trăm người tùy tùng, họ đã dẫn Đức Phật về vương quốc của họ, chăm sóc ngài rất cẩn thận, rồi họ cúng duờng cho Đức Phật một nơi cư trú và để cho Đức Phật cư ngụ trong đó. Người chủ kho bạc, là con trai của một gia nhân, đã có gia đình, rất trung tín và tin tưởng. Ông ta lãnh trách nhiệm chăm sóc đến các nhu cầu vật chất và tổ chức bố thí cho Tăng Già mà Đức Phật đang lãnh đạo. Vị thừa tướng nhận được đầy đủ của cải vật chất kèm theo với mười một ngàn người đàn ông vùng nông thôn để lo toan cẩn thận công việc bố thí. Giờ đây một số người trong bọn họ đã gây mất thiện cảm nơi Đức Phật. Họ đã gây cản trở việc bố thí, chính họ đã ăn hết các thực phẩm, lẽ ra phải được bố thí, và đã nổi lửa đốt nhà ăn. Khi nghi lễ Tự tứ [55] (Pavāranā) kết thúc, các hoàng tử kính lễ Đức Phật, và rồi Đức Phật đi theo họ trở về gặp lại vua cha. Sau khi Đức Phật trở lại thì ngài nhập tịch diệt.

7. Nhà vua, các hoàng tử, người phụ tá quốc gia đến đúng thời gian tất cả cũng đều từ trần hết. Và rồi cùng với đoàn tuỳ tùng họ được đầu thai trên thiên đàng. Những kẻ nào với tấm lòng mất thiện cảm phải tái sanh nơi địa ngục. Và như vậy trải qua chín mươi hai đại kiếp, hai nhóm người này đã phải tái sanh lần lượt từ thiên đàng này tới thiên đàng kia và từ địa ngục này tới địa ngục khác.

8. Rồi tới kiếp này, dưới thời Đức Phật Kassapa, những kẻ có lòng bất hảo lại phải tái sanh nơi các quỷ đói. Hiện nay khi chúng sanh tổ chức bố thí cho chính những thân thuộc họ hàng quá cố của họ, họ đã hồi huớng như sau: ‘Hãy thực hiện điều này cho những người thân của chúng ta, và những người đó đã nhận được điều tuyệt hảo. [từ đó] Khi những quỷ đói thấy ra điều đó, chúng liền tiến tới Đức Phật Kassapa, và hỏi ngài ‘Kính Ngài, làm thế nào để cho chúng tôi cũng được hưởng những điều tuyệt diệu đó? Đức Phật trả lời, ‘các ngươi không thể nhận được điều đó ngay bây giờ.[104] Nhưng trong tương lai sẽ có một Đức Phật gọi là Đức Phật Cồ Đàm. Dưới thời Đức Phật đó sẽ có một đức vua tên là Bimbisara. Chín mươi hai đại kiếp vừa qua ngài đã là thân thuộc của các ngươi. Khi ngài tổ chức một cuộc bố thí cho Đức Phật, thì ngài sẽ hồi huớng cho các ngươi. Đến lúc đó các ngươi sẽ nhận được điều đó. Khi các quỷ sứ nghe được như vậy, hình như họ cảm thấy chắc họ sẽ nhận được điều đó vào ngày mai.’

9. Thế rồi khi khoảng cách của Đức Phật đã kết thúc. Đức Phật của chúng ta xuất hiện trên trần gian này, và rồi ba vị hoàng tử của nhà vua cùng với đoàn tuỳ tùng của họ gồm hai ngàn năm trăm người liền lăn ra chết khỏi cõi Chư thiên và đầu thai nơi một đẳng cấp bà la môn ở một bộ tộc tại vương quốc Magadha. Rồi đến đúng thời điểm họ từ bỏ cuộc sống gia đình cùng với các vị tiên tri họ xuất gia quy y và trở thành ba nhà ẩn sĩ có tóc bện lại với nhau tại Gayāsīsā (xin đọc Vin. i. 23) người quản lý đất nước trở thành nhà vua Bimbisārā, và người thủ quỹ trở thành một nhân viên ngân hàng rất vĩ đại Visākha có vợ tên là Dhammadinnā, là con gái của nhân viên kho bạc hoàng gia. (xin đọc MA. ii. 355) và chính vì thế toàn bộ những người còn lại trong số những người tùy tùng của họ đều tái sanh cùng với đoàn tuỳ tùng của nhà vua.

10. Khi Đức Phật của chúng ta đã giáng trần trên thế gian này, rồi sau bảy tuần [tiếp theo sau khi ngài đạt đến giác ngộ] đã trôi qua, cuối cùng ngài đã quay trở lại thành Ba La Nại (bārānasī), tại đó ngài đã chuyển pháp luân, và sau đó các tỳ khưu thuộc từng nhóm năm người, ngài đã rèn luyện giới luật cho ba vị ẩn sỉ tóc bện cùng với các môn đồ theo họ lên tới hai ngàn năm trăm người cả thẩy. Và sau đó ngài đã quay trở lại Rājagaha. Và tại đó ngài đã an trú nhà vua Binbisāra vào quả vị Nhập Lưu, là người đã đến thăm Đức Phật ngay ngày hôm đó. Cùng với nhà vua còn có mười một đám đông các chủ gia nhân thuộc đẳng cấp Bà La Môn Magadha. Rồi nhà vua còn thỉnh mời ngài đến dùng trai tăng với ngài vào ngày hôm sau. Và Đức Phật đã nhận lời. Vào ngày hôm sau ngài đã vào thành phố Rajagaha. Đi đầu là thiên Vương Sakka, là người đã chào đón ngài với đoạn kệ bắt đầu như sau:

Đến Rājagaha Ngài đã chế ngự và giải thoát
Cùng với ngài theo sau ba vị ẩn sĩ tóc búi.
Cũng được chế ngự và giải thoát,
Đức Phật rực sáng tựa châu báu vàng ngọc
Ngay đúng lúc, ngài ngự giá Rajagaha’ (Vin. i. 38)

Và ngay trong dinh thự của nhà vua Đức Phật đã tiếp nhận một buổi lễ bố thí thật long trọng.

11. Các Ngạ quỷ cũng đã tiến lại gần và chờ đợi với hy vọng. ‘Giờ đây [205] chắc hẳn nhà vua sẽ hồi huớng cho chúng ta của bố thí; giờ đây chắc là ngài sẽ thực hiện điều đó.’ Nhưng nhà vua chỉ nghĩ đến nơi trú ngụ cho Đức Phật mà rằng, ‘ Đức Phật phải cư ngụ ở đâu bây giờ?’ và nhà vua chẳng thực hiện hồi hướng cho bất kỳ ai hết. Các Ngạ quỷ, thấy rằng hy vọng của mình tiêu tan hết, đã tạo ra một tiếng kêu khủng khiếp trong đêm vắng quanh hoàng cung . Đức vua đã bị lúng túng do tiếng kêu khẩn thiết và sợ hãi, và vừa tảng sáng, ngài đã thỉnh Đức Phật tới nói rằng, ‘ Thưa Đức Thế Tôn, trẫm đã nghe thấy một tiếng động khủng khiếp như thế trong đêm. Có điều gì xẩy đến cho trẫm như vậy? Đức Phật nói với nhà vua, ‘thưa đại vương, đừng sợ hãi gì cả. Chẳng có gì làm hại được ngài đâu. Thực tế là những người bà con kiếp trước của nhà vua đã phải đầu thai thành ngạ quỷ và đã suốt nhiều Phật Kỷ chưa xuất hiện, họ vẫn chờ đợi ngài tổ chức bố thí cho Đức Phật, đồng thời cũng bố thí cả cho họ nữa. Ngày hôm qua ngài đã không thực hiện điều đó và chính vì thế họ phải tuyệt vọng và họ đã tạo ra tiếng kêu khủng khiếp đó’ nhà vua liền hỏi; ‘Thưa đức Thế Tôn, liệu họ có nhận được điều gì không, nếu như một cuộc hồi huớng được tổ chức ngay bây giờ? ‘Có chứ thưa đại vương.’ – ‘Thế rồi, thưa Đức Thế Tôn, xin Ngài chấp nhận lời mời của trẫm trong ngày hôm nay.’ Đức Phật đã nhận lời.

12. Nhà vua trở lại hoàng cung. Khi ngài đã sửa soạn xong một cuộc bố thí to lớn. Ngài đã công bố thời gian tiến hành. Đức Phật đã đến cùng với đoàn Tăng Già các tỳ khưu. Đến hoàng cung và ngài ngồi trên ghế đã sửa soạn cho ngài, cùng với đoàn Tăng Già tỳ khưu. Các Ngạ quỷ cũng tới và đứng bên ngoài bức tường.v.v... nghĩ rằng chắc hẳn hôm nay ‘chúng ta sẽ được nhận của bố thí.’ Đức Phật đã biến họ trở thành hiện hình để cho nhà vua trông thấy. Đang khi dâng cúng nước, nhà vua đã dâng lời cầu như sau, ‘Cầu mong nước này dành cho các họ hàng thân thuộc của trẫm.’ Và ngay lúc đó một chiếc hồ đầy hoa sen đã xuất hiện dành cho các vị Ngạ quỷ đó, họ đã tắm trong đó, uống nước cho đến khi mọi điều phiền muộn, mỏi mệt và khát nước đều được lắng xuống. Tất cả các Ngạ quỷ đều có một mầu da vàng óng. Khi nhà vua bố thí cháo, những thứ có thể ăn được, nhà vua cũng dâng cả cho họ nữa và ngay lúc đó cháo từ trời xuống, những đồ ăn thức uống, và những thứ có thể ăn được cũng được phân phát cho họ nữa và sau khi họ đã dùng những thứ đó thì ngũ căn của họ được tỉnh táo. Rồi đến khi nhà vua bố thí quần áo và nơi cư ngụ, thì nhà vua cũng phân phát cho họ nữa, [206] thế rồi quần áo từ trời, giầy dép [56] từ trời, và lâu đài từ trời cùng với rất nhiều trang trí bên trong nhà rất đa dạng như thảm, giường, chiếu, bàn ghế, v.v....cũng được tạo ra cho họ. Điều tuyệt vời này mọi người đều được chứng kiến như thể Đức Phật đã quyết định và nhà vua thì vô cùng hài lòng.

13. Ngay sau đó, khi Đức Phật đã thọ thực, và tỏ cho thấy ngài đã no bụng, ngài đã thốt lên bài kệ: ‘Bên ngoài bức tường họ đang đứng đợi. Nhằm mục đích đem lại phúc lành cho nhà vua Magagha. Và đến điểm này điều gì được đề cập ngắn gọn trong bản Chương trình, cụ thể là điều đã được giải thích chi tiết. ‘Về bài thuyết pháp này[chúng ta cần hỏi’’ ai là người đã nói ra, ở đâu, khi nào và tại sao. Bài chú giải do ngài thực hiện rất tốt và đến đúng thời điểm đã được công bố cho tất cả mọi người đựơc nghe.’ Đến đây chúng ta sẽ chú giải đến Kinh ngoài bức tường theo thứ tự nhất định như sau:

[Đoạn kệ 1]

14. Trong đoạn kệ thứ nhất (xem dưới đây) là phía sau bức tường được gọi là Bên Ngoài Bức Tường (tirokuḍḍā). Họ đứng [và chờ đợi] (titthanti): câu này khẳng định họ đứng và từ chối khẳng định họ không ngồi, v.v...Giờ đây như thể họ nói tới một ai đó ở bên ngoài hàng rào bao quanh và ở phía bên kia ngọn núi mà người đó có thể đi ngang mà không gặp ngăn cản gì, qua nơi có hàng rào bao quanh (tiropākāram) qua phía bên kia ngọn núi (tiropabbatam)’ (D. i. 78) cũng như vậy ở đây ngài nói đến những người đang đứng ở phía bên kia bức tường. Bên ngoài bức tường họ đang đứng chờ (tirokuḍḍesu tiṭṭhanti).

15. Và tại các giao lộ và các ngã ba đường (sandhisinghātakesu): ở đây có thể là các ngã tư các giao lộ các xa lộ, và cũng là chỗ các căn nhà tiếp giáp nhau và có các bức tường tiếp giáp nhau và có cả ánh sáng giao nhau, chúng ta đều có thể gọi là những ‘chỗ giao nhau’ (Sandhi) cũng có thể là các ngã ba giao lộ, ta gọi là ‘ngã ba đường’(singhātaka). Phối hợp tất cả các từ này lại với nhau thành một từ phức tạp ta có thể gọi là và tại các giao lộ và các ngã ba đường.

16. Họ đứng phía bên ngoài “thanh khung” cổng thành (dvārabāhāsu tiṭṭhanti): họ đứng bên gần các thanh song cổng thành và thanh song cửa nhà. Quay trở lại mái nhà xưa (āgantevāna sakam gharam): Ở đây ‘căn nhà xưa’ có nghĩa là cả căn nhà xưa của người thân và căn nhà xưa của chính họ nữa. Trong quá khứ họ đã sống trong đó hay làm chủ căn nhà đó. Họ đến nhìn ngắm cả căn nhà của chính họ và chính vì thế mà ta nói ‘quay trở lại nhà xưa của họ.’

17. [Chính vì thế Đức Phật đã chỉ cho nhà vua thấy] rất nhiều Ngạ quỷ với thân hình hết sức ghê tởm, dị dạng và dễ sợ, đã tiến lại gần hoàng cung của nhà vua Bimbisara coi đó như là nhà riêng của họ vì đó là nhà riêng của những người họ hàng ruột thịt của họ. Và cho dù họ đã không ở trong đó trước kia và đang đứng bên ngoài bức tường, ngay các giao lộ và các ngã ba đường. Và bên ngoài chấn song cổng thành và chấn song cửa nhà. Sự tồn tại của họ lại đồng hiện hữu với thành quả do đố kỵ và keo kiệt [57] mà ra. Có một số Ngạ quỷ râu tóc rối bời [58][207] da mặt ngăm đen, chân tay khẳng khưu gầy còm đen đủi đung đưa, giống như thốt nốt cháy xém đây kia trong những trận cháy rừng; một số Ngạ quỷ có thân hình bị ngọn lửa thiêu rụi bên trong như thể dâng trào ra từ dạ dầy [59] đói khát ợ ra khỏi miệng. Một số Ngạ quỷ do thực quản chỉ bằng đầu chiếc kim mà một dạ cỏ to như chiếc núi không thể nuốt hết đồ ăn thức uống theo như ước muốn ngay cả khi có được thứ đồ ăn thức uống đó. Chính vì thế lại có thứ gia vị chết đói [60] và khô khan không thể thoả mãn được các hương vị khác. Lại có các Ngạ quỷ khác khi tìm thấy bất kỳ loại gì có máu hay vật chất dầu mỡ nơi các khúc nối phun ra nơi các lỗ miệng sôi sục lên hay các ung nhọt hay của các chúng sanh khác, nuốt tươi như thể đó là thức ăn của thần linh. Chính vì thế ngài đã xuất khẩu thành kệ như sau:

tirokuddesu tiṭṭhanti sandhisanghātakesu ca
dvārabāhāsu tiṭṭhanti āgantvāna sakam gharam

‘Ở bên ngoài bức tường
Bọn họ đứng chờ đợi
Giao lộ ngã ba đường
Trở về mái nhà xưa
Đợi chờ bên cạnh cổng .

Và rồi khi ngài đã thốt ra những lời này, cho thấy các Ngạ quỷ đang lang thang bên ngoài bức tường. Sau đó ngài lại thốt ra bài kệ thứ hai. ‘Nhưng khi một lễ hội phong phú được dọn ra cho thấy [kết quả của hành vi] họ đã làm thật dữ tợn đến chừng nào.

[Đoạn kệ 2]

18. Ở đây, giầu có, phong phú (pahute) [có nghĩa là] không ít, dồi dào (bahumbi); nhiều quá mức cần thiết, là điều muốn nói ở đây. Ta có thể thay thế mẫu tự pa với mẫu tự ba [như vậy biến đổi từ chữ bahu thành pahu] như trong đoạn sau đây ‘Pahu santo na bharati’ (‘kẻ nào có quá dồi dào cũng có thể) không hỗ trợ cho [người mẹ] được. . .: (Sn. 98). Một số người lại đọc là pahūte (‘dồi dào’) và pahutam (‘giầu có’ là phó từ); nhưng đây chỉ là những người đọc không cẩn thận. Với đồ ăn thức uống: ānnpānamhi=anne ca pānamhi (thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép).Feast: khajjabhojje (nghĩa đen là ‘Nhai được và ăn được’) = khajje ca bhojje ca (thay thế hai âm ngắn thành một từ ghép); nhờ đó. [cụ thể là anna và pāna và khajja và bhojje (= Khādanīya và bhojanīya),] ngài đã chứng tỏ cho thấy bốn loại dinh dưỡng gồm trong những gì được ăn vào (asita), uống được (pīta), nhai được (khāyita)và ăn uống chút ít một (sāyita). Lên đường (upatitthite): đứng yên, tiến lại gần (apagamma thite); có nghĩa là: sẵn sàng, được sửa soạn và kết hợp lại.

19. Sự thật là không có người nào nhớ lại chúng sanh này cả (na tesam sarati sattānam): khi những chúng sanh này xuất hiện nơi cõi Ngạ quỷ thì chẳng có cha mẹ và anh em nào tưởng nhớ đến họ cả. Vì lý do gì vậy? Điều này xuất phát từ những hành vi nghiệp duyên của họ trong quá khứ (kammapaccayā): có một điều kiện cần thiết là các hành vi đáng thương được sắp xếp như không thực hiện bố thí, ngăn cản việc bố thí, v.v...; [208] vì những hành vi đó đều không cho phép các bà con thân thiết tưởng nhớ đến họ.

20. Chính vì thế Đức Phật nói:

Pahute annapānamhi khajjabhojje upatthite
Na tesam koci sarāti sattānam kammapaccayā.

‘Nhưng khi tiệc thịnh soạn
Được bày biện sẵn sàng
Đủ mọi thứ uống ăn
Không một ai nhớ họ
Sự kiện này phát sanh
Từ nghiệp xưa của họ.

Và khi ngài đã phán như vậy, cho thấy mặc dù không phải đồ ăn thức uống, v.v... được dọn ra quá ít và các Ngạ quỷ đang đi lảng vảng khắp nơi hy vọng: ‘Có lẽ sẽ có chút ít gì đó được dành cho chúng ta.’ Sự thật là chẳng có người bà con họ hàng nào tưởng nhớ đến họ do những hành vi quá khứ các Ngạ quỷ thực hiện đã đem lại kết quả không mấy thú vị. Ngài lại thốt ra đoạn kệ thứ ba cụ thể như sau, ‘ Chính vì thế kẻ nào có lòng nhân hậu muốn hồi huớng cho anh em họ hàng’, một lần nữa ngài yêu cầu nhà vua phải tổ chức dâng cúng bố thí cho những thành phần họ hàng đã quá cố hiện đang xuất hiện ở Cõi Ngạ quỷ.

[Đoạn Kệ 3]

21. Ở đây, chính vì thế (evam) là một từ so sánh. Điều có thể giải thích bằng hai cách: hoặc là ‘Ngay cả khi không còn tưởng nhớ đến những chúng sanh đó là do hậu quả những hành vi quá khứ của họ, những người này chúng ta đã bố thí đôi chút, bất luận là gì, cho những người thân của mình, họ là những người có lòng từ tâm (evam)’ hoặc là ‘ những kẻ nào bố thí cho những người thân những đồ ăn thức uống thanh tịnh, tốt lành và thích hợp vào điểm này. Thế nên (evam) hỡi đại vương, như vậy là ngài đã có lòng từ tâm. Bằng những hành vi ngài đã thực hiện.’ Hãy bố thí: dadanti=denti (một kiểu ngữ pháp khác) thực hiện việc dâng cúng, ký gửi cho. Dành cho những người thân (họ hàng) (ñātīnam): dành cho những ai có liên quan về phía cha hoặc mẹ. những kẻ nào (ye): Bất luận con trai con gái hoặc anh em ruột thịt. Thì: honti=bhavanti (một hình thức ngữ pháp khác). Từ bi (anukampakā):thương người, tìm kiếm hạnh phúc (cho người khác).Thanh tịnh (sucim): không tì vết, dễ coi, khoái trí. Thích hợp với pháp, có được khớp với pháp. Và tốt lành (panītam - ng.đen. ‘thượng hạng’): thượng hạng, tốt nhất. Vào lúc này (kālena): vào thời điểm các ngạ quỷ là họ hàng thân quen đã đến và đang đứng bên ngoài bức tường v.v...Và thích hợp (kappiyam): thích hợp, xứng đáng, thích hợp cho các vị thánh nhân’ sử dụng. Đồ ăn và thức uống (pānabhojanam=pānnañ ca bhojanañ (thay thế hai âm ngắn thành từ ghép); ở đây là bất kỳ của bố thí nào được dâng cúng dưới dạng đồ ăn thức uống.’

22. Vì thế, sau khi đã chú giải việc bố thí đồ ăn thức uống do nhà vua Magadhan thực hiện cho các ngạ quỷ (ngạ quỷ) là những thân nhân của người còn sống, Đức Phật đã thốt lên đoạn kệ sau:

Evam dadanti ñātīnam ye honti anukampakā
Sucim panītam kālena kappiyam pānabhojanam:

‘Vậy ai có từ tâm
Nhớ cho các thân nhân
Thức uống ăn thanh tịnh
Tốt đẹp và đúng thời.’

Và khi ngài đã phán điều này, ngài liền xuất khẩu thành kệ, một nửa đoạn kệ thứ 4, cụ thể như sau, ‘Cầu mong những điều này dành cho người thân cả’ cho thấy cách thức chúng ta phải thực hiện hồi huớng làm sao.

[Nửa Đầu Đoạn kệ thứ 4]

23. Đây là điều nên được phân tích với nửa đầu đoạn kệ thứ ba như sau: ‘Chính vì thế những ai có lòng từ bi mà hồi huớng cho bà con thân thuộc quá cố [209] [nói rằng] ‘giờ đây Cầu mong ta dành những thứ này cho bà con thân thuộc quá cố của ta: Cầu mong họ được hạnh phúc’’ kết quả đây có thể chỉ định cách thức hồi hướng mang lại hiệu quả ngay tại chỗ bằng từ ‘vì thế’ (evam), hiểu theo nghĩa sau: ‘Họ thực hiện hồi huớng như vậy(evam) “Cầu mong điều này đem lại cho bà con họ hàng (quá cố)” và không có cách nào khác.

24. Ở đây, điều này (idam) ám chỉ đồ ta dùng để bố thí. Vo (không dịch) chỉ là một tiểu từ. Như trong các đoạn sau ‘kacci pana vo Anurudhā samaggā sammodamānā’ [61](Hỡi Anurudha, ta hy vọng các ngươi sẽ sống hòa thuận và đồng ý với nhau.’: M. i. 206) ‘Ye hi vo ariyā’ (‘như thể một trong số các vị thánh nhân.’): M. i. 17); đây không phải là sở hữu đại từ. Hãy . . .dành cho thân nhân quá cố (ñātīnam hotu: Hãy thực hiện điều này dành cho người thân của ta đang xuất hiện ở Cõi Ngạ quỷ. Cầu mong những người thân của ta được hạnh phúc. (sukhitā hontu ñātayo): Cầu mong những người thân của ta đang bị giam cầm nơi cõi ngạ quỷ được hạnh phúc, một khi họ cùng chung sống với nhau tại cõi đó.

25. Chính vì thế Đức Phật đã nói:

Idam vo ñatīnam hotu. Sukhitā hontu ñātayo.

‘Hồi hướng phước báu này cho thân nhân quá cố của chúng tôi. Cầu mong cho họ hằng được hạnh phúc.’

Và sau khi ngài nói như vậy, cho thấy ta nên thực hiện hồi huớng cho người thân quá cố đang bị giam cầm nơi cõi ngạ quỷ bằng cách nào. Rồi ngài thốt lên nửa thứ hai đoạn kệ thứ tư như sau: ‘Những ngạ quỷ người thân quá cố đã tụ họp và tập hợp lại tại đó’ và nửa đầu của đoạn kệ thứ năm như sau ,‘Hăm hở mong muốn. . .có được đồ ăn thức uống dồi dào’ , chứng tỏ rằng, cho dù đã có người nói, ‘ thế thì điều này dành cho những người thân quen quá cố của ta.’ Tuy nhiên không phải bất kỳ hành vi nào do ai đó thực hiện đều mang lại kết quả cho người khác, [chẳng bao giờ được như vậy] nhưng chỉ đơn giản là một đối tượng được bố thí cách đó là điều cần thiết cho chính người họ hàng thân thuộc của ta để thực hiện những hành vi thiện. Và ngài cũng chứng tỏ làm thế nào hành vi thiện như thế với đối tượng là như thế sẽ sản sanh ra chánh quả ngay trong thời gian đó. [62]

[Nửa cuối đoạn kệ thứ 4 & Nửa đầu đoạn kệ thứ 5]

26. Đây là ý nghĩa [của hai nửa đoạn kệ trên] những Ngạ quỷ là những người thân quá cố (te ñātipetā) đang xuất hiện ở đó (tattha) là nơi đang thực hiện cuộc bố thí. Đã qui tụ và tập họp lại (samāgantvā) bằng cách toàn bộ họ đã đến (samantato āgantvā) - ở đây ý nghĩa là, họ đã qui tụ lại, đoàn tụ lại – và tụ tập lại (samāgatā): ng.đen ‘đã tụ tập đông đủ’ ý nghĩa ở đây là, họ đã tới và qui tụ lại (samā āgatā)- [nghĩ rằng] ‘những bà con quá cố của ta được hồi huớng của bố thí nhằm đem lại lợi ích cho chính ta.’ [họ] muốn có [đồ ăn thức uống dồi dào (pahute annapānamhi). Vì những thứ đồ ăn thức uống dồi dào đó được bố thí cho chính mình. Sẽ đem lại phúc lành cho họ (sakkaccam anumodare), đầy lòng tin tưởng vào kết quả của hành vi đó và không từ bỏ lòng ngưỡng mộ. [Nghĩ rằng] với nhận thức tỉnh táo ‘Cầu mong của bố thí này đem lại lợi ích và hạnh phúc’ họ đã sung sướng (modanti) và tuỳ hỷ chúc lành (anumodanti: ng.đen ‘chia sẻ niềm hạnh phúc’ và được tràn đầy hạnh phúc và vui vẻ.

27. [210] Vì vậy Đức Phật đã nói;

Te ca tattha samāgantvā ñātipetā samāgatā
Pahute annapānamhi sakkaccam anumodare.\

‘Món này cho bà con
Mong bà con an lạc
Đám ngạ quỷ thân bằng
Đã tề tựu chỗ đó’

Và khi ngài nói điều này, cho thấy làm thế nào những hành vi thiện lại tạo ra kết quả ngay lúc này cho những người đang xuất hiện ở cõi ngạ quỷ. Rồi ngài thốt lên nửa thứ hai đoạn kệ thứ năm như sau, ‘Cầu mong người thân của ta được sống trường thọ và nửa đầu đoạn kệ thứ sáu như sau, ‘ Cầu mong ta nhận được kính lễ đối với những gì ta đã thực hiện’ cho thấy loại tạ ơn tuỳ hỷ do những bà con thân thuộc đó đã một lần hiện hữu với kết quả do hành vi có lợi đem lại.

[nửa thứ hai đoạn kệ 5 & nửa đầu đoạn kệ thứ 6]

28. Ý nghĩa ở đây là. Cầu mong. . .họ được sống trường thọ (ciram jīvantu): Cầu mong họ có được tuổi thọ sống lâu. Những người thân của ta (no ñāti): những mối tương quan của chúng ta.(ñātaka). Nhờ họ mà (yesam hetu): nhờ có họ. Vì lý do có người đó. chúng ta có những của cải này: labhāmase-labhāma (một hình thức ngữ pháp khác); họ đề cập đến việc công nhận tính tuyệt vời chính họ vừa nhận được ngay tại lúc này; vì có ba yếu tố như sau, nhờ chính lòng biết ơn của họ. Với sự hồi hướng của người thực hiện bố thí, và với đặc tính tuyệt hảo của người nhận. [cụ thể, Tăng già do Đức Phật trụ trì.], lễ vật này liên tiếp và tạo ra kết quả ngay lúc này, và cả ba yếu tố đó đều do người bố thí là nguyên nhân. Chính vì thế mà ngài nói ‘ Chính nhờ những người đó mà chúng ta nhận được của cải này’.

29. Chính nhờ vào hồng phúc chúng ta đã thực hiện (amhākañ ca katā pūjā): vinh dự chúng ta có được nhờ việc hồi huớng bố thí của ta. ‘Cầu mong những điều này đem lại lợi ích cho người thân của ta.’ Chẳng có người bố thí nào lại không nhận được kết quả (dāyakā ca anipphalā): người thực hiện bố thí chẳng bao giờ không nhận được kết quả’’ vì hành vi đó bao gồm cho đi kết quả có được lúc này lúc khác đang khi ta thực hiện hành vi bố thí đó.

30. Đến đây có người hỏi: thế thì, làm sao chỉ có những người thân phải tái sanh nơi cõi ngạ quỷ nhận được kết quả này mà thôi, liệu những người khác có nhận được chăng? Đây là điều chính Đức Phật đã trả lời. Khi Janussoni thuộc đẳng cấp Bà la môn đưa ra câu hỏi trên, thế thì chúng ta cần nói thêm gì về điểm này? Về điểm này ta có nghe nói như sau ‘ Sa môn Cồ Đàm, chúng ta, thuộc các Bà la môn, có thực hiện bố thí, và hồi huớng cho người chết như sau” Cầu mong điều này đem an vui cho những người họ hàng thân thuộc quá cố (peta); Cầu mong những người thân và bà con ruột thịt được hưởng phước của bố thí này đem lại’. Thưa ngài Cồ Đàm, liệu việc bố thí đó có đem lại lợi ích cho những người thân ruột thịt của ta chăng? Liệu những người thân thuộc họ hàng ruột thịt có được hưởng lợi nhờ vào những của bố thí chúng ta thực hiện chăng? – Bà la môn [của bố thí] chỉ đem lại lợi ích đúng nơi đúng chỗ và không đem lại lợi ích gì nếu không như vậy. - Nhưng thưa Ngài Cồ Đàm, đâu là nơi thích hợp đó? - Ở đây, này Bà la môn, kẻ nào phạm tội sát sanh, trộm cắp, có hành vi tà dâm, nói dối, nói lưỡng thiệt, nói lời thô bạo, và ỷ ngữ; tham ác, có ác tâm, và tà kiến. [211] vào lúc thân xác bị phân hủy sau khi chết, họ phải xuất hiện tại địa ngục. Ở đó họ phải sống sót và chịu đựng đủ thứ nhục hình mà các cư dân địa ngục phải chịu đựng. Đó là nơi không thích hợp, và việc bố thí chẳng đem lại lợi lộc gì cho họ tại nơi đó. Ở nơi đây, này Bà la môn, kẻ nào sát sanh. . .và có tà kiến. Vào lúc thân xác phải tan rã, sau khi chết. Kẻ này phải đầu thai vào bụng súc sanh. Tại nơi đó họ phải sống sót và chịu đựng đủ thứ nhục hình mà những kẻ phải đầu thai nơi bụng súc sanh phải chịu đựng. Đó cũng chẳng là nơi thích hợp, và việc bố thí chẳng đem lại lợi ích gì cho họ khi còn phải lưu lại ở nơi đó.Ở nơi đây, này Bà la môn, người ta kiêng cữ không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, kiêng không nói dối, không nói luỡng thiệt, không nói lời thô kệch, không đàm tiếu vô bổ, không tham ác, không có ác tâm, và có chánh kiến. Vào lúc thân xác phân hủy sau khi chết, họ xuất hiện nơi những chúng sanh trên đời này. Đó là nơi họ sinh sống, tại nơi đó họ được hưởng những thức ăn đồ uống mà chúng sanh thường sử dụng và được nhập vào đoàn thể các Chư thiên. Đó cũng chưa phải là nơi thích hợp và việc bố thí cũng chưa đem lại cho họ lợi ích gì, đang khi họ còn lưu lại ở đó. Tuy nhiên, ở đây nếu ta phạm tội sát sanh. ....có tà kiến. Vào lúc thân xác phân huỷ sau khi chết họ xuất hiện nơi cõi Ngạ quỷ. Họ sống sót ở cõi đó và chịu đựng đủ thứ cực hình là nơi cư dân cõi ngạ quỷ phải chịu đựng. Ơ đó họ sống còn là do những gì bạn bè, người thân và họ hàng ruột thịt hồi hướng cho họ đang khi phải hiện diện trong đó. Đây chính là nơi thích hợp, và của bố thí sẽ giúp đỡ họ khi lưu lại trong đó. - Nhưng thưa ngài Cồ Đàm, nếu như người thân quá cố của ta không xuất hiện nơi cõi đó, thì ai có thể được hưởng lại do việc bố thí của ta mang lại? Này Bà la môn, vẫn có những người bà con thân thuộc và bạn hữu của ta ở trong cõi đó. – họ sẽ là người hưởng nhờ việc bố thí của ta. Nhưng, thưa ngài Cồ Đàm, nếu như người thân của ta và bà con ruột thịt của ta lại không xuất hiện ở cõi đó và nếu như cả người thân ruột thịt của ta cũng không xuất hiện nơi cõi đó, thử hỏi ai sẽ hưởng nhờ của bố thí của ta? Điều đó không thể xẩy ra, này Bà la môn, là nơi đó lại không có bất kỳ người thân quen anh em ruột thịt bao giờ trong một thời gian dài [nơi các chu kỳ luân hồi] và hơn thế nữa, chẳng có việc bố thí nào lại không đem lại kết quả cho người thực hiện.

32. [212] Chính vì thế mà Đức Phật đã nói:

ciram jīvantu no ñātī yesam hetu labhāmase
Amhākañ ca katā pūjā dāyakā ca anipphalā.

“ Sẽ mong muốn tốt lành
Vì thực phẩm đầy đủ
Mong quyến thuộc sống lâu
Nhờ người ta hưởng lợi”.

Và khi ngài nói như vậy, chứng tỏ cho nhà vua Magadha biết những họ hàng thân thuộc của nhà vua đang trụ trì tại cõi Ngạ quỷ đã nhận được những điều tuyệt hảo do nhà vua hỗ trợ như sau, ‘Hỡi đại vương, các thân bằng quyến thuộc của ngài, rất mãn nguyện với những điều tốt lành do việc bố thí của ngài mang lại và đang khen ngợi ngài như thế.’ Thế rồi ngài thốt ra phần thứ hai trong đoạn kệ thứ sáu, như sau, ‘ Chẳng hề có cầy cấy tại đó, và đoạn kệ thứ bảy có viết, cũng chẳng có ai buôn bán ở nơi đó.’ Cho thấy những người cư trú tại cõi ngạ quỷ nhận được sự trợ giúp từ đây vì chẳng có nguồn cung cấp nào như cầy cấy, (làm ruộng) chăn nuôi, v.v... coi như là lý do họ nhận được điều tuyệt hảo đó.

[Nửa thứ hai đoạn kệ 6 & đoạn kệ 7]

32. Đây là phần chú giải về ý nghĩa đoạn kệ. Vì, Muôn tâu Đại Vương, tại đó (tattha) nơi cõi Ngạ quỷ chẳng hề bao giờ có (na hi atthi) bất kỳ công việc cày cấy (kasī), nhờ đó mà các ngạ quỷ có thể kiếm được điều tuyệt hảo. Cũng chẳng thấy có công việc chăn nuôi gia súc (gorakkh’ettha na vijjati): Không những chẳng có bất kỳ công việc đồng áng, nhưng cả chăn nuôi cũng chẳng hề tồn tại nơi cõi Ngạ quỷ. Nhờ vào đó mà họ có thể có được sự trợ giúp tuyệt hảo. Cũng chẳng có công việc buôn bán chợ búa nào cả (vānijjā tādisī natthi): cũng chẳng có buôn bán nhờ vào đó các ngạ quỷ có thể kiếm được những đồ trợ giúp cần thiết. Cũng chẳng có trao đổi vàng bạc (natthi hiraññena kayakkayam): chẳng có buôn bán trao đổi gì bằng tiền chẳng có bất kỳ điều gì đó giúp làm nguyên nhân chiếm được điều tuyệt hảo. Các ngạ quỷ người thân quá cố của ta sống tại đó nhờ vào hồi huớng của bố thí ta thực hiện trên trần gian này (ito dinnena yāpenti petā kālagatā tahim). Chỉ trông cậy vào những gì người thân và bạn bè và thân bằng quyến thuộc của họ trên trần gian này trợ giúp để họ có thể duy trì được sự sống liên tục. Các Ngạ quỷ (peta): là những chúng sanh đã xuất hiện và sống trên cõi ngạ quỷ. Đã qua đời (kālagatā): đã ra đi (gata) từ thời điểm (kala) họ đã vĩnh viễn ra đi; cũng có bản đọc là kālakatā, trong trường hợp đó ý nghĩa lại là: họ đã thực hiện (kata) thời điểm của họ (kāla), kết thúc bằng cái chết. Tại đó (tahim): ở cõi Ngạ quỷ đó.

33. Chính vì thế [Đức Phật] đã nói.

[Na hi tattha kasī atthi, gorakkh’ettha na vijjati.
Vānijjā tādisī, natthi hiraññena kayakkayam;
]
Ito dinnena yāpenti petā kālagatā tahim.

“Vì đã kính lễ ta
Thí chủ không thiếu quả
Tại đó không cấy cày
Cũng không nuôi súc vật.
Cũng không có buôn bán
Không trao đổi tiền vàng
Các ngạ quỷ họ hàng
Chỉ sống nhờ bố thí.

Và sau khi ngài đã phát biểu như trên. Ngài lại xuất khẩu thành hai đoạn kệ, cụ thể là, như nước trên đồi cao chảy xuống’ nhằm giải thích ý nghĩa với một dụ ngôn.

[Đoạn kệ 8 và đoạn kệ 9]

Đây là ý nghĩa hai câu kệ trên, Giống như (yathā) Khi trên đồi (unname) trên vùng đất khô cằn, trên miếng đất ở vùng cao, nước mưa tuôn chảy xuống (apavattati) tràn xuống thánh địa bình nguyên trống trơn; chính vì thế (evam eva) [213] việc thực hiện một cuộc bố thí (dinnam) từ nơi đây (ito) có thể giúp đỡ cho (upakappati) - (dinnam) từ nơi đây (ito) có thể giúp đỡ cho (upakappati) – Ý nghĩa ở đây là đem lại , thể hiện được. Cho – các ngạ quỷ là những người thân quen họ hàng của ta đã quá cố (petānam); vì cõi các ngạ quỷ giống như một vùng đất trũng để cho nước mưa chảy xuống. Và công việc bố thí cũng giống như giòng nước chảy xuống. Theo như lời người đã nói: ‘Đó là nơi, và có một cuộc bố thí được phục vụ đang khi Đức Phật lưu lại ở đó.’(§30) và chính vì (yathā), nhờ có ngã ba dòng thác, dòng suối, suối nhỏ và ngòi, đầm lầy, và ao hồ, sông cái, dòng sông (vārivahā), khi tất cả đều chứa đầy nước (pūrā) chúng có thể mang theo nước xuống đầy biển (sāgaram paripūrenti). Chính vì thế mà cuộc bố thí ở đây có thế phục vụ hồi hướng cho các ngạ quỷ là những người thân quá cố theo như cách đã được khẳng định ở trên.

35. Chính vì thế mà Đức Phật đã nói:

Unname udakam vaṭṭam yathā ninnam pavattati,
Evam eva ito dinnam petānam upakappati.
Yathā vārivahā pūrā paripūrenti sāgarām
Evam eva ito dinnam petānam upakappati

‘ Như nước đổ xuống đồi
Chảy xuống tận vực sâu
Bố thí tại chỗ này
Cung cấp loài ngạ quỷ.
Như lòng sông tràn đầy
Đưa nước đổ xuống biển
Bố thí tại chỗ này
Cung cấp loài ngạ quỷ.

Và khi ngài nói điều này và cũng giải thích ý nghĩa với những ẩn dụ đó. Rồi ngài xuất khẩu thành đoạn kệ thứ mười như sau, ngài đã ban cho tôi,’ chứng tỏ rằng một người bộ tộc nên tổ chức một cuộc bố thí để nhớ lại như ngài đã thực hiện như những ví dụ điển hình vì những ngạ quỷ không thể cầu xin ‘ban điều đó cho tôi’ ngay cả khi họ đã tới tận nhà người thân tuyệt vọng chờ đợi lâu để có thể lấy được gì ở đó.

[Đoạn kệ 10]

36. Đây là ý nghĩa của đoạn kệ. ‘Ngài ban (adāsi) cho tôi (me) số tiền này, hoặc số bắp này, và ngài đã làm tròn nhiệm vụ đối với tôi (me) bằng cách tự mình thực hiện điều đó. và ngài đã là người thân (nāti) của tôi, vì ngài có liên quan đến phía mẹ hay phía cha tôi. Hoặc có thể ngài là bạn bè của tôi (mittā) vì ngài có khả năng cho tôi một chỗ ở nhờ vào tình thương của ngài, hay ngài có thể là người thân tình (sakhā) của tôi vì ngài còn là người bạn nối khố trong cuộc sống kiếp trước]’ và vì thế, nhớ lại toàn bộ điều này theo cách này, Cầu mong ngài bố thí cho tôi. Rồi cho những người đã quá cố (petanām dakkhinam dajjā) [coi dakkinam là bổ ngữ có dajja chi phối dưới dạng một lối mong mỏi = dadeyya] Cầu mong ngài phân phối đồ bố thí. Một kiểu đọc khác chính là petānam dakkhinā dajjā (một của bố thí bắt gặp được dâng cúng cho người quá cố’ [dajja được coi như là danh động tự hợp với danh tự giống cái số ít. Dakkhinā); điều được diễn tả ở đây là dajjā=daditabbā [đây là một danh động từ] là gì vậy? đó chính là của bố thí (dakkhinā) dành cho kẻ quá cố, điều muốn diễn tả ở đây là: [điều này thì người hồi tưởng lại nên thực hiện. Nhớ lại điều gì họ thường làm (pubbe katam anussaram) theo cách được bắt đầu ‘ngài đã ban cho tôi’’ và rồi danh cách [quá khứ phân từ anussaram.] nên được hiểu có mục đích là ....

37. Chính vì thế Đức Phật đã nói:

Adāsi me, akāsi me, ñātimittā sakhā ca me
Petānam dakkhinam dajjā katam anussaram

‘Người ấy phải cho ta
Đã làm việc vì ta
Người ấy là quyến thuộc
Người ấy là thân bằng
Hãy bố thí ngạ quỷ
Nhớ việc xưa chúng làm.’

Khi người nói điều đó, chỉ cho thấy gương sáng nhớ lại việc thực hiện bố thí cho người quá cố. [214] rồi ngài thốt lên một đoạn kệ như sau, ‘ xin đừng khóc’ chứng tỏ rằng khi người ta khóc lóc và buồn tủi, v.v... áp đảo về cái chết của người thân mà không đem lại bất kỳ lợi lộc nào cho họ, thì nước mắt và buồn chán của họ chỉ là một thứ tự hành hạ thân xác không đem lại lợi lộc gì cho người quá cố cả.

[Đoạn kệ 11]

38. Ở đây, khóc lóc (runnam) chỉ là một hành động đổ lệ ra (rodana), hành động khóc lóc, (roditatta), hành vi đổ lệ: qua đó ta biểu lộ nỗi khổ thân. Buồn sầu (soka) là một hành vi tỏ vẻ buồn sầu (socanā), nỗi buồn khổ (socitatta); qua đó ta biểu lộ nỗi khổ tâm. Than khóc thương tiếc (parideanna) là tiếng than khóc của người nào đó bị mất mát của người thân ảnh hưởng, người này thường đề cao những phẩm chất đặc biệt bắt đầu với ‘Ơi con độc nhất của ta, con ở đâu bây giờ? (M. ii. 106) và “ôi người yêu của anh, người tình của ta!’ thông qua điều đó, người đó biểu lộ nỗi đau buồn bằng lời.

39. Chính vì thế Đức Phật đã nói:

Na hi runnam vā soko vā yā c’aññā paridevanā
Na tam petānam atthāya, evam titthanti ñātayo

‘Không khóc than, sầu muộn
Không thương tiếc cách gì
Giúp ích loài ngạ quỷ
Quyến thuộc làm như vậy
Không lợi cho ngạ quỷ.

Và khi ngài đã nói như vậy, chứng tỏ khóc lóc chẳng giúp được gì, v.v...và rằng khóc lóc, than thân buồn sầu hay bất luận cách thức than vãn nào, chẳng có gì có thể giúp ích cho người quá cố, nhưng người thân của họ Š[hành động như vậy] chỉ tỏ lưu lại tự hành hạ mình thuần tuý mà thôi. Rồi ngài lại thốt ra vần kệ cụ thể như sau, ‘ và một của bố thí như vậy’ cho thấy [thay vì] làm những điều đó giá trị của bố thí như vậy rất có giá trị như nhà vua Magaghan đã thực hiện.

[Đoạn kệ 12]

40. Đây là ý nghĩa của đoạn kệ. ‘nhưng khi của bố thí này (ayan ca kho dakkhinā), Vị Đại Vương, đã thực hiện (dinna), cũng như các bạn đã thực hiện nhằm hồi huớng cho người thân quá cố của chúng ta, lại được thực hiện tốt trong một Tăng Già (sanghamhi supatitthitā), dành cho họ, cho những ngạ quỷ đã qua đời, thế rồi, tăng già là một nơi phước điền không có nơi nào sánh kịp trên trần gian này,’ (M. i. 37) Tăng Già này có thể phục vụ cho họ lâu dài trong tương lai (dīgharattam hitāya upakappati) – đem lại nhiều thành quả, là điều muốn ám chỉ ở đây. - và phục vụ như vậy thì tăng già có thể phục vụ cho họ ngay tức khắc cũng như (thānaso) tăng già có thể phục vụ cho họ ngay tức khắc thay vì lâu dài sau này. Và như thể được đề cập đến ngài từ đó những pháp rất dễ hiểu ngay tức khắc. ‘ điều này cũng rất dễ hiểu đối với một vị toàn giác ngay lập tức (thānaso)(xin đọc S. i. 193), cũng vậy ở đây, đều phục vụ ngay lúc này được gọi là phục vụ ‘ngay lập tức’ (nghĩa đen. ngay tại chỗ) hay điều muốn nói ở đây là nó phục vụ ngay tại chỗ đó (thanā), được chia thành nơi những người đói khát, cho những người ăn cho đến nôn mửa ra, cho những người chỉ sống nhờ bố thí của người khác,và của người tiêu hao do tham ái, v.v... về điều này người ta nói rằng ‘đó là nơi (thanā)’ (§30) [trong trường hợp đó thì phó từ thānaso (‘tại nơi đó’) cũng được dùng theo cùng một cách đó ở ngoài đời.[bên ngoài giáo pháp]. Họ còn nói đến một của bố thí trị giá một đồng kahapana, có nghĩa là ‘người đó bố thí bằng đồng kahapana (kahāpanaso)’ [63] với cách giải thích này từ phục vụ lại hàm chứa ý nghĩa, ‘được thể hiện’ chính là tạo ra.’.

41.chính vì thế Đức Phật lại phán rằng:

Ayañ ca kho dakkhinā dinnā sanghamhi supatiṭṭhitā
Dīgharattam hitāy’assa thānaso upakappati.

‘Nhưng khi vật cúng dường
Khéo đặt vào chư tăng
Ích lợi chúng lâu dài
Bây giờ, về sau nữa.’

Và khi ngài đã trình bày điều này, vạch rõ ra giá trị của bố thí do nhà vua thực hiện, sau đó ngài lại thốt lên một đoạn kệ cuối cùng, khen ngợi nhà vua vì những phẩm chất đặc biệt chính công, có liên quan đến những lý do sau đây: khi người nào đó đã thực hiện bố thí như vậy, thì pháp về các người thân được tỏ ra cho người đó như thể thực hiện nhiệm vụ nên được thực hiện hồi huớng do người thân cho người thân. Chỉ bằng cách này mà thôi và không phải dùng cách tự hành hạ mình với việc khóc lóc vô bổ,v.v...’

[Đoạn kệ 13]

42. [Vì thế cho nên trong đoạn kệ cuối cùng này] có dòng chữ sau:

So ñātidhammo ca ayam nidassito
Pháp về người thân quá cố đã được làm rõ.

Đức Phật đã chỉ dạy (sandasseti) cho nhà vua với bài nói chuyện về pháp; vì ở đây chính điều minh chứng (nidassana) pháp về những người thân quá cố đã là một bài học (sandassana) quý giá. Rồi với dòng chữ thứ hai.

Petānam pūjā ca katā ulārā

Và vinh dự cao cả biết bao ta đã thực hiện cho người quá cố.

Ngài đã động viên nhà vua thực hiện (samādapeti); vì ở đây bản thân lời khen ngợi ‘cao cả’ đã là lời động viên khích lệ cho ta đảm trách (samādāpana) sự kính trọng đó luôn mãi. Rồi với dòng kế tiếp.

Balañ ca bhikkhūnam anuppadinam.

Và như thế các vị tỳ khưu cũng được tăng thêm sức mạnh.’

Ngài đã thức tỉnh nhà vua; vì ở đây chính việc đem lại sức mạnh đó là cách làm thức tỉnh (samuttejana) bằng cách tăng thêm hành động nhằm cung cấp sức mạnh thuộc loại này.  ‘và với dòng chữ.

Tumehi puññam pasutam anappakam

Và nhà ngươi sẽ tích lũy được công lao to lớn dường nào.

Ngài động viên (sampahamsati) nhà vua; vì ở đây tưởng nhớ đến những công lao nổi bật nên được hiểu như là niềm động viên (sampahamsana) vì nó tạo ra niềm cổ vũ [216] bằng cách nhấn mạnh đến những phẩm chất đặc biệt hiện đang có.

43. Và khi bài pháp kết thúc, thì có tới tám mươi tư ngàn người đã chứng đắc pháp nhờ vào những nỗ lực nghe giảng về tính chất khẩn trương diễn ra bằng cách nhấn mạnh đến nỗi hiểm nguy phải xuất hiện nơi cõi ngạ quỷ. Và ngày hôm sau Đức Phật đã thuyết pháp về Kinh Ngoài Bức Tường một lần nữa cho cả Chư thiên lẫn chúng sanh trong vòng bảy ngày thì số người chứng đắc pháp cũng tương đương như thế.

Việc chú giải về Kinh Bên Ngoài Bức Tường trong bài Minh họa ý nghĩa tuyệt đối. Bài chú giải về Tiểu tụng kết thúc tại đây ./.

 

-ooOoo-

 

[54] Trong danh sách 24 vị Phật ghi trong Buddhavamsa thì đức Phật Phussa là người thứ mười tám.

[55] Ngày Tự tứ, - ‘khi Nghi lễ Tự tứ kết thúc’: xin đọc Ch. IX n.1

[56] Vì từ yāna (nghĩa đen là ‘ra đi’ ‘chuyên chở’) được gọi là ‘giầy dép’ xin đọc MA iii 222. Ý nghĩa ngày không thấy có trong từ điển Pali Anh; tuy nhiên ý nghĩa của từ này là ‘chuyên chở’ ở đây, nhưng hình như không mấy thích hợp.

[57] Issāmacchariyaphalam anubhavante lại được dịch ở đây là ‘ sự hiện hữu của họ đã có cùng bản chấ